Diễn ngôn gián tiếp tự do trong truyện ngắn Cá sống của Nguyễn Ngọc Thuần

31/07/2014

Nguyễn Ngọc Thuần được biết đến như một tác giả viết truyện cho thiếu nhi với hai tác phẩm nổi tiếng Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổ và Một thiên nằm mộng. Tuy nhiên, mảng viết dành cho người lớn của anh cũng là một đóng góp không nhỏ cho văn xuôi Việt Nam đương đại. Tập truyện ngắn Cha và con và… tàu bay của Thuần đã được nhiều bạn đọc cũng như giới phê bình đón nhận. Những giấc mơ mà tôi đi tìm, Bước qua một quãng đồi dài, Ánh sáng trong đêm cồn cát… đều là những truyện ngắn tinh tế và dạt dào cảm xúc. Nhưng có lẽ lạ và ấn tượng nhất trong số mười chín truyện ngắn của tuyển tập là Cá sống.

Diễn ngôn gián tiếp tự do trong truyện ngắn Cá sống của Nguyễn Ngọc Thuần

 

Hoàng Tố Mai

 

Nguyễn Ngọc Thuần được biết đến như một tác giả viết truyện cho thiếu nhi với hai tác phẩm nổi tiếng Vừa nhắm mắt vừa mở cửa sổMột thiên nằm mộng. Tuy nhiên, mảng viết dành cho người lớn của anh cũng là một đóng góp không nhỏ cho văn xuôi Việt Nam đương đại. Tập truyện ngắn Cha và con và… tàu bay của Thuần đã được nhiều bạn đọc cũng như giới phê bình đón nhận. Những giấc mơ mà tôi đi tìm, Bước qua một quãng đồi dài, Ánh sáng trong đêm cồn cát… đều là những truyện ngắn tinh tế và dạt dào cảm xúc. Nhưng có lẽ lạ và ấn tượng nhất trong số mười chín truyện ngắn của tuyển tập là Cá sống. Nó chỉ dài gần 9 trang sách khổ 12,5x20,5 nhưng tràn ngập những chi tiết kỳ quái, thậm chí có thể coi đây là một truyện ngắn kinh dị.

Nhân vật kể chuyện (được viết từ ngôi thứ nhất) kể về cuộc sống của  người cậu thiểu năng trí tuệ. Anh ta nghiện ăn cá sống nguyên con, ngày nào gia đình cũng phải chu cấp cá sống cho anh ta. Theo suy đoán của người anh rể (cũng là cha của nhân vật kể chuyện), sở dĩ  người cậu ra nông nỗi này là do bà ngoại lúc mang thai cậu toàn nằm mơ những giấc mơ “quái quỉ” về biển cả, chẳng hạn bà mơ thấy mình sinh ra những con cá có gai trên lưng. Có lẽ vì thế bà đã cho ra đời một đứa con nghiện  ăn cá sống. Tuy không hài lòng về căn bệnh tạp ăn của người em vợ nhưng người anh rể vẫn đi bắt cá đều đặn chu cấp cho anh ta. Trong nhà có hai cái hồ nhỏ (một dạng bể chứa cá). Một hồ ngoài sân có hai ông tiên đánh cờ dùng để thả khẩu phần cá hàng ngày cho người cậu. Một cái hồ bí mật khác ở dưới gầm giường người anh rể dùng để trữ cá. Ở trong đó có hàng chục con cá ngày cũng như đêm bơi lội trong bóng tối. Một hôm, vì vớ phải một con cá hung dữ “thơm mùi quỉ sứ” nên người cậu đã bị chết thảm do con cá quẫy quá mạnh trôi tuột vào cổ họng. Sau khi anh ta chết cái hồ cá bí mật bị lãng quên. Năm mươi con cá đã xâu xé ăn thịt lẫn nhau đến mức hàm răng chúng trở nên “nhọn hoắt” còn khuôn mặt thì “gầy trơ xương”. Cho đến khi hồ cá được mở ra thì chỉ còn lại một con cá “gớm ghiếc” duy nhất đang bơi lượn. Vì quá sợ hãi nên gia đình đó đã phải đổ cả cá lẫn nước trong hồ chứa  xuống con sông gần nhà.

Một câu chuyện khá rùng rợn. Những tính từ mang sắc thái kinh dị như “quái đản”, “quái quỷ”, “quỷ sứ”, “ác quỷ”, “rùng rợn”, “gớm ghiếc”… được đưa vào liên tục suốt chiều dài tác phẩm. Bản thân diện mạo của người cậu cũng được miêu tả đáng sợ, “miệng đầy răng sâu”, “đôi mắt trắng dã”, “gục gặc đầu khi ăn cá”. Điều khác biệt ở đây là một câu chuyện rùng rợn như thế lại được kể bằng môt giọng văn tinh tế, phảng phất chất thơ, vốn là nét đặc trưng trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Thuần. Ngay từ những dòng đầu tiên trong Cá sống ta có thể cảm nhận được chất thơ man mác của nó.

Từ giây phút đó đã là quá muộn rồi (tác giả bài viết nhấn mạnh). Cuộc đời cậu đã dạy dỗ cả nghìn con cá về sự sai lầm của chúng. Cậu ăn ngày ăn đêm. Tôi cũng chưa từng thấy ai có thể ăn ngấu nghiến ngon lành như cậu”(1).

Có thể nhận ra ngay câu đầu tiên của đoạn viết  thuộc loại diễn ngôn gián tiếp tự do (Free indirect discouse). Không đơn nghĩa như diễn ngôn trực  tiếp (direct discouse) và gián tiếp (indirect discouse), diễn ngôn gián tiếp tự do thường mở ra nhiều hướng tiếp nhận, trở thành kiểu lời nói đặc trưng cho ngôn ngữ trần thuật đa thanh. Diễn ngôn gián tiếp tự do thường xuất hiện với tần số cao ở những tác phẩm có sự xâm nhập lẫn nhau giữa truyện hư cấu và tự truyện. Một trong những đặc điểm cơ bản của diễn ngôn gián tiếp tự do là tính song điệu. Đây là kiểu lời nói có sự hòa trộn giữa ngôn ngữ người kể chuyện và ngôn ngữ nhân vật, giọng người kể và giọng nhân vật lẫn vào nhau. Không đồng nhất với độc thoại nội tâm nhưng phần lớn diễn ngôn gián tiếp tự do đều gắn với ngôn ngữ độc thoại và dòng tâm tư nhân vật(2). Có thể thấy diễn ngôn gián tiếp tự do mở đầu cho Cá sống mang đầy đủ những đặc điểm đã nêu trên. Câu văn không có chủ ngữ, nó giống như  lời thốt ra từ miệng hay tâm tưởng của nhân vật kể chuyện hoặc tác giả. Khi đọc Từ giây phút đó đã là quá muộn rồi có ba câu hỏi được dấy lên gần như đồng thời. Giây phút đó là giây phút nào? Cái gì quá muộn rồi? và Quá muộn đối với ai? Đây thực sự là một diễn ngôn lơ lửng giàu ám gợi. Nó tạo nên chất thơ ngay từ phần mở đầu truyện ngắn. Trong Đây thôn vĩ dạ, câu thơ đầu tiên Sao anh không về chơi thôn Vĩ? cũng đã từng tạo ra những câu hỏi thắc mắc từ phía độc giả. Người đặt câu hỏi trên là nam hay nữ? Anh ở đây là ai? Đó là một nguời đàn ông cụ thể hay chỉ là một đại từ nhân xưng được xướng lên với mục đích nhằm tạo ra một vần thơ lửng lơ, không xác định? Và liệu có phải  tác giả đã tự vấn chính mình vì để vợi đi phần nào tâm trạng cô đơn, buồn bã? Vân vân và vân vân. Tuy diễn ngôn gián tiếp tự do mở đầu của Cá sống không mơ hồ và bí ẩn như Sao anh không về chơi thôn Vĩ? nhưng rõ ràng nó cũng phảng phất nỗi phiền muộn và tiếc nuối.

Ở trang thứ tư của truyện ngắn ta lại gặp một diễn ngôn gián tiếp tự do khác.

Con người ta sống chỉ bằng những ám ảnh. Lúc đầu tôi không tin ý nghĩ này, dù nó cứ luôn vụt qua đầu tôi. Nhưng bây giờ thì tôi tin rồi”(3).

Lần này thì chính tác giả truyện ngắn chủ động in nghiêng câu đầu tiên của đoạn văn và cũng là một diễn ngôn gián tiếp tự do quan trọng khác trong Cá sống. Vẫn không xác định được chính xác ai là chủ thể phát ngôn (nhân vật kể chuyện hay tác giả?), chỉ biết rằng lời thốt ra đó tràn ngập cảm giác hoài niệm và day dứt. Và đó cũng chính là cảm xúc chủ đạo của truyện ngắn này.

Diễn ngôn gián tiếp tự do tiếp theo trong Cá sống nằm ở trang thứ tám.

Đã nói con người ta sống chỉ bằng những ám ảnh. Nó ám ảnh cả mười năm sau. Hai mươi năm sau và hơn thế”(4).

Tác giả láy lại diễn ngôn gián tiếp tự do đã được sử dụng ở trang thứ tư. Vẫn là một lời thốt ra lơ lửng, không thể xác định rõ chủ ngữ. Ngoài ra,  truyện ngắn này mang dáng dấp tự truyện hư cấu nên khó xác định được câu “Đã nói con người ta chỉ sống bằng ám ảnh mà” là lời của nhân vật kể chuyện hay chính tác giả. Khi một diễn ngôn tự do lơ lửng như vậy xuất hiện câu chuyện dường như được tạm ngưng lại, một thoáng ngơi nghỉ xen vào giữa bề bộn những sự cố kinh dị về cá. Một cảm giác bâng khuâng, hoài niệm từ đâu đó chợt xen vào. Và từ đó, ấn tượng về một giọng kể đa thanh đã xuất hiện trong cảm nhận của người đọc.

Kết thúc truyện, chúng ta lại gặp một diễn ngôn tự do khác, nó bắt đầu bằng một lời văng tục.

Vứt mẹ nó xuống sông, trút nó xuống như người trút một nỗi sợ hãi: vội vàng, không kịp suy tính và sau khi về nhà lại tiếp tục mang nó trong tâm tưởng mình. Nó làm chúng tôi nhớ về cậu, nhớ những buổi sáng, cậu đã ngồi nhìn những con cá hung ác kia với một ánh mắt trẻ thơ nhất…”(5).

Lời văng tục trên không hề ảnh hưởng tới chất thơ phảng phất trong Cá sống. Trái lại, nó giống như một nhát cắt bất ngờ nhưng hợp lý. Những thứ được trút đi ở đây đều hung hiểm, dơ bẩn giống như là hiện thân của Quỷ. Cho dù quá khứ vẫn ám ảnh nhưng dẫu sao nó cũng đã kết thúc.  

Nhiều bạn đọc cho rằng Cá sống mang những ẩn dụ về nhân sinh nghiệt ngã kiểu như “ác giả ác báo” hay “cá lớn nuốt cá bé”. Nhưng chưa chắc đó là chủ ý của Nguyễn Ngọc Thuần. Bản năng nguyên thủy của người cậu thiểu năng (ăn cá sống) cũng như cái cách người ta đối xử với những con cá hiền lành (nhốt cá trong bể kín rồi bỏ quên) đều tạo ra những khoảnh khắc thật kinh hãi của thực tại. Có thể thấy sự hiện diện của quỷ tính tràn ngập trong Cá sống. Vậy thì quỉ tính luôn ngự trị ngay trong tâm trí con người hay thực ra nhiều khi, nó được tạo ra một cách ngẫu nhiên và tình cờ? Cả hai nhân vật trong truyện, người cậu và anh rể của anh ta, đều là những người lương thiện. Người cậu thiểu năng luôn ăn cá với nụ cười hiền lành. Ngoài việc ăn cá sống ra anh ta chẳng làm gì hại ai. Người anh rể là người luôn có trách nhiệm với em vợ. Ông ta nhốt cá trong bể kín cũng chỉ vì muốn dự trữ thức ăn cho người em vợ và cũng để anh ta không ăn quá nhiều cá sống đến mức lâm bệnh. Vậy mà những sự kiện quỷ quái cứ liên tiếp xảy ra để rồi trở thành nỗi ám ảnh của cả gia đình trong chuỗi ngày dài sau đó. Điều đáng chú ý ở đây là thái độ của người kể chuyện hoặc cũng có thể coi là của chính tác giả với những sự cố rùng rợn đã diễn ra. Một loạt diễn ngôn gián tiếp tự do cài đặt suốt chiều dài câu chuyện không hề bộc lộ thái độ ghê tởm hay ghét bỏ, có chăng chỉ là chút hối tiếc và những ám ảnh dai dẳng về cá. Thực ra, việc sử dụng một loạt diễn ngôn gián tiếp tự do để tạo ra một mạch thơ ngầm xuyên suốt tác phẩm không phải một thủ pháp sáng tác quá xa lạ. Cách đây nửa thế kỷ, nhà văn mỹ Toni Morrison đã từng tạo ra một mạch ngầm tương tự trong cuốn tiểu thuyết Mắt biếc. Thay bằng việc đánh số cho mỗi chương Morrison đã đặt tên chương theo mùa: Mùa thu, mùa đông, mùa xuân, mùa hạ. Ở đầu mỗi chương bà đưa vào những dòng kể bâng quơ giống như lời nói ngô nghê dễ thương của con trẻ. Đây là căn nhà màu xanh và trắng có cửa màu đỏ căn nhà thật xinh xắn thật xinh xắn xinh xắn xinh xắn. Hay Hãy nhìn con mèo nó vừa đi vừa kêu meo meo lại đây chơi lại đây chơi với Jane mèo ơi mèo con không thèm chơi chơi chơi chơi chơi và cuối cùng là Nhìn nhìn đây này một người bạn đến bạn sẽ chơi đùa với Jane chúng sẽ chơi đùa rất vui Jane chơi đùa đi Jane(6). Cho tới khi câu chuyện kết thúc, những dòng viết mào đầu mỗi chương khiến bạn đọc lờ mờ hình dung ra một cô bé tên là Jane, cô sống rất hạnh phúc với bố mẹ và những người bạn của mình và điều này dường như chẳng ăn nhập gì với số phận bi thảm của những cô bé da đen tội nghiệp. Có lẽ vì sợ khó hiểu cho độc giả  Morrison đã gộp tất cả những dòng này lại và đưa vào trang đầu tiên của tiểu thuyết. Thực ra chỉ cần đọc kỹ một chút độc giả có thể hình dung ra tác giả cố đưa vào tiểu thuyết một lạch ngầm xuyên suốt nhằm bật lên cuộc đời khốn đốn của  những bé gái da đen nghèo khổ mà hình ảnh của những cô bé như Jane (có lẽ là da trắng) cứ lơ lửng chập chờn  khiến cho chúng lúc nào cũng thèm muốn và tuyệt vọng.

Trở lại với Cá sống, nếu như gộp tất cả những lời gián tiếp tự do và sắp đặt chúng  đúng như thứ tự trong truyện chúng ta sẽ có một khổ thơ tự do bốn câu

Từ giây phút đó đã là quá muộn rồi

Con người ta chỉ sống bằng những ám ảnh

Đã nói con người ta chỉ sống bằng những ám ảnh mà

Vứt mẹ nó xuống sông, trút nó xuống như người ta trút

một nỗi sợ hãi

Không thể qui kết Nguyễn Ngọc Thuần đã xé lẻ một bài thơ nào đó của mình rồi dùng từng câu một cài đặt rải rác trong truyện ngắn Cá sống. Nhưng chắc chắn không phải ngẫu nhiên mà chúng đều là những diễn ngôn lơ lửng giàu chất thơ. Một mạch thơ ngầm xuyên suốt đã được tạo ra, nó khiến cho Cá sống có một cấu trúc thơ thực sự. Cấu trúc thơ đó cùng với giọng kể được tết dệt từ những câu văn tinh tế, trong vắt đã biến một câu chuyện kinh dị về cá trở thành một tác phẩm nghệ thuật thuần khiết đầy ám gợi1

_____________

(1) Nguyễn Ngọc Thuần: Cá sống, tuyển tập Cha và con và… tàu bay, Nxb. Hội Nhà văn, 2006, tr.149.

(2) Xem Thái Phan Vàng Anh: Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, tháng 2-2010, tr.105, 106, 107.

(3), (4), (5) Nguyễn Ngọc Thuần, Sđd, tr.153; tr.156; tr.157.

(6) Xem Toni Morrison: Mắt biếc, Nxb. Trẻ, 1995.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 9/2010
 
Các tin đã đưa ngày: