Tự sự học Pháp: Ngữ pháp "Chuyện mười ngày"

01/04/2013

Năm 1969, Tzvetan Todorov đã viết một cuốn sách mà khi nghiên cứu tự sự học, hầu như ai cũng phải nhắc đến, đó là cuốn Ngữ pháp “Truyện mười ngày"...

TỰ SỰ HỌC PHÁP: NGỮ PHÁP “TRUYỆN MƯỜI NGÀY”

PHONG TUYẾT(*)

 

 

Năm 1969, Tzvetan Todorov đã viết một cuốn sách mà khi nghiên cứu tự sự học, hầu như ai cũng phải nhắc đến, đó là cuốn Ngữ pháp “Truyện mười ngày”(1). Qua hơn một trăm truyện ngắn trong Truyện mười ngày(2), một kiệt tác của nhà văn thiên tài người Italia Boccacio, Todorov đã dùng phương pháp cấu trúc luận để phân tích ba vấn đề chính. Chúng tôi tóm lược lại những vấn đề đó theo từng trọng điểm.

Ngữ pháp “Truyện mười ngày”, ngoài bảng biểu tượng, được chia thành ba chương giải quyết một số vấn đề cơ bản khi phân tích ngữ pháp của một tác phẩm.

CHƯƠNG THỨ NHẤT là chương dẫn luận trong đó Todorov nói đến đối tượng của chuyên luận, đến tác phẩm Truyện mười ngày, đến ngữ pháp phổ quát và những khái niệm cơ bản, trong số đó, ngữ pháp phổ quát là khái niệm quan trọng nhất.

Đối tượng của chuyên luận này, như Todorov đã viết, chính là cuốn Truyện mười ngày: “Đối tượng này, chính là tác phẩm văn học; sự thống nhất của những nghiên cứu văn học được tạo ra cho dù phương pháp được sử dụng là bất kỳ phương pháp nào” (1, tr.9). Theo ông, tính thuần nhất của đối tượng không mang tính kinh nghiệm mà mang tính lý luận: “Tác phẩm văn học không tạo nên đối tượng của một khoa học; nó là đối tượng của tất cả các khoa học nhân văn, nhưng dưới những phương diện khác nhau. Và sự thống nhất của một khoa học có được là khởi nguồn từ một đối tượng mang tính lý thuyết, tức là từ phương pháp nghiên cứu của nó” (1, tr.9). Về lý do tại sao lại chọn Truyện mười ngày làm đối tượng khảo sát, Todorov giải thích: Trong Truyện mười ngày, “hành động và cốt truyện đóng vai trò nổi trội. Đồng thời, những tình tiết trong các truyện của nhà văn này tương đối đơn giản, hầu hết các truyện chỉ có vài trang, số nhân vật cũng chỉ là ba hay bốn, cốt truyện cũng chỉ là vài chuỗi nhỏ” (1, tr.11). Và chọn một tập truyện có sự thuần nhất, dễ có những kết luận tương đồng. Đa phần truyện trong Truyện mười ngày có những lợi thế để chọn chúng. Sự trở đi trở lại của những mối quan hệ cần thiết để đồng nhất cấu trúc của chúng và số lượng cũng như sự đa dạng của các truyện cho phép lẩy ra một số lớn những sự kiện. Còn với tiểu thuyết, cấu trúc của nó phức tạp hơn, chọn thể loại này sẽ khó khăn hơn nhiều.

Từ đó, Todorov xác định đối tượng nghiên cứu ở đây là trần thuật. Và cũng chỉ một phương diện của diễn ngôn văn học sẽ được mổ xẻ: diễn ngôn làm cho nó có khả năng gợi lên một thế giới diễn cảm. Ông viết: “Vậy đối tượng của chúng ta là thế giới được gợi ra bởi diễn ngôn, chứ không phải diễn ngôn trong tính văn học của nó” (1, tr.10).

Một đóng góp lớn của Todorov là ông đã đề xướng thuật ngữ narratologie (1, tr.10), một khoa học nghiên cứu tự sự học, khoa học của truyện kể, là lý thuyết về một môn khoa học cho đến lúc bấy giờ chưa hề có, một lý thuyết đúng nghĩa, chứ không phải chỉ là những kinh nghiệm. Từ đây, thuật ngữ này được sử dụng như thuật ngữ chính thức của bộ môn nghiên cứu này.

Todorov không thật sự tập trung vào ký hiệu học như lẽ ra phải thế mà như tiêu đề cuốn sách đã nêu rất rõ, vấn đề chính được đặt ra trong cuốn Ngữ pháp Truyện mười ngày chính là ngữ pháp. Gérard Genot(3), đã cho rằng kiến thức về ký hiệu học do Algirdas Julien Greimas đề xướng và những phân tích của ông về các mệnh đề chính sau được Julia Kristeva tiếp tục có thể được coi là những câu trả lời bổ sung cho Todorov. Sở dĩ Todorov lấy ngữ pháp làm đối tượng chính khi phân tích tác phẩm văn học và điều quan trọng nhất trong chương nhập đề này, được Todorov quan tâm nhất đến ngữ pháp phổ quát (grammaire universelle), một loại ngữ pháp có thể áp dụng cho bất cứ ngôn ngữ nào chứ không phải chỉ là thứ ngữ pháp mang những quy tắc riêng của mỗi ngôn ngữ. Điều này được ông làm rõ thêm trong Ngữ pháp của truyện kể(4). Để minh chứng cho sự tồn tại của ngữ pháp phổ quát, Todorov đã dẫn lời của Boas(5) trong Handbook: “Sự xuất hiện của những quan niệm ngữ pháp cơ bản nhất trong tất cả các ngôn ngữ phải được coi là bằng chứng về tính thống nhất của những tiến trình tâm lý cơ bản”, I. tr.71. Và ông lập luận rằng thực tế tâm lý này khẳng định sự tồn tại của một cấu trúc tương tự trong ngôn ngữ. Có áp dụng kiểu ngữ pháp phổ thông này, chúng ta mới có thể phân tích cấu trúc tác phẩm văn học trong nhiều thứ tiếng khác nhau. Và như vậy, đối với mọi ngôn ngữ, đối tượng của ngữ pháp đều giống nhau. Tuy nhiên, hoạt động của con người nhiều khi mang tính biểu tượng, mà ngữ pháp lại là một giả định, nên khi nghiên cứu, các kết quả khá là đa dạng, thậm chí có khi không tương thích.

Về những khái niệm cơ bản, Todorov phân biệt ba phương diện (aspects) rất tổng quát của truyện kể: đó là phương diện ngữ nghĩa (aspect sémantique) tức cái mà truyện kể trình bày và gợi ra, nội dung nó mang lại; phương diện cú pháp (aspect syntaxique) là sự kết hợp giữa các đơn vị (unités) với nhau và những mối liên hệ ngầm giữa chúng; còn phương diện lời (aspect verbal) là những câu cụ thể qua đó người ta tiếp nhận truyện kể (1, tr.18). Các aspects này sau được gọi là niveaux. Nhưng trong chuyên luận này, ông quan tâm nhiều đến phương diện cú pháp, lưu ý ít hơn đến phương diện ngữ nghĩa, còn phương diện lời thì ông loại ra. Bởi phương diện cú pháp chỉ ra sự kết hợp và mối quan hệ ngầm giữa các đơn vị, vì thế các mệnh đề thể hiện nhiều kiểu quan hệ, làm nảy sinh ba trật tự: trật tự logic, trật tự thời gian và trật tự không gian. Todorov xác định: “Quan hệ logic giữa hai mệnh đề trong Décaméron là quan hệ nguyên nhân với hệ quả (quan hệ kéo theo, được biểu thị bằng mũi tên kép =>); quan hệ thời gian là quan hệ nối tiếp đơn giản trong thời gian, nó được biểu thị bằng dấu +. Còn quan hệ không gian cơ bản là quan hệ song song với nhiều sự chia nhỏ. Nó không được biểu thị bằng ký hiệu nào vì chúng ta không quan tâm đến nó ở đây” (1, tr.19).

CHƯƠNG THỨ HAI nghiên cứu các mệnh đề trong đó Todorov lấy cú pháp làm trọng tâm nghiên cứu. Và cũng để làm nổi bật vấn đề này, ông cho rằng “sự phân bố không theo quy tắc của những đơn vị ngữ nghĩa so với những đơn vị cú pháp (luật của Propp) có nguy cơ gây nên những lẫn lộn” (1, tr.21). Nhiều đơn vị ngữ nghĩa có thể có cùng chức năng cú pháp, tuy không phổ biến. Còn cùng những đơn vị ngữ nghĩa có thể có những chức năng cú pháp khác nhau. Và để dẫn chứng sự khác nhau giữa hai đơn vị này, Todorov đưa ra tóm tắt của Boccaccio về chuyện Con cóc hay sự vô tội được minh oan muộn màng (IV,7): “Simone yêu Pasquin, cả hai đang ở trong một vườn hoa, Pasquin đưa một chiếc lá xôn lên miệng, anh ta chết. Simone bị bắt. Để chỉ ra cho quan tòa thấy Pasquin đã chết như thế nào, cô cũng đưa chiếc lá xôn lên miệng cắn, và cô cũng chết” (1, tr.22). Theo Todorov, trong chuyện này (về mặt cú pháp), tất cả các hành động đều được thực hiện bởi cùng một hành động, xét về mặt nghĩa: cái chết. Hành động xấu xa mà Simone bị kết tội oan là giết người. Sự trừng phạt cô cũng là tội chết. Cô chứng minh sự vô tội của mình cũng là cái chết. Vậy không thể coi cái chết là một đơn vị cú pháp.

Như vậy, không thể phủ nhận mối liên hệ cũng như sự khác nhau giữa cú pháp và ngữ nghĩa (sémantique). Nhưng thế thì nghĩa cú pháp (signification syntaxique) và nghĩa ngữ nghĩa (signification sémantique) khác nhau thế nào? Theo Todorov, vấn đề này dẫn tới sự tồn tại của hai kiểu nghĩa (types de signification): nghĩa cú pháp (hoặc ý nghĩa - sens) và nghĩa ngữ nghĩa (hay quy chiếu - référence): “Hai nghĩa này khác nhau về cơ bản: sự quy chiếu là một sự giải thích dài dòng của từ nhờ những từ khác và là một mối quan hệ thuộc hệ biến hóa trong khi ý nghĩa chỉ được định nghĩa qua những sự kết hợp trong đó đơn vị này có thể xâm nhập vào”…

Todorov nêu vấn đề trường ngữ nghĩa (Les champs sémantiques) trong Décaméron thành một tiểu mục riêng biệt và thấy rằng có sự gần gũi trong nghĩa của các đơn vị riêng biệt, tức là phát hiện ra sự rườm rà của một số phạm trù ngữ nghĩa. Ông viết: “Những vấn đề mà cách phân tích này đưa ra được môn phê bình chủ đề và môn ngôn ngữ biết đến khi họ nghiên cứu đến trường gọi là ngữ nghĩa hay trường đồng nghĩa. Và tùy vào chức năng cú pháp của đơn vị ngữ nghĩa, ông phân biệt ba trường hợp: quan hệ ngữ nghĩa giữa thuộc ngữ (attribut) và thuộc ngữ, giữa động từ và động từ, giữa thuộc ngữ và động từ. Theo ông, mối quan hệ thứ ba rất quan trọng đối với chuyện tâm lý vì các thuộc ngữ cung cấp lý do của các hành động. Trong Décaméron, các chuyện hầu như đều là chuyện tâm lý. Ông đưa ví dụ: X nóng nảy => X giết vợ hắn. Giữa hai vị ngữ rõ ràng có sự gần gũi. Và thuộc ngữ nóng nảy là lý do thúc đẩy hành động.

Sự gần gũi ngữ nghĩa giữa hai thuộc ngữ cũng khá phổ biến, đôi khi ở hai nhân vật khác nhau, đôi khi ngay trong một nhân vật. Nhưng giữa hai động từ thì sự gần gũi về ngữ nghĩa còn quan trọng hơn, nó ăn nhịp với vai trò cú pháp của động từ. Todorov đưa ra ví dụ về chuyện Sức mạnh của tình cảm (IV,8) làm ví dụ: Để ngăn cản tình yêu của Girolamo đối với Salvestra, mẹ chàng buộc chàng phải đi khỏi quê hương. Nhưng sau hai năm, khi trở về, chàng còn si tình hơn bao giờ hết, nhưng người yêu đã đi lấy chồng. Một đêm, Girolamo đột nhập vào phòng nàng và cầu xin tình yêu, nhưng Salvestra muốn giữ lòng thủy chung với chồng. Lúc đó, Girolamo nằm xuống cạnh nàng: chàng đột ngột quyết định chết. Không nói lời nào, chàng ngừng thở, hai tay nắm chặt, và trút hơi thở cuối cùng bên cạnh người đàn bà trẻ”. Salvestra đẩy chàng ra; nhưng khi nhìn thấy chàng nằm phơi mình trong nhà thờ, nàng cảm thấy có một tình yêu lớn với Girolamo. Niềm xúc động mạnh đến mức nàng chết trên xác chàng (1, tr.42). Todorov nhấn mạnh rằng qua nội dung ngữ nghĩa của các động từ, câu chuyện này làm nổi bật chủ đề khoảng cách: “Khoảng cách tối đa (đi du hành) không thể giết chết tình yêu; khoảng cách tối thiểu (trong giường của Salvestra) cũng không thể cho nó cuộc sống. Chỉ có cái chết, cái chết tạo ra không- khoảng cách, mới làm nảy sinh tình yêu; nhưng tình yêu lúc này có nghĩa là cái chết của Salvestra” (1, tr.43). Và Todorov cũng lưu ý rằng không chỉ có thể đặt cạnh nhau những phạm trù ngữ nghĩa trong một chuyện, mà có thể giữa hai chuyện.

Cũng trong chương II này, Todorov đưa ra hai khái niệm trong ngữ pháp: Những phạm trù bậc I (les catégories primaires) và những phạm trù bậc II (les catégories secondaires). Những phạm trù bậc I cho phép định nghĩa các từ loại (danh từ, động từ…) và những phạm trù bậc II là đặc tính của các từ loại trên (thời gian, thức, ngôi, số…)

Cụ thể hơn, theo Todorov, ngữ pháp trần thuật có ba phạm trù bậc I bao gồm tên riêng, tính từ và động từ. Chúng lại được phân thành hai nhóm: tên riêng đối lập với hai phạm trù còn lại. Todorov nhận xét rằng hầu hết các nhân vật trong Truyện mười ngày đều có một cái tên cụ thể. Về mặt cú pháp mà nói, danh từ riêng tương ứng với tác nhân (agent). Nhưng tác nhân lại có thể là chủ ngữ (sujet), cũng có thể là bổ ngữ (objet). Mà bổ ngữ thường không thuộc về vị ngữ. Danh từ riêng thực chất là người, nhưng ý nghĩa của người này lại quá chung chung, thậm chí là trống rỗng và cũng vì thế mà nó hoàn toàn đủ khả năng để giữ chức năng tác nhân nhưng nó không thể thiếu đặc tính, nên phải được các vị ngữ khác nhau bổ sung cho nó. Khi tác nhân rỗng đặc tính ngữ nghĩa, có thể có khả năng cùng một danh từ riêng đảm đương nhiều chức năng cú pháp. Todorov đưa ví dụ về trường hợp Anhdreuccio (II, 5) lúc đầu bị Sicilienne ăn cắp, nhưng sau đó hắn lại ăn cắp trong một ngôi mộ. “Vậy người ta không nói hắn vừa là anh hùng vừa là nạn nhân, hoặc là người gửi hay người nhận, v.v… nhưng hắn liên tục là tác nhân của một loạt vị ngữ, hợp với một loại hình học”. Từ hai khái niệm danh từ riêng và tác nhân trên, Todorov lồng chúng vào điều kiện: một danh từ riêng có thể biểu hiện nhiều tác nhân cùng một lúc, hoặc một tác nhân có thể được thể hiện bởi nhiều danh từ riêng cùng một lúc. Vậy là ở đây phải đặt vấn đề SỐ.

Tạm dừng vấn đề danh từ riêng, chúng tôi muốn nói đến vấn đề tính từ của Todorov. Ông viết: “Vị ngữ của một mệnh đề bao hàm tất cả thông tin về hành động hay tính chất của tác nhân. Vì thế tất cả từ loại chứa đựng một từ vị (lexème) đều gắn liền với vị ngữ” (1, tr.31). Tuy nhiên, trong số những thành tố như danh từ, tính từ, động từ và trạng từ, Todorov tiếp nối từ loại truyền thống, chỉ quan tâm tới hai phạm trù là tính từ và động từ. Cả hai đều có chức năng là vị ngữ, nhưng những mối quan hệ giữa các mệnh đề tạo cho chúng có những chức năng khác nhau: “Chức năng của tính từ là thuộc ngữ, và một mệnh đề thuộc ngữ có thể không để sát ngay trước một quan hệ nhân quả. Ngược lại, những mệnh đề động từ luôn gắn trực tiếp với quan hệ nhân quả, cho dù có thể là đa dạng. Và như người ta thấy, thuật ngữ ĐỘNG TỪ cũng chỉ ra một phạm trù ngữ nghĩa cũng như phạm trù cú pháp” (1, tr.31). Và Todorov chia tính từ thành ba nhóm: tính từ TRẠNG THÁI, tính từ ĐẶC TÍNH, và tính từ PHẬN VỊ.

Khác với tính từ luôn xuất hiện trong vai trò thuộc ngữ, ĐỘNG TỪ, ở cấp độ ngữ nghĩa, nó được phân bố thành ba động từ cú pháp, khác nhau về tính chất. Todorov chia các động từ thành ba loại: a, b,c. Động từ a có vai trò quan trọng nhất, nó có mặt trong tất cả các truyện, hiện diện mọi nơi. Ý nghĩa cú pháp của nó là làm thay đổi tình huống, hay nói chính xác hơn: “đó là một hành động có mục đích làm thay đổi tình huống” (1, tr.34). Todorov giải thích rằng trước và sau động từ bao giờ cũng có một tình huống, và động từ phải phân biệt hai tình huống đó.

Todorov cho rằng về mặt ngữ nghĩa, động từ a rất đa dạng và: “Nét đặc sắc của mỗi chuyện nằm ở sự phát hiện ra một cách thay đổi tình huống mới”. Rồi ông đưa ra 6 nội dung ngữ nghĩa cơ bản(6):

1. Ngụy trang hay giải ngụy trang (travestir ou détravestir). Hai động từ ngữ nghĩa này hình thành một kiểu trường hợp - giới hạn: người ta không thực sự thay đổi tình huống mà chỉ làm cho người ta tin rằng nó bị thay đổi. Như vậy, nếu tình huống ban đầu xấu (phủ định) thì người ta làm cho nó tốt (đó là ngụy trang), còn nếu tình huống ban đầu tốt nhưng có vài nhân vật không nhận thấy thì người ta làm cho thấy (đó là giải ngụy trang). Và Todorov nhận xét rằng trong Truyện mười ngày, ngụy trang xuất hiện nhiều hơn nhiều so với giải ngụy trang.

Ông cũng chia ngụy trang tình huống này thành hai kiểu và có bốn loại riêng biệt và cho những ví dụ cụ thể:

- Ngụy trang có sự trợ giúp của truyện kể: Alatiel được gửi đến nhà chồng tương lai nhưng ả lại bị rơi vào tay những kẻ lạ mặt. Ả đổi 8 lần nhân tình. Rồi khi về được nhà, ả nói dối cha rằng trong thời gian vừa rồi, ả đã cầu nguyện trong một tu viện. Cha ả tin lời, đưa ả trở lại nhà người chồng đầu tiên là một hoàng tử. Và ả giả làm một gái tân, tạo cho chàng hoàng tử cảm tưởng về sự trinh trắng của ả (II, 7). Vậy, ở đây có sự  ngụy trang bằng lời đến cuối lại là ngụy trang không lời.

- Sự ngụy trang không có sự trợ giúp của truyện kể cũng khá phổ biến. Gilette de Narbonne giả làm người con gái khác, chui vào giường của người chồng vốn không muốn ngủ với ả (III, 9).

Todorov cho rằng sự giải ngụy trang cũng được tạo ra có thể là bởi một truyện kể, có thể là bởi một thái độ không- lời.

2. Ngụy trang tình huống bằng cách chơi chữ, hoặc dùng một ẩn dụ hay kể một điều bóng gió. Ở đây cũng xảy ra hai trường hợp: hoặc từ óc phóng túng, nhanh nhậy, người ta gián tiếp kích thích sự từ chối một hành động thù địch; hoặc lời nói đùa là một vũ khí làm tổn thương trực tiếp người đối thoại. Todorov đưa ví dụ: Chichibio đã tặng bạn gái một cái đùi con sếu mà anh ta đang nướng cho chủ; ông chủ biết là bị cọc cạch nhưng anh người làm khăng khăng con sếu chỉ có một chân. Ông chủ tức giận, ngày hôm sau dẫn anh đày tớ đến gần mép nước để chứng minh. May mắn thay, Chichibio thấy có mấy con sếu đang ngủ, một chân co lên. Anh chàng chỉ cho chủ nhưng khi ông thốt ra một tiếng kêu thì lũ sếu thả nốt chân kia xuống. Bị chủ dồn, anh ta biện bạch: Vâng, thưa ông, nhưng khi thấy con sếu hôm qua, ông đã kêu lên Ồ! Ồ! Nếu ông kêu lên, chắc con sếu kia cũng đã thò nốt đùi và chân của nó ra như lũ sếu vừa rồi (I, 4). Chichibio đã thay đổi tình huống nhờ biết cách nói. Tình huống như vậy cũng có trong nhiều phần khác (VI, 7), (VI, 3). Lời nói khéo có một vị trí danh dự trong Truyện mười ngày của Boccaccio.

3. Hoạt động tay chân như tấn công bằng vũ khí hay phản công lại ít gặp trong Truyện mười ngày.

4. Một cách thay đổi tình huống khác là nhờ sự trợ giúp của ai đó mạnh hơn mình. Nhưng cách này cũng không nhiều trong Truyện mười ngày.

5. Một cách thay đổi tình thế khác là thay đổi vị trí của tác nhân: đi xa hay đến gần. Ví dụ, để ba đôi trẻ hạnh phúc thì họ phải rời khỏi Marseille (IV, 3), hay Girolamo phải đi khỏi Florence để quên người yêu (IV,8), hoặc vua nước Pháp phải làm một chuyến du hành để tán nữ hầu tước Montferrat (I, 5).

6. Một cách thay đổi tình huống nữa là tạo ra một hệ thống trao đổi, tức là trả tiền hay cho không. Ví dụ như một đôi nam nữ thoát ra nhờ mua chuộc lính gác (IV, 3,).

Gérard Genot đã sơ đồ hóa 6 nội dung cơ bản của động từ loại a như sau:

 

(a)

Thay đổi

Ngụy trang

Giải ngụy trang

(a1)

Ẩn dụ hóa

 

(a2)

Hoạt động tay chân

(a2)

Cầu trợ giúp

 

(a2)

Dịch chuyển tác nhân

(a2)

Trả tiền hay cho

 

(a2)

 

Sau sáu nội dung cơ bản trên, Todorov lưu ý rằng “động từ a có chút gì đó mang tính cá nhân mỗi lần thực hiện” (1, tr.38). Còn động từ bc lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Ý nghĩa  của b là tạo hành động xấu, tội lỗi, phạm luật trong khi c là trừng phạt. Vậy chúng có quan hệ hệ lụy.

Giữa ab cũng có quan hệ. Động từ b luôn kéo theo một mệnh đề giống như a, tức là có cùng một đặc tính cú pháp. Nhưng cái khác nhau là ở chỗ hậu quả của a thì mỗi lần một khác còn của b thì luôn là sự trừng phạt.

Theo Todorov, giữa a b còn có sự giống nhau nữa: “Như vậy b cũng có thể được coi là “kích thích một sự thay đổi trong tình huống trước đó”: người ta tạo ra một hành động xấu ở nơi mà trật tự thống trị. Nhưng sự thay đổi này về bản chất khác hẳn sự thay đổi trong a.  Động từ a thay đổi tình huống cụ thể, một sự định dạng thuộc ngữ ngẫu nhiên. Ngược lại, hành động xấu là sự vi phạm một luật lệ chung của tất cả xã hội và được chấp nhận trong tất cả các truyện ngắn, a b đối nghịch nhau như cá nhân đối nghịch với xã hội, biến số đối nghịch với hằng số” (1, tr.39).

Todorov cũng lập luận rằng b luôn là nội động từ và luôn hoàn thành một tội lỗi, nó đối nghịch với c vốn luôn là ngoại động từ: “Người ta trừng phạt ai đó ngay cả khi ai đó là một chủ thể của hành động trừng phạt (tự trừng phạt)”...

Về Những phạm trù bậc II, Todorov đưa ra những vấn đề như phủ định và đối lập, so sánh, thức, tự nguyện (volutatif) và ý niệm (visions). Trong phần này, như phủ định và đối lập, so sánh, volutatifcảm tưởng chỉ được đề cập đến vừa phải, và chúng tôi cũng không có đủ điều kiện để giới thiệu hết ý kiến của Todorov. Vì vậy, chúng tôi sẽ lướt qua một vài ý chính, chúng tôi dành thời gian cho phần quan trọng nhất trong số các phạm trù này, đó là thức.

Phủ định (négation) và đối lập (opposition) tương ứng với đối nghĩa (contradictoire) và phản nghĩa (contraire). Ví dụ như xấu thì phản nghĩa với tốt nhưng lại đối nghĩa với không- xấu. Trong Truyện mười ngày, phủ định được dùng nhiều hơn đối lập. Đối lập chủ yếu được dùng trong những chuyện về hành động xấu.

So sánh, trong ngôn ngữ tự nhiên, có hai phạm trù: so sánh đúng nghĩa và những trạng từ chỉ cường độ, tức là so sánh tương đối và so sánh tuyệt đối. Khi so sánh như vậy, hai vị ngữ cùng hiện diện trong một khúc đoạn (séquence), thì chúng không khác nhau về nội dung mà chỉ khác về mức độ. Trong Truyện mười ngày, vị ngữ của mệnh đề thứ hai bao giờ cũng có cường độ lớn hơn. Ví dụ như trong VI, 5, lời đùa cợt của hai người lấm lem đầy bùn đất sau một chuyến đi dài:

Forese: - Giotto, nếu có một người lạ chưa bao giờ gặp anh, mà đến đây gặp chúng ta, anh tưởng tượng xem anh ta sẽ nghĩ anh là ai, là một họa sĩ lừng danh thế giới chăng?

Giotto: - Thưa ngài, tôi nghĩ rằng sẽ chắc chắn là như vậy trong chừng mực mà bộ dạng ngài có thể làm cho ông ta tin rằng ngài biết điều sơ đẳng.

Trong số các động từ, động từ ac thường có hình thức so sánh, đặc biệt là a.

Phạm trù tự nguyện (volutatif) là từ chúng tôi tạm diễn giải bằng tiếng Việt, chưa thể gọi là hài lòng, chỉ biết rằng trong cuốn sách này, Todorov định nghĩa nó như sau: “Người ta gọi một vị ngữ là vị ngữ volutatif nếu như hành động mà nó diễn tả được thực hiện một cách hoàn toàn tự nguyện bởi chủ ngữ của mệnh đề” (1, tr.50). Chúng ta có thể lấy chuyện X, 3 làm dẫn chứng: thèm khát vinh quang của Natan, Mitridane quyết định giết chàng. Nhưng khi chính Natan lại vui lòng tự nguyện hiến tặng cuộc sống của mình cho Mitridane, thì gã lại từ chối. Hoặc chuyện X, 5, Ansaldo từ chối Dianora vào giường của mình khi biết rằng nàng đã được chồng vui vẻ cho phép.

Phạm trù thứ năm là ý niệm. Từ này chúng tôi cũng chỉ mới tạm dịch. Todorov giải thích rằng “người ta sẽ không nói đến ý niệm trừ khi nó khác với ý niệm thông thường… nói cách khác, một nhân vật tin rằng một sự việc nào đó đã xảy ra, nhưng sự thực việc xảy ra hoàn toàn khác” (1, tr.51). Và phạn trù này thường được diễn đạt với những nhóm động từ đi kèm như “tôi nghĩ rằng…”, “tôi khẳng định rằng…”, “tôi tin rằng…”, v.v... Có thể có hai trường hợp xảy ra: nếu người đọc và nhân vật cùng đồng quan điểm với nhau thì ý niệm là chung cho cả hai, còn nếu cả hai không đồng quan điểm thì ý niệm là của nhân vật. Ví dụ như trong II, 3, cả Alexandre và người đọc đều không biết rằng chàng tu sĩ trẻ là một phụ nữ: họ tin rằng đó là đàn ông. Còn trong I, 1, thì chúng ta biết rằng Ciappelletto là một tên gian, nhưng ông thày tu lại không biết và coi hắn như một ông thánh.

Phạm trù Todorov dành nhiều thời gian nhất cho nó là thức. Vấn đề này cũng được ông nhấn mạnh lại trong Ngữ pháp của truyện kể. Ông định nghĩa như sau: “Thức của một mệnh đề(7) làm rõ mối quan hệ của nhân vật được đề cập với mệnh đề đó, vậy nhân vật này giữ vai trò chủ ngữ của sự phát ngôn. Đầu tiên chúng ta phân biệt hai loại: Một bên là thức biểu thị và bên kia là tất cả những thức khác. Hai nhóm này đối lập nhau như thực và ảo. Những mệnh đề được phát ngôn ở thức biểu thị được hiểu như để chỉ các hành động đã thực sự xảy ra; nếu như là thức khác, thì hành động chưa được thực hiện mà chỉ ở thế tiềm năng, có thể xảy ra” (1, tr.46). Liên quan đến Truyện mười ngày, Todorov áp dụng sự lưỡng phân để chia các thức thành bốn loại: hai thức của ý muốn (volonté) và hai thức của giả thuyết (hypothèse).

Trong hai thức của ý muốnbắt buộc (obligatif) và nguyện vọng (optatif) trong đó bắt buộc là thức của một mệnh đề phải xảy ra. Theo Todorov: “Đó là một ý muốn được mã hóa, phi- cá nhân, nó tạo nên luật lệ của một xã hội. Và cũng vì lý do đó, thức bắt buộc có một quy chế đặc biệt: các luật lệ luôn ngầm hiểu, không bao giờ được gọi thành tên và có nguy cơ người đọc không nhận ra chúng” (1, tr.47). Trong Truyện mười ngày, sự trừng phạt phải được viết ở thức bắt buộc. Còn thức nguyện vọng lại tương ứng với những hành động mà nhân vật mong muốn. Todorov cho rằng trong chừng mực nào đó, mọi mệnh đề có thể đi sau cùng một mệnh đề nguyện vọng và một mệnh đề nguyện vọng lại buộc phải đi trước một sự hệ lụy, nó chỉ ra cùng một mệnh đề ở thức biểu thị hoặc một mệnh đề giải thích cách thức được chọn để thực hiện mong muốn. Những điều này giải thích vì sao mệnh đề nguyện vọng lại thường xuất hiện ở đầu khúc đoạn. Sự từ chối cũng là trường hợp đặc biệt của thức nguyện vọng. Ví dụ, Ansaldo từ bỏ nỗi thèm khát sở hữu Dianora khi biết sự rộng lượng của chồng nàng (X, 5).

Hai thức còn lại, thức điều kiện (conditionnel) và thức dự báo (prédictif), theo Todorov, ngoài việc chỉ ra đặc điểm ngữ nghĩa chung (giả thuyết), chúng còn nổi lên bởi một cấu trúc cú pháp đặc biệt, đó là chúng liên quan đến hai mệnh đề kế tiếp, chứ không phải chỉ với một mệnh đề độc lập. Có nghĩa là chúng liên quan đến mối quan hệ giữa hai mệnh đề này, mối quan hệ luôn là quan hệ hệ lụy, nhưng với mối quan hệ đó, chủ ngữ phát ngôn có thể có những quan hệ khác nữa.

Thức điều kiện được định nghĩa như một thức kéo hai mệnh đề thuộc ngữ vào mối quan hệ hệ lụy. Chủ ngữ của mệnh đề thứ hai và chủ ngữ đặt điều kiện thậm chí là một người và là cùng một nhân vật. Nếu trong mệnh đề thứ nhất, điểm chính được rõ nét thì có thể gọi hai mệnh đề này là thử thách. Ví dụ như trong IX, 1, để chấp nhận tình yêu, Francesca đặt điều kiện là Rinuccio và Alexandre thực hiện mỗi người một thử thách. Nếu bằng chứng về lòng dũng cảm của họ được thực hiện, nàng sẽ chấp nhận nguyện vọng của họ. Tuy nhiên, Todorov cũng viết rằng tất cả những mệnh đề điều kiện không thể được trình bày như những thử thách, đặc biệt là nếu như thuộc ngữ của mệnh đề thứ nhất có tính chất kéo dài hoặc nếu chủ ngữ của mệnh đề thứ nhất không muốn mệnh đề thứ hai được thực hiện. Chẳng hạn trong I, 2, Abraham hứa sẽ theo đạo Thiên chúa nếu như giáo hoàng và các giáo chủ sống một cuộc sống lành mạnh, nghĩa là tuân theo những gì họ vốn thế chứ không phải những gì họ làm.

Thức cuối cùng là thức dự báo. Todorov phân tích rằng nó có cấu trúc giống như thức điều kiện nhưng chỉ khác là “chủ ngữ dự báo không được là chủ ngữ của mệnh đề thứ hai” (1, tr.68). Chủ ngữ của mệnh đề thứ nhất không chịu bất cứ hạn chế nào. Nó có thể có cùng chủ ngữ với hành động phát ngôn: Nếu mình tàn nhẫn với Griselda, Gautier tự nhủ, cô ấy sẽ tìm cách hại mình (X, 10); nó cũng có thể có cùng chủ ngữ với mệnh đề thứ hai: Nếu Girolamo rời xa thành phố, bà mẹ nghĩ, nó sẽ không yêu Salvestra nữa (IV, 8,). Những dự báo trên không hẳn là sự thật, vì thế, có thể nói “thức dự báo là sự biểu hiện đặc biệt của cái logic về sự giống như thật” (1, tr.49).

Nếu nhìn lại, khi xét mối quan hệ của bốn thức trên, chúng ta thấy: bên cạnh sự đối lập hiện diện/ vắng mặt của ý muốn, một sự lưỡng phân khác đối lập một bên là các thức nguyện vọng/ điều kiện, bên kia là các thức bắt buộc/ dự báo. Cặp đầu là sự tương đồng về chủ ngữ của hành động phát ngôn với chủ ngữ của điều được phát ngôn; cặp sau phản ánh những hành động bên ngoài chủ ngữ phát ngôn (1, 49).

CHƯƠNG THỨ BA nghiên cứu về khúc đoạn (séquences). Trong chương này, Todorov đưa ra nhiều vấn đề khác như sự kết hợp giữa các khúc đoạn, các khúc đoạn mang tính luật pháp, cấu trúc của truyện ngắn… Tuy nhiên, tập trung nhất vẫn là những vấn đề chúng tôi sẽ nêu sau đây.

Trước hết, Todorov định nghĩa khúc đoạn là đơn vị cú pháp ở mức cao hơn mệnh đề. Khái niệm khúc đoạn được sử dụng như một chuỗi những mệnh đề được hiểu là đã hoàn thành, như có thể tạo nên một câu chuyện độc lập. Một chuyện có thể có nhiều khúc đoạn.

Phần đầu tiên, Todorov nghiên cứu các mối quan hệ giữa các mệnh đề. Tạm loại những công thức khó hiểu của Todorov, chúng ta có thể tóm tắt những quan điểm của ông như sau: ông đưa ra hai loại quan hệ. Thứ nhất là quan hệ thời gian. Những mệnh đề ông dùng ở đây làm ví dụ đều là những mệnh đề thuộc ngữ, trừ sự chỉ dẫn phản nghĩa. Quan hệ thời gian bao gồm các quan hệ như: 1- Cường điệu (emphase): là mối quan hệ mà một mệnh đề được lặp lại, mệnh đề đầu và mệnh đề lặp lại phải tách rời nhau bởi ít nhất là một mệnh đề. Ví dụ như Richard nhờ lừa lọc đã được ân sủng của Catella. Khi phát hiện ra bị lừa, Catella nổi giận, nhưng Richard đã xoa dịu được nàng và họ lại lặp lại trò vui tình ái (III, 6). Sự lặp lại sau cùng là một sự điệu. Không hề có sự giống hệt nhau; 2- Sự đảo ngược (inversion): ở đây, một mệnh đề cũng được lặp lại, nhưng vị ngữ của mệnh đề thứ hai bị thay thế bởi một sự phủ định hay sự đối lập. Todorov đưa ra nhiều trường hợp như đảo ngược thuộc ngữ, đảo ngược ý tưởng, và không- đảo ngược.

Quan hệ thứ hai là quan hệ nguyên nhân. Tất cả các mối quan hệ khác đều gắn liền với quan hệ nhân quả. Quan hệ này có thể là một sự thay đổi, đó là một mệnh đề có động từ a đi trước một mệnh đề hệ lụy. Nó cũng có thể là một sự thèm khát (quan hệ này gắn liền với thức nguyện vọng); nó có thể là lý do, là kết quả, là sự trừng phạt hay giả thuyết. Đây là mối quan hệ giữa bốn mệnh đề, hai mệnh đề hệ lụy đối xứng trong đó mệnh đề thứ nhất ở thức dự báo hoặc điều kiện.

Các mối quan hệ trên cũng được Todorov xếp theo kiểu vai trò mà chúng đảm nhiệm trong khúc đoạn. Trong Ngữ pháp của truyện kể, Todorov đã tóm tắt vấn đề ngắn gọn và dễ hiểu hơn nhiều so với tiểu luận của ông. Ông phân biệt ba kiểu mệnh đề. Tùy theo mối quan hệ logic loại trừ (hoặc / hoặc), quan hệ kết hợp (và / hoặc), hay quan hệ phân ly (và / và)  mà chia chúng thành ba nhóm: Quan hệ lựa chọn (relations alternatives) là những quan hệ quan trọng nhất vì sự hiện diện của chúng quyết định kiểu khúc đoạn. Quan hệ thứ hai là tùy ý (relations facultatives) vì vị trí của nó không xác định và sự xuất hiện của nó cũng không bắt buộc. Quan hệ thứ ba là quan hệ hình thành bởi những mệnh đề bắt buộc, chúng luôn phải xuất hiện ở một vị trí xác định. Todorov lấy I, 9, để phân tích phận vị của mỗi mệnh đề. Một bà người Gascogne thấy mình bị “vài tên thanh niên xấu” lăng nhục khi bà đi nghỉ ở đảo Chypre. Bà muốn phàn nàn với Vua Đảo, nhưng người ta nói rằng điều đó sẽ vô ích vì vị vua hờ hững với cả những lời xúc phạm đến bản thân ngài. Song, người đàn bà gặp vua và nói với ông vài lời chua chát. Vị vua cảm động và bỏ thói nhu nhược của mình (I, 9). Mệnh đề bắt buộc: ước muốn của người đàn bà thay đổi tính huống lúc đầu; ước muốn này hiện diện trong tất cả các truyện của cuốn sách. Mặt khác, hai mệnh đề chứa những nguyên nhân gây nên ước muốn này (sự xúc phạm của những gã thanh niên tồi và sự bất hạnh của người đàn bà) và người ta có thể gọi chúng là những mệnh đề tùy ý: đây là một lý do tâm lý của hành động muốn thay đổi của nhân vật, lý do thường vắng mặt của Truyện mười ngày (trái với những gì xảy ra trong truyện ngắn thế kỷ XIX). Còn mệnh đề lựa chọn, Todorov so sánh hai sự việc. Về mặt cú pháp, hành động của người đàn bà thay đổi tính cách của nhà vua cũng như Peronnelle (VII, 2) giấu nhân tình trong thùng toneau. Cả hai đều nhắm tới việc thiết lập một sự cân bằng mới. Tuy nhiên, một bên là hành động bằng lời, bên kia dùng sự ngụy trang.

Phần thứ hai của chương là Khúc đoạn thuộc ngữ (séquences attributives). Khúc đoạn thuộc ngữ là những khúc đoạn trong đó mối quan hệ lựa chọn là một sự đảo thuộc ngữ. Lấy lại ví dụ trên, ta thấy thuộc ngữ bị đảo là thuộc ngữ nhà vua, từ mềm yếu, lãnh cảm, ngài trở thành có ý chí và kiên quyết.

Tuy nhiên có nhiều trường hợp phức tạp hơn, trong đó có nhiều quan hệ tùy ý. Ví dụ: Gulfard si tình Ambruoggia, vợ của Guasparruolo. Nhưng bà này chỉ đồng ý ngủ với y với điều kiện y phải cho bà ta hai trăm florin vàng. Guifard tức giận nhưng không từ bỏ ước muốn. Anh ta vay Guasparruolo số tiền đó rồi đưa cho Ambruoggia, có một nhân chứng chứng kiến. Vài ngày sau khi được hưởng ân huệ của người đàn bà, anh ta gặp lại Guasparruolo và vợ ông, có mặt cả nhân chứng. Anh ta tuyên bố đã trả tiền cho Guasparruolo qua vợ ông ta. Người đàn bà không thể phủ nhận (VIII, 1). Thuộc ngữ ở đây là tình trạng quan hệ nam nữ của Ambruoggia và Gulfard. Nhưng sự đảo ngược phức tạp hơn do có một điều kiện và một sự thay đổi ý tưởng. Khúc đoạn đơn giản nhất là sự đảo ngược thuộc ngữ: Gulfard thèm khát chiếm được tình yêu của Ambruoggia và chàng đã thành công”. Sự việc phức tạp hơn do có một điều kiện, và Gulfard chỉ giả vờ đồng ý với điều kiện đó. Ở đây có một ý tưởng giả bao hàm một mệnh đề khác chứa ý tưởng tốt.  Chuyện này cũng đặc trưng hóa qua sự cần thiết về một mệnh đề phụ, mệnh đề “thay đổi” (1, tr.62). Về mặt ngữ nghĩa, Todorov cho rằng những khúc đoạn thuộc ngữ thể hiện chuyện tranh chấp về thế cân bằng đang tồn tại. Thèm khát cá nhân đã kích thích sự phá vỡ cân bằng và tạo ra một thế cân bằng mới.

Những vấn đề về ngữ pháp hiện đã có nhiều nghiên cứu mới. Các nhà nghiên cứu như Greimas, Kristeva và cả bản thân Todorov cũng đã có những đóng góp hiện đại hơn. Nhưng cuốn tiểu luận Ngữ pháp Truyện mười ngày vẫn giữ nguyên giá trị bản lề của nó với những thuật ngữ tồn tại mãi cho đến nay và những đóng góp của Todorov trong việc nghiên cứu ngữ pháp của mọi người, mọi nơi, mọi thời đại, đó là ngữ pháp phổ quát với sự chú trọng đến cú pháp hơn là hình thái học1

_____________

([1]) Grammaire du Décaméron, Tzvestan Todorov, viết năm 1969, xuất bản năm 1970, Nxb. The Hague-Paris, Mouton, “Approaches to Semiltics-3”. Trong bài viết của chúng tôi, những dẫn chứng lấy từ quyển  này, chúng tôi sẽ chú thích (1, tr…)

(2) Giavanni Boccaccio (trong tiếng Pháp gọi là Jean Boccace), nhà văn, nhà thơ người Italia  (1313-1375). Ông hoàn toàn lao vào văn học theo sở thích cá nhân thay vì theo nghiệp thương mại hay luật do cha ông áp đặt. Boccaccio là một nhà nhân văn học thời Phục Hưng. Ông nổi tiếng với các tác phẩm như De mulieribus claris, Decameron và các tập thơ bằng tiếng Italia. Các nhân vật trong truyện của Boccaccio thường là những nhân vật nổi tiếng trong thời đại của họ, đồng thời cũng là những người thực tế, tâm linh, và là những con người thông minh.

Décaméron là tập truyện được viết năm từ năm 1349 đến năm 1352 (trong tiếng Italia là Decameron, gốc Hylạp, δέκα, déca, mười, và ἡμέρα, hêméra, ngày). Tác phẩm có phụ đề là Hoàng tử Gallehault đề tỏ lòng tôn kính nhà thơ Dante Alighieri. Để tránh dịch hạch, một nhóm thanh niên gồm mười người trong đó có bảy nữ, chạy khỏi Florence, đến lánh nạn ở một vùng quê yên tĩnh. Để giải trí, họ đặt ra luật lệ là trừ thứ sáu và thứ bảy, còn lại mỗi người mỗi ngày phải kể một chuyện mà chủ đề đã được một người được bầu làm vua hoặc nữ hoàng chọn từ tối hôm trước. Riêng ngày đầu tiên và ngày thứ chín, chủ đề được đa dạng hơn. Mười người kể chuyện trong vòng mười ngày, mỗi ngày mười chuyện. Thực ra, tất cả có 101 chuyện, số ngày thực tế cũng nhiều hơn, nhưng Boccaccio tuân theo cấu trúc chặt chẽ đã được đặt ra, vì thế mới có cái tên décaméronTruyện mười ngày. Khi nói đến chuyện nào đó trong một ngày nào đó, chúng tôi sẽ ký hiệu theo Todorov, số La mã chỉ số ngày, số Arập chỉ  số chuyện, ví dụ (V, 3) tức là chuyện số 3, ngày thứ năm.

(3) Tzvetan Todorov: Grammaire du Décaméron, Gérard Genot, Revue Romane, Bind 6 (1971) được tập hợp trong cuốn Poéique de la prose. Khi dẫn chứng từ bài này, chúng tôi sẽ viết (3, số trang).

(4) La Grammaire du récit, Todorov, Persée (http://www.persee.fr), tr.94-102 được tập hợp trong cuốn Poéique de la prose và đã được Đặng Anh Đào – Lê Hồng Sâm dịch ra tiếng Việt: Thi pháp văn xuôi, Nxb. ĐHSP, 2004. Khi dẫn chứng từ bài này, chúng tôi ký hiệu (5, số trang).

(5) Franz Boas, một nhà nhân học được coi là ông tổ của nhân học Mỹ. Ông là tiến sĩ vật lý nhưng ông đi sâu nghiên cứu nhiều lĩnh vực như địa lý và đặc biệt là văn hóa.

(6) Phần này chúng tôi xin để gần như nguyên xi lời của Todorov để người đọc dễ hiểu.

(7) Trong Ngữ pháp Truyện mười ngày, định nghĩa của Todorov chỉ là proposition, còn trong bài Ngữ pháp của truyện kể, Todorov thêm vào từ narrative thành proposition narrative.

 


(*) PGS.TS - Viện Văn học.

 

Các tin đã đưa ngày: