Cổ điệu ngâm từ không phải là một từ tập của Việt Nam

07/05/2014

Thể loại từ đi vào đời sống cung đình là hiện tượng phổ biến ở thời Đường và đặc biệt là Ngũ đại (tiêu biểu hai tiểu vương quốc Tây Thục và Nam Đường). Tại Việt Nam, hoàn cảnh sáng tác bài từ điệu Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu chứng tỏ ngay khi được tiếp thu, thể loại từ đã được ứng dụng trong đời sống cung đình. Nhưng với Cổ điệu ngâm từ thì vấn đề có thể khác, cần phải xem xét thật kĩ càng. Tại sao vậy? Đơn giản vì Cổ điệu ngâm từ không hề có dấu hiệu nào chắc chắn đảm bảo rằng nó là từ tập của Việt Nam.

Cổ điệu ngâm từ không phải là một từ tập của Việt Nam

Phạm Văn Ánh

Từ là một thể loại có vị trí đặc biệt quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc, xuất hiện từ thời Đường, đạt đỉnh cao vào thời Tống, suy thoái vào các đời Kim - Nguyên - Minh và phục hưng vào thời Thanh. Cùng sự ảnh hưởng của văn hóa Hán với công cụ chuyển tải là chữ Hán, từ ảnh hưởng lan tỏa ra các nước Đông Á, đặc biệt là Nhật Bản và Việt Nam. Ngay thời Đường, chùm từ gồm 5 bài viết theo điệu Ngư phủ của Trương Chí Hòa (? - 773) đã ảnh hưởng sang Nhật Bản, được Tha Nga thiên hoàng (786 - 842) và một số bề tôi trong hoàng tộc mô phỏng theo(1). Tại Việt Nam, theo tư liệu hiện còn, tác phẩm đầu tiên đánh dấu sự tiếp nhận thể loại này là bài từ điệu Nguyễn lang quy của Khuông Việt sư Ngô Chân Lưu, sáng tác năm 987, nhân dịp tiễn sứ giả nhà Tống là Lí Giác về nước(2). Sau bài từ của Khuông Việt, thể loại từ vắng bóng trong hơn 5 thế kỉ liên tục, và dường như chỉ xuất hiện trở lại với các sáng tác của Phùng Khắc Khoan, một đại thần thời Lê Trung hưng(3). Toàn bộ thời Lê (theo kết quả khảo sát của chúng tôi tính cho đến thời điểm này) hiện còn khoảng 58 bài từ của 8 tác giả. Nhưng thời Lê, sáng tác từdường như chỉ là một sự thể nghiệm, số lượng tác phẩm còn nhiều hạn chế, chưa có từ tập chuyên biệt; điều đó cho thấy, ở thời này, chưa có tác giả nào dụng công thực sự vào việc sáng tác từ, khả dĩ coi là từ nhân chuyên nghiệp. Sang thời Tây Sơn và thời Nguyễn, thể loại từ tiếp tục được vận dụng trong sáng tác; đặc biệt vào thời Nguyễn, sáng tác từ xuất hiện thường xuyên hơn các giai đoạn khác. Di sản văn hiến thời Trung đại hiện còn 3 từ tập chuyên biệt, gồm Mộng mai từ lục của Đào Tấn, Thương Sơn từ tập của Miên Thẩm vàCổ điệu ngâm từ. Riêng Cổ điệu ngâm từ chưa rõ tác giả và niên đại cụ thể.Cổ điệu ngâm từ là một trong 3 từ tập, số lượng khá lớn, việc không xác minh được về mặt niên đại và tác giả của từ tập này có ảnh hưởng rất lớn đến độ tin cậy khi đánh giá về tiến trình vận động và phát triển của thể loại từ trong văn học Việt Nam. Nhà nghiên cứu Trần Nghĩa khi tiến hành thống kê thể loại từ trong văn học Trung đại Việt Nam đã xếp Cổ điệu ngâm từ vào các từ tập thời Nguyễn, lại dựa vào nội dung các bài Tảo triều làm theo điệu Yết kim môn vàNgọ triều làm theo điệu Hạ thánh triều, từ đó cho rằng thể loại từ đã đi vào đời sống cung đình(4).

Thể loại từ đi vào đời sống cung đình là hiện tượng phổ biến ở thời Đường và đặc biệt là Ngũ đại (tiêu biểu hai tiểu vương quốc Tây Thục và Nam Đường). Tại Việt Nam, hoàn cảnh sáng tác bài từ điệu Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu chứng tỏ ngay khi được tiếp thu, thể loại từ đã được ứng dụng trong đời sống cung đình. Nhưng với Cổ điệu ngâm từ thì vấn đề có thể khác, cần phải xem xét thật kĩ càng. Tại sao vậy? Đơn giản vì Cổ điệu ngâm từ không hề có dấu hiệu nào chắc chắn đảm bảo rằng nó là từ tập của Việt Nam.

Cổ điệu ngâm từ hiện được lưu trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu (A.2262), có dấu của Viễn đông Bác cổ Pháp và chữ kiêng húy thời Tự Đức (1848-1883), chứng tỏ sách này được chép tại Việt Nam sau thời Tự Đức, có thể vào những năm đầu thế kỉ XX. Sách gồm 24 tờ, với 73 bài từviết theo nhiều điệu khác nhau và 1 bài thơ(5). Cổ điệu ngâm từ không hề ghi tên tác giả, niên đại, tựa, bạt; nội dung khá tản mác, phong cách không thuần nhất. Chúng tôi đã đọc từ tập này rất nhiều lần, càng đọc càng thấy nghi ngờ, càng thấy nó không có bất cứ một dấu hiệu xác tín nào chứng tỏ là một từ tập của tác giả Việt Nam. Với mong muốn phủ nhận sự nghi ngờ của chính mình, chúng tôi đã ra sức tìm hiểu các nguồn thư tịch khác nhau, hi vọng có thể có thêm thông tin về tác phẩm, nhưng rốt cục vô vọng. Trong khi tìm hiểu tập từ, nhất là khi tiếp cận các nguồn thư tịch Trung Quốc, vấn đề tác quyền của Cổ điệu ngâm từ dần được sáng tỏ.

Mở đầu sách Cổ điệu ngâm từ ghi: 山 黛 女 獻 二 調 詞 (Sơn Đại nữ hiến nhị điệu từ, dịch đúng cú pháp là: “Cô con gái Sơn Đại dâng từ điệu hai”, hoặc: “Cô gái Sơn Đại dâng hai từ điệu”). Câu văn cú pháp không “xuôi tai”, cách ghi “nhị điệu từ” (với ý là “hai điệu từ”) thật Việt, lẽ ra câu trên phải chép là 山 黛女 獻 詞 二 調 (Sơn Đại nữ hiến từ nhị điệu, nghĩa là: “Cô gái Sơn Đại dâng hai điệu từ”), xem thế đủ thấy trình độ rất có hạn của người chép sách. Vấn đề đặt ra là sách Cổ điệu ngâm từ vốn đã không ghi tên tác giả, vậy cái gọi là “cô gái Sơn Đại” là ai, xuất xứ từ đâu? Qua nghiên cứu, mới hay “Sơn Đại nữ” như Cổ điệu ngâm từ đã ghi chính là tài nữ Sơn Đại, con gái Đại học sĩ Sơn Hiển Nhân trong tác phẩm Bình Sơn Lãnh Yến (平 山 冷 燕) của Trung Quốc. Hai tác phẩm đầu tiên trong Cổ điệu ngâm từ là bài Tảo triều, điệu Yết kim môn (sách ghi sai thành Hát kim môn) và bài Ngọ triều, điệu Hạ thánh triều, nguyên văn như sau:

: 雞鳴曉, 殿角明星稀少. 天上六龍飛杳杳, 聖主臨軒早 --- 雙闕雲霞縹緲, 萬國衣冠顛倒. 初日上昇紅杲杲, 簾卷瞻天表.

(Phiên âm: Tảo triều - Yết kim môn: Kê minh hiểu / Điện giác minh tinh hi thiểu / Thiên thượng lục long phi liểu liểu / Thánh chủ lâm hiên tảo / --- Song khuyết vân hà phiếu miểu / Vạn quốc y quan điên đảo / Sơ nhật thăng hồng cảo cảo / Liêm quyển chiêm thiên biểu).

午朝 - 賀聖朝: 中天紅日剛剛午, 御當陽聖主. 花磚鵠立, 丹墀虎拜, 共瞻九五--- 三勤晉接, 稀聞晝漏, 宣瑯瑯天語. 停經賜食, 分班染翰, 自慚無補.

(Phiên âm: Ngọ triều - Hạ thánh triều: Trung thiên hồng nhật cương cương ngọ / Ngự đương dương thánh chủ / Hoa chuyên hộc lập / Đan trì hổ bái / Cộng chiêm cửu ngũ / --- Tam cần tấn tiếp / Hi văn trú lậu / Tuyên lang lang thiên ngữ / Đình kinh tứ thực / Phân ban nhiễm hàn / Tự tàm vô bổ). Hoàn toàn chỉ là chép nguyên văn hai bài cùng điệu trong hồi thứ 4 của sách Bình Sơn Lãnh Yến.

Tiếp tục khảo sát các bài từ khác, kết quả cho thấy các bài còn lại về cơ bản đều chép nguyên văn từ sách Trung Quốc, nhất là từ các tiểu thuyết:

- Các bài Phong, hoa, tuyết, nguyệt từ (Phong từ: Phong niểu niểu 風 嫋嫋… Hoa từ: Hoa diễm diễm 花 艷 艷…, Tuyết từ: Tuyết phiêu phiêu 雪 飄 飄…,Nguyệt từ: Nguyệt quyên quyên 月 娟 娟…) được chép từ tiểu thuyết Long hội lan trì lục (龍 會 蘭 池 錄). Tổng số: 4 bài.

- Các bài từ điệu: Nhất tiễn mai (Hạm nhụy sơ khai 菡 橤 初 開…), Triều thiên tích (Nhật sắc ánh lưu hà 日 色 映 流 霞...) được chép nguyên văn từ tiểu thuyết Song khanh bút kí (雙 卿 筆 記). Tổng số: 2 bài.

- Các bài từ điệu: Lâm giang tiên (Liêm quyển hoa đường 簾捲華堂...),Trường tương tư (Trường tương tư, tâm bất tuyệt 長相思 , 心不絕...), Tích phân phi (Điệp túy phong mê 蠂醉蜂迷...), Như mộng lệnh (Hà sự vô tình tham thụy 何事無情貪睡...), Tô mạc già (Tố lan hoa, quế hồng thụ 素蘭花, 桂紅樹...),Nguyễn lang quy (Văn quân khứ hậu lệ tiên thùy 聞君去後淚先垂...), Đào nguyên ức cố nhân (Tư tư niệm niệm 思思念念... ) Điệp luyến hoa (Điệp túy hoa tâm 蝶醉花心...), Phong vũ hận (Phong hà cuồng 風何狂...), Họa đường xuân (Cô thân thường thác 孤身常托...), Ngọc lâu xuân (Hàm xuân tiếu 含春笑...), Tiểu trùng san (Dương liễu thùy liêm 楊柳垂簾...), Trùng điệp kim (Thiếu niên nhất chẩm 少年一枕...), Thiên tiên tử (Xuân hiểu 春曉…), Hảo sự cận(Hảo sự tạ Văn nga 好事謝文娥...), Cách phố liên (Hồng lan tương ánh 紅蘭相映...), Giang thành Mai hoa dẫn (Giai kì tư hứa ám xao môn 佳期私許暗敲門...),Dương quan dẫn (Tài quán đồng tâm kết 纔館同心結...), Mãn đình phương(Thiền mấn đà vân 蟬鬢拖雲...), Trà bình từ (Ức tích đương niên 憶惜當年...) đều được chép ra từ tiểu thuyết Thiên duyên kì ngộ (天緣奇遇). Tổng số: 20 bài.

- Các bài từ điệu: Lâm giang tiên (Nhất đổ tiên lang 一睹仙郎...), Tây giang nguyệt (Đông xá đa tình tài tử 東舍多情才子...), Bốc toán tử (Quân hữu đề trụ tài 君有題柱才), Phong nhập tùng (Nhị lang thần khứ 二郎神去...), Phú đắc mộc lan hoa (Phương tâm đãng dạng 芳心蕩漾...), Bán thiên phi khúc(Hoa dạng kiều nhiêu 花樣嬌嬈...), Thu ba mị (Bích thiên dạ sắc 碧天夜色...),Hiệt phương thời (Hòa quang diễm 和光艷...), Hành hương tử (Sơn bích chi bàng 山碧之旁...), Tống xuân từ (Tàn hoa vô nại 殘花無柰...), Cổ hạ thánh triều (Si tâm thâu bộ 痴心偷步...), Xuân quang hảo (Xuân dĩ hĩ 春已矣...), Vũ trung hoa (Yên vũ đố xuân 煙雨妒春...), Thanh ngọc án (Xuân quang kỉ độ 春光幾度...), Khuê oán bộ thiềm cung (Náo tương tương 鬧 ...), Phượng hoàng các (Kí đương sơ hoa hạ 記當初花下...), Hoa tâm động (Phong lí dương hoa 風裏楊花...), Bộ bộ kiều (Mật ước đa tao密約多遭...), Tam ngũ thất ngôn thi (Nguyệt chi tiền 月之前...), Giá cô thiên (Thánh thế sùng văn 聖世崇文...),Đoàn viên từ (Chu y điểm đầu 朱衣點頭...), Đảo luyện tử (Từ cố lí 辭故里...),Độc hoa thanh (Sầu tứ tỏa mi phong 愁思鎖眉峰...) được chép ra từ tiểu thuyếtLưu sinh mịch liên kí (劉生覓蓮記). Tổng số: 23 bài.

Các bài: Cán khê sa (Vân đạm phong khinh 雲淡風輕...), Trường tương tư (Xuân vọng quy春望歸...), Ức Tần nga (Ức Tần nga 憶秦娥...), Ngu mĩ nhân(Bình sinh ân ái 平生恩愛...), Bồ tát man (Xuân quang đào lí 春光桃李...), Pháp giá dẫn (Quy khứ dã 歸去也...), Mộc lan hoa (Niệm đương thì hành lạc 念當時行樂...), Mãn đường xuân (Sầu tỏa xuân sơn 愁鎖春山...), Thước kiều tiên(Chinh hồng vô tín 征鴻無信...), Thụy giá cô (Ba tiêu diệp diệp 芭蕉葉上...),Liễu sảo thanh (Nam mạch hoa tàn 南陌花殘...), Thiên thu tuế lệnh (Cúc trì lan tảo 菊遲蘭早...) được chép từ tiểu thuyết Chung tình lệ tập (鍾情麗集). Tổng số: 12 bài.

Các bài: Vọng Giang Nam (Xuân vọng đoạn 望江南...), Điểm giáng thần(Mặc bộ đình lan默步庭蘭...), Tùng hoa (Hiểu lai mật ước 曉來密約...) được chép từ tiểu thuyết Tầm phương nhã tập (尋芳雅集). Tổng số: 3 bài.

- Các bài: Túy hoa âm (Cô quán trầm trầm 孤館沉沉...), Đạp sa hành (Tử Kiến hùng tài 子建雄才...) được chép từ tiểu thuyết Kim lan tứ hữu (金蘭四友). Tổng số: 2 bài.

Các bài trong Cổ điệu ngâm từ được chép ra từ các tiểu thuyết Trung Quốc đã tìm thấy được biểu thị như bảng dưới đây:

 

TT

Tên sách

Số bài

1

Bình Sơn Lãnh Yến

2

2

Long hội lan trì lục

4

3

Song khanh bút kí

2

4

Thiên duyên kì ngộ

20

5

Lưu sinh mịch liên kí

23

6

Chung tình lệ tập

12

7

Tầm phương nhã tập

3

8

Kim lan tứ hữu

2

Tổng số: 8 tiểu thuyết gồm 68 bài

 

 

Kết quả nghiên cứu cho thấy có ít nhất 68/74 bài (xấp xỉ 92%) trong Cổ điệu ngâm từ được chép ra từ 8 tiểu thuyết của Trung Quốc. Trên thực tế, 7 tiểu thuyết: Long hội lan trì lụcSong khanh bút kíThiên duyên kì ngộLưu sinh mịch liên kíChung tình lệ tậpTầm phương nhã tập, Kim lan tứ hữu đều thuộc bộ tổng tập tiểu thuyết Quốc sắc thiên hương (國色天香) của Ngô Kính Sở (吳敬所) thời Minh. Như vậy 68 bài nói trên thuộc về hai sách Bình Sơn Lãnh Yến và Quốc sắc thiên hương. Sự ghi chép trong Cổ điệu ngâm từ so với các sách Trung Quốc có đôi chỗ xuất nhập song không lớn. Chẳng hạn ở bàiHoa từ, nguyên văn đoạn đầu bài từ trong Long hội lan trì lục là: “Hoa diễm diễm / Hoa diễm diễm / Yêu nhiêu xảo tự nhữ” (花艷艷 / 花艷艷 / 妖嬈巧似汝...), bài từ cùng tên trong Cổ điệu ngâm từ ghi là: “Hoa diễm diễm / Hoa diễm diễm / Yêu kiều xảo tự trang” (花艷艷 / 花艷艷 / 夭喬巧似粧...)... Tuy nhiên, về cơ bản các bài trong Cổ điệu ngâm từ đều là sao chép nguyên vẹn từ các tiểu thuyết nói trên mà thôi.

Ngoài 68 bài kể trên, còn 6 bài chưa rõ xuất xứ, đó là các bài: Tứ tự lệnh(Cách trì mĩ cơ隔池美姬...), Bộ thiềm từ (Vạn hộc tân sầu 萬斛新愁...), 2 bàiDương liễu chi từ (Bích ngọc quan trâm 碧玉冠簪..., Thanh tịnh đường tiền 清淨堂前...), Nam hương tử (Tình hứng lưỡng hòa hài 情興兩和諧...), và Giá cô thiên (Tá hạ tinh quan 卸下星冠...). Tuy chưa rõ xuất xứ, nhưng các bài này đều nằm trong một tập sách - một tập sách không ghi tác giả, niên đại, tựa, bạt... và trong đó, ít nhất đã có đến hơn 90% trên tổng số tác phẩm được chép từ các sách Trung Quốc - thì không có cơ sở để có thể kì vọng chúng có thể là tác phẩm của các tác giả Việt Nam.

Như vậy, có thể kết luận rằng: Cổ điệu ngâm từ (A.2262) chỉ là tập sách chép nhặt các tác phẩm thuộc thể loại từ trong các tiểu thuyết Trung Quốc (chủ yếu là chép từ Bình Sơn Lãnh Yến và đặc biệt là Quốc sắc thiên hương - một bộ tổng tập tiểu thuyết diễm tình của thời Minh), không phải là một từ tập của Việt Nam, do vậy, cần loại tác phẩm này ra khỏi phạm vi văn học Việt Nam.

 

Chú thích:

([1]) Xem Thần Điền Hỉ Nhất Lang (神田喜一郎 - Nhật Bản): Nhật Bản điền từ sử thoại(Trình Úc Xuyết 程郁綴, Cao Dã Tuyết 高野雪 - Trung Quốc - dịch). Bắc Kinh đại học xuất bản xã, 2000, tr.5-10.

(2) Ngô Sĩ Liên: Đại Việt sử kí toàn thư (bản dịch, tập I), Nxb. KHXH, H. 1993, tr.225.

(3) Phùng Khắc Khoan có sáng tác 3 bài từ. Xem Phùng Khắc Khoan: Ngôn chí thi tập, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán - Nôm, kí hiệu VHv. 1951.

(4) Trần Nghĩa: Thể loại từ của Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với văn học bản địa, in trong Tạp chí Hán Nôm, số 5/2005, tr.15.

(5) Trần Nghĩa, Bđd, đếm được 64 bài từ trong sách này. Sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu ghi là 73 bài./.

Nguồn: Tạp chí Hán Nôm, Số 3 (83) 2007; Tr. 62 - 66.

Các tin đã đưa ngày: