Phú chữ Hán, những đóng góp mới của Ngô gia cho thể loại

17/09/2014

Nhìn chung, sau thế kỷ XV, vị trí của phú chữ Hán trên văn đàn có phần bị phú Nôm thay thế, càng về những thế kỷ sau càng có nguy cơ bị "bỏ rơi". Điều đó có phần nào như một lẽ tất yếu, bởi trong hành trình văn học trung đại, thể loại luôn có tính lịch sử, mỗi giai đoạn có một thể loại thích hợp nhất của mình. Ngay ở Trung Quốc, nơi phát sinh, phú cũng chỉ là thể loại vương giả của đời Hán, nhưng nói vậy không hẳn là các thế kỷ sau phú không có những giai tác. Thu thanh phú của Âu Dương Tu đời Tống là một ví dụ. Việt Nam trong các thế kỷ XVI, XVII phú chữ Hán ít hẳn và dường như không có tác phẩm nổi tiếng. Nhưng Ngô gia văn phái đã có công khôi phục lại vị trí của phú trên văn đàn và đem đến những vẻ đẹp mỹ cảm mới cho phú, khiến các văn nhân say mê. Sang đầu thế kỷ XIX nhiều đại gia lại tiếp tục thành công về phú, như Nguyễn Văn Siêu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, các bài phú này cũng thuộc phong cách vừa trữ tình, vừa tự sự, vừa nghị luận văn chương. Có phải chính Ngô gia đã khởi xướng, góp phần tạo nên một phong cách mới của phú thời cận đại?

Phú chữ Hán, những đóng góp mới của Ngô gia cho thể loại

 

Trần Thị Băng Thanh

 

Phú chữ Hán, cũng như thơ chữ Hán, vào Việt Nam rất sớm. Hiện tại bài phú sớm nhất còn được sách vở biết đến là Bạch vân chiếu xuân hải của Khương Công Phụ làm từ đời Đường. Nghệ thuật bài phú đã rất điêu luyện, Lê Quý Đôn phải khen là “văn chương đẹp đẽ”. Đến đời Lý, phú đã được đưa vào chương trình thi, các triều đại sau cũng vậy. Tuy nhiên các bài phú tồn tại đến ngày nay và có đời sống văn học hầu hết là phú ngoài trường thi và những bài hay nhất thường là những bài sáng tác theo cảm hứng, như Bạch Đằng giang phú, Ngọc tỉnh liên phú, Thiên Hưng trấn phú. Đến thế kỷ XV, thời Lê sơ phú đạt đến đỉnh cao, là thời hưng thịnh nhất của phú chữ Hán Việt Nam. Sau đó từ thế kỷ XVI-XVII trở đi là thời kỳ sút kém của phú chữ Hán. Có nhiều cách lý giải. Có người cho rằng sau thời Hồng Đức xã hội Việt Nam rơi vào tình trạng loạn lạc, kẻ sĩ vừa “phân tâm” vừa không có nhiều thời gian “chạm trổ chữ nghĩa”, phú tuy vẫn được sử dụng trong thi cử nhưng do điều kiện “ra đề hạn vận” bó buộc sự sáng tạo nên ít có bài hay. Thêm nữa do ảnh hưởng của kinh tế thị dân, thị hiếu của văn nhân cũng bị cuốn theo những thể loại mới hấp dẫn hơn như ký, truyện chương hồi, ca ngâm. Nhưng có lẽ còn một nguyên nhân sâu xa nữa, bởi bản chất của phú là “phô bày, trình bày vẻ đẹp của văn chương, lấy sự vật để nói chí” (Lưu Hiệp - Văn tâm điêu long - Thuyên phú)(1), rất thích hợp cho việc tụng ca. Thời Trần, thời Lê sơ là giai đoạn anh hùng của lịch sử dân tộc, đem lại nhiều cảm hứng hào sảng cho văn nhân, phú phát triển, đạt được thành tựu rực rỡ chính vì lẽ đó. Thế kỷ XVI, XVII, trên văn đàn phú chữ Hán thưa thớt, cũng có bài được coi là một tuyệt tác như Phi Lai tự phú của Nguyễn Đăng, nhưng nhìn chung, quả thực phú có phần rơi vào tình trạng bế tắc. Có người còn nhận định rằng sau thế kỷ XV phú chữ Hán đi dần đến bước cáo chung(2). Tuy vậy, dù không còn tâm thế và điều kiện để gọt giũa những áng văn giàu tính tụng ca, ngôn từ khoa trương, hùng hồn, lộng lẫy, đòi hỏi nhiều chữ nghĩa, nhưng các danh sĩ Việt Nam cũng không phải đã không còn bị “ma lực” của vẻ đẹp thể loại hấp dẫn. Và các tác gia dòng Ngô Thì có lẽ tiêu biểu cho xu hướng ấy. Phú là một thành tựu đặc sắc của Ngô gia, nếu làm tổng tập phú của dòng văn này thì chỉ trong khoảng dăm chục năm, từ Ngô Thì Sĩ đến Ngô Thì Điển, ba thế hệ nhà văn Ngô Thì đã sáng tác đến khoảng 50 bài phú, người nhiều nhất là Ngô Thì Nhậm 16 bài, Ngô Thì Du 11 bài. Đó là con số đạt gần đến kỷ lục của thời Lê sơ. Điều đặc biệt là trên phân nửa tác phẩm đó được viết khá đều tay, nhiều tác phẩm có giá trị mỹ cảm cao. Trong Ngô gia văn phái không thấy lưu giữ những bài phú làm trong trường thi, chỉ có một số bài được viết theo “đơn đặt hàng” của chúa, ví như bài Quan phu tử phú, Xuân hạ thu đông phú của Ngô Thì Sĩ. Riêng bài Quan phu tử phú được sáng tác trong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Trịnh Doanh triệu tập các văn thần vào phủ chúa ra đề cho sáng tác, không rõ trong bao nhiêu thời gian, nhưng đêm khuya, Ngô Thì Sĩ hai ba lần được chúa sai gia thần mang ban hoa quả và bảo viết được đoạn nào cứ dâng lên để chúa thưởng lãm, không cần chờ toàn bài. Thực ra Quan phu tử phú không xuất sắc bằng những bài được viết bằng cảm hứng như Tây Hồ phong cảnh phú, Nhị Thanh động phú..., nhưng điều Trịnh Doanh quan tâm có lẽ là cách đánh giá của Ngô Thì Sĩ về Quan Công và có thể cả cách viết uyên áo, chữ nghĩa kỹ càng... Ngô Thì Du, Ngô Thì Hoàng về sau cũng có một số bài viết theo chủ đề răn giới, tụng ca như Huấn tử phú, Tư hiếu phú, Đại nghĩ Sơn Nam trấn đường công thuật thế đức phú, nhưng đó không phải là con đường chính yếu của phú Ngô gia. Như quan niệm về văn, chú trọng tiêu chí giản dị, coi trọng tình cảm cá nhân, phú của Ngô gia không chuộng “điêu trùng tiểu kỹ”, ít bài thể hiện chức năng phúng gián, tụng ca, khoa trương cách điệu mà trữ tình, tả thực, đôi khi xen lẫn cả hồi ức mang tính chất . Các nhà văn Ngô gia thường gửi gắm tâm tư tình cảm thực và cả hoài bão của mình trong phú. Do vậy phú của Ngô gia giàu sắc thái trữ tình, đậm dấu ấn cá nhân, đó là nét đặc sắc mà Ngô gia đem lại ít nhiều cho nghệ thuật của phú, cũng có thể nhờ vậy mà tạo nên sự hấp dẫn mới cho phú chữ Hán. Khởi đầu xu hướng ấy là Ngô Thì Sĩ với bài Tây Hồ phong cảnh phúNhị Thanh động phú. Đọc phú của Ngô Thì Sĩ có thể thấy rõ sự suy tư và tấm lòng một vị quan chức dành cho dân chúng, cho công việc, cũng thấy rõ cái tình, sự đam mê của một nhà nho tài tử dành cho thiên nhiên đất nước. Trong sự ngắm nhìn của Ngô Thì Sĩ, mọi cảnh trí Hồ Tây đều được lồng trong không gian khói sóng mơ màng, mang một vẻ đẹp vừa trần thế vừa tiên cảnh:

     Uông dương tứ triệt;

     Hoàn lạo song nghi.

     Hoa  trúc  sâm  si  yên  ngoại  tự;

     Phong đôi ẩn ước thủy biên ly.

     Bái cự nhuận ư Hoàng đô, dục lộ miên âu thiên khoảnh tú;

     Bão hồng đào ư thiên hạm, thôn ngưu thổ phượng thập phân kỳ.

     [...] Diệc hoặc:

     Ba bình tố luyện;

     Vụ tễ hàn đường.

     Trấn Quốc chi liên hoa thập trượng;

     Nghi Tàm chi tang diệp bách khuông.

     Ngư lang tế vũ chi chu, tần đinh thướng há;

     Mục thụ tà dương chi địch, hòa lũng đê ngang.

                                       (Tây hồ phong cảnh phú)

  (Nước mênh mang tứ phía,

     Sóng dào dạt quanh bờ;

     Trúc hoa thấp thoáng chùa ngoài khói;

     Chòm góc lô xô đá vệ hồ.

     Làn nước cả tưới hoàng đô, đẹp nghìn khoảnh âu nằm cò tắm;

     Dải sóng cồn quanh thiên hiểm, lạ mười phần phượng hấp trâu hô.

     [...] Lại như:

     Sóng im màu lụa bạch;

     Đầm lạnh ngút mù tan.

     Chùa Trấn Quốc sen tươi, hoa cao chục trượng;

     Bãi Nghi Tàm dâu tốt, lá hái trăm làn.

     Thuyền ngư phủ lướt mưa bay, bơi rẽ bè rau lên xuống;

     Sáo mục đồng tung bóng xế, thổi ran lũng lúa mau khoan)(3)

                                                                   (Tham Tuyền dịch)

Bài Tây Hồ phong cảnh phú dường như để lại nhiều gợi ý cho bài Tụng Tây Hồ phú của Nguyễn Huy Lượng sau này, còn bài Nhị Thanh động phú thì tình yêu và con mắt “tri kỷ” của quan Đốc trấn đối với núi rừng đã thức tỉnh ý tình cả một giới quan chức trong vùng đối với quê hương:

     Phiên tướng các khỉ (khởi),

     Trì bôi tửu dĩ thọ cư sĩ ,

     Tự ngôn biên thú, sinh trưởng thế thế;

     Vị thức thử sơn, hữu thử thú trí.

     Tạo hoá chi tàng, đương dĩ đãi nhân;

     Trí nhân giả lạc, khởi vi vô ý.

     (Các vị phiên tướng đứng dậy, nâng chén chúc thọ cư sĩ,

     Tự nói “Ở biên giới đây đã nhiều thế hệ;

     Chưa biết núi này có cảnh đẹp thế.

     Con tạo cất dấu dành để đợi người;

     Nhân trí cùng vui, há không có ý!”)(4)

Cũng như đối với thơ, trong phú Ngô Thì Sĩ đã dành một phần trân trọng cho những con người bình thường và những vấn đề đời thường. Tuy vậy nhưng người tài hoa và thành công nhất về phú trong Ngô gia lại là Ngô Thì Nhậm. 16 bài phú của ông, được sáng tác từ mùa đông năm Kỷ Hợi (1779) đến trước 1800, trong đó thời gian nào nhiều tâm sự và “việc quan nhàn” ông sáng tác được nhiều nhất, ví như thời gian ẩn lánh ở Thái Bình ông viết đến 8 bài. Có lẽ về số lượng, trong các tác gia phú thời trung đại, Ngô Thì Nhậm chỉ đứng sau Nguyễn Mộng Tuân (thế kỷ XV), người đã viết đến 41 bài phú (theo Trần Thị Kim Anh là 35 bài)(5); nhưng nếu như phú của Nguyễn Mộng Tuân còn có một số bài thù phụng khô khan, nhàn nhạt, thì trái lại 16 bài phú của Ngô Thì Nhậm đều có thể xem là giai tác, đều được viết ra bằng tâm huyết. Phú của Ngô Thì Nhậm phần nhiều được viết theo lối cổ thể, nhưng lại không còn đậm tính chất của phú cổ, tụng ca vua chúa, triều đại, như thời kỳ hưng thịnh của thể loại mà phần lớn là để biểu đạt, tỏ bày những trăn trở ưu tư, những suy nghĩ về nhiều vấn đề liên quan đến cuộc đời, số phận kẻ sĩ như chính bản thân tác giả. Có những câu hỏi rất sâu mang tính biểu tượng về một sự hoài nghi: ánh trăng hay là ánh tuyết, trời đã sáng hay còn đêm, mà cái ý ẩn sâu phía sau đó là mối quan hệ giữa vũ trụ với con người, giữa con người với nhau, giữa cõi tiên với cõi trần, giữa khoảnh khắc và tồn tại. Nhưng hay nhất của phú Ngô Thì Nhậm là những bài đậm chất trữ tình, ở đó có những câu hỏi thể hiện sự khát khao mong mỏi một người tri kỷ nhưng thực chất là chờ đợi một minh quân có tài đưa đất nước qua cơn khủng hoảng, những đắn đo về cách hành xử của kẻ sĩ giữa lúc trời nghiêng đất lệch..., và cả sự mệt mỏi sau khi đã đạt đến đỉnh cao của thành công trong sự nghiệp để trở lại một trạng thái tâm tư gần như trống rỗng... Ngô Thì Nhậm được cha dạy phải lập chí ở mức cao nhất - Trạng nguyên, Tể tướng – cũng có nghĩa là phải đạt được thành công cao nhất trên con đường “kinh bang tế thế”. Nhưng rồi chỉ thoáng chốc bể dâu biến đổi, Ngô Thì Nhậm từ hàng quan triều được tri ngộ trở thành một tội nhân phải trốn chạy chui lủi! Đạo lý tam cương ngũ thường, công tội ân oán, rồi sự hưng vong của một dòng tộc, phải lý giải như thế nào? Ngô Thì Nhậm đem theo bộ Kinh Xuân thu, tìm đến tận gốc những lý thuyết chính thống để giải đáp những băn khoăn của mình, nhưng trong lòng ông vẫn đầy ắp phân vân. Trong hoàn cảnh lánh ẩn, nhiều lần ông nói đến thú an nhàn “gặp cảnh ngộ nào vui cảnh ngộ ấy, với lòng không vướng mắc gì” (Lâm Trì phú), “tiêu dao để lòng luôn thanh thản” (Thiên quân thái nhiên phú), nhưng đó lại là điều ông không thể. Trước ao Lâm Trì, Ngô Thì Chí cho rằng ao khác biển, khác sông, không sóng to gió lớn, có thể đem lại cho anh sự bình yên trong tâm, nhưng Ngô Thì Nhậm thì không. Tâm tình ông vẫn bộn bề về cái lý đầy vơi tròn khuyết, tàn nở lặn mọc, quay dừng... của vũ trụ mênh mang, một mình “buồn nỗi thánh hiền xa biệt” và đau đáu về một chữ “thời”. Niềm hoài vọng “mỹ nhân một phương trời”, mong chờ người tri kỷ da diết đến độ trở thành niềm khắc khoải khiến ông nhiều lần phải trực tiếp bộc lộ... Phú của Ngô Thì Nhậm cũng nhiều bài sử dụng lối văn biện luận, ví như ở Vi chi phú ông biện luận về một quan niệm, tỏ quyết tâm đi theo con đường mình đã chọn bất chấp mọi trở ngại, văn chương cứng cỏi, mạnh mẽ. Còn ở Mộng Thiên Thai phú lại trình bày dưới hình thức một giấc mơ huyễn ảo giàu chất lãng mạn và trong sáng, sử dụng lối chủ khách trò chuyện tâm tình, bộc lộ khát vọng và ý chí của một kẻ sĩ đang tuổi tráng niên, quyết đem tài năng “kinh bang tế thế”. Bài phú như lời tuyên ngôn, Ngô Thì Nhậm khẳng định dứt khoát lý tưởng, hướng đi cho con đường phía trước:

                             Ngô hà năng tiên,

                             Thích diệc bất đáo.

                              Liêu tòng sự ư kinh tịch,

                             Cầu vô khiếm hồ danh giáo.

                             (Tôi sao thể thành tiên,

                             Phật, cũng không đắc đạo.

                             Chỉ theo hướng Thi Thư,

                             Khỏi trái điều “danh giáo”).

Và:

                             Uẩn mỹ ngọc dĩ thâm tàng,

                             Tiềm thần long hồ mạc khuy.

                             Dĩ đài phù tri ngô tử giả, hành ngô tử chi chí,

                                                           vận bát cực nhi cán cửu di.

                             (Ngọc tốt dấu kín nơi sâu,

                             Rồng thần lặn không kẻ thấy.

                             Chờ khi người biết đến mình,

                             Chí lớn nọ đem ra vùng vẫy.

                             Giúp tám cực mà chuyển xoay,

                             Vỗ chín cõi yên rường mối).

Mộng Thiên Thai phú vẫn được coi là thuộc loại hay nhất trong phú Việt Nam cổ kim.

Thưởng liên đình phú là bài phú Ngô Thì Nhậm viết sau cùng. Tác phẩm viết theo Tao thể nhưng có một sắc thái riêng, vừa mang tính hồi ức vừa tự sự, tự tác giả là nhân vật trung tâm. Tác phẩm thể hiện tâm trạng của một người “trở về” sau khi đã đem toàn tâm huyết sức lực đóng góp cho đất nước, để rồi chỉ bâng khuâng với những kỷ niệm nơi đã sống thuở ấu thơ mà không tìm lại được niềm tin trong sáng nơi cuộc đời. Những hoài niệm buồn vui về dĩ vãng, những trải nghiệm sâu sắc suốt cuộc đời đầy sóng gió được kể lại với một giọng điệu thâm trầm, và một lối văn trong sáng, giản dị, giàu hình tượng đã đem lại sự xúc động cho người đọc.

Sau Ngô Thì Nhậm, những bài Tục Thiên thai phú, Hoài Lâm Trì phú của Ngô Thì Chí, Đăng Ải Vân phú, Sơn hải kính phú của Ngô Thì Trí, Nông thoại phú, Khê kiều thu vịnh phú của Ngô Thì Hoàng, Hoài hương khế phú của Ngô Thì Hương, Thuật bệnh phú, Điệu mệnh phú, Ủy nông phú của Ngô Thì Du đều là những bài phú có những nội dung thiết thực, thể hiện những suy tư, lý tưởng, thân phận kẻ sĩ và gắn bó với những vấn đề lớn lao của dân của nước. Đó là những bài phú giàu tính văn chương, có giá trị biểu cảm cao, đáng được xếp vào hàng các bài phú hay, không thua kém những danh tác thuở thịnh thời của phú. Riêng hai bài về đèo Hải Vân (Đăng Ải Vân phú, Tục Ải Vân phú) của anh em Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Trí có thể coi là hai tác phẩm phú duy nhất (?) của văn học trung đại về ngọn núi vẫn được xem là cửa ải hùng vĩ, hiểm trở, một vị trí quan trọng trong quân sự, có thể sánh với cửa Hàm Cốc của nhà Tần.

Nhìn chung, sau thế kỷ XV, vị trí của phú chữ Hán trên văn đàn có phần bị phú Nôm thay thế, càng về những thế kỷ sau càng có nguy cơ bị "bỏ rơi". Điều đó có phần nào như một lẽ tất yếu, bởi trong hành trình văn học trung đại, thể loại luôn có tính lịch sử, mỗi giai đoạn có một thể loại thích hợp nhất của mình. Ngay ở Trung Quốc, nơi phát sinh, phú cũng chỉ là thể loại vương giả của đời Hán, nhưng nói vậy không hẳn là các thế kỷ sau phú không có những giai tác. Thu thanh phú của Âu Dương Tu đời Tống là một ví dụ. Việt Nam trong các thế kỷ XVI, XVII phú chữ Hán ít hẳn và dường như không có tác phẩm nổi tiếng. Nhưng Ngô gia văn phái đã có công khôi phục lại vị trí của phú trên văn đàn và đem đến những vẻ đẹp mỹ cảm mới cho phú, khiến các văn nhân say mê. Sang đầu thế kỷ XIX nhiều đại gia lại tiếp tục thành công về phú, như Nguyễn Văn Siêu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, các bài phú này cũng thuộc phong cách vừa trữ tình, vừa tự sự, vừa nghị luận văn chương. Có phải chính Ngô gia đã khởi xướng, góp phần tạo nên một phong cách mới của phú thời cận đại?

___________

(1) Tư liệu của Ban Văn học Cổ cận đại - Viện Văn học.

(2) Xin xem:

- Phạm Tuấn Vũ: Thể phú trong văn học trung đại Việt Nam. Nxb. KHXH, H, 2009, 276 trang.

(3) Theo Ngô Thì Sĩ. Nxb. Hà Nội, 1987, Sđd.

(4) Nhị Thanh động phú, trong sách Ngô Thì Sĩ, Sđd.

(5) Trần Kim Anh: Các thể văn chữ Hán Việt Nam. Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bản thảo.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3/2010

Các tin đã đưa ngày: