Tiếp nhận Khái Hưng ở miền Nam trước 1975

11/04/2013

Khái Hưng (1896-1947) là một trong những nhà văn trụ cột của Tự lực văn đoàn. Cùng với một vài nhà văn chủ chốt trong Tự lực văn đoàn như Nhất Linh, Thạch Lam, Xuân Diệu, Khái Hưng được tiếp nhận ở miền Nam từ khá sớm. Trong bài viết này, chúng tôi xin lược thuật và lược bàn về sự tiếp nhận tác phẩm của Khái Hưng. Đối tượng tiếp nhận ở đây là các nhà nghiên cứu, phê bình, các trí thức văn nghệ chứ không phải công chúng độc giả phổ thông mà theo chúng tôi, là bộ phận hết sức quan trọng trong lịch sử tiếp nhận cần được khảo sát riêng trong một công trình độc lập. Ngoài ra, danh từ Miền Nam xin được hiểu là không chỉ bó hẹp vào khoảng giai đoạn 1954-1975 mà rộng ra là phương Nam của tổ quốc (bao gồm cả giai đoạn từ năm 1932 đến 1945 - vốn được định danh là Nam Bộ).

Tiếp nhận Khái Hưng ở miền Nam trước 1975

Phan Mạnh Hùng

 

1. Ở chặng đường trước năm 1945, ngay cả khi đã thành danh với số lượng tác phẩm phong phú và khi Khái Hưng còn tại thế, sáng tác của ông đã có tiếng vang ở miền Bắc nhưng chưa có sức lan toả tương ứng ở miền Nam, tổng cộng các bài phê bình về Khái Hưng ở miền Nam cũng rất khiêm tốn. Có thể kể đến các bài viết về vở kịch Đồng bệnh, tiểu thuyết Nửa chừng xuân, Gánh hàng hoa của các bình giả Kiều Thanh Quế (1914-1947), Thiếu Sơn (1907-1977) và Trúc Hà (1909-1944?) trên Tạp chí Tri tân ở Hà Nội và báo Sống ở Sài Gòn.

Trên báo Sống, số 1 năm 1935, Thiếu Sơn đã phê bình tiểu thuyết Nửa chừng xuân. Đây là một trong những bài phê bình xuất hiện tương đối sớm về tác phẩm này không chỉ ở miền Nam mà còn cả nước. Thiếu Sơn đã có những so sánh giữa Hồn bướm mơ tiênNửa chừng xuân. Theo ông, tình yêu trong Hồn bướm mơ tiên là tình yêu “bình tĩnh, siêu phàm”, là thứ ái tình “ngoài xã hội”. Trái lại, tình yêu trong Nửa chừng xuân là tình yêu đời thường, giữa “nhân quần nên nó có vẻ ba đào thống thiết”. Nhân vật Mai cao thượng chẳng kém gì Lan, nhưng “cô không được tự do, tự chủ như chú tiểu. Cô còn có nhiều thân tình, nhiều nghĩa vụ, thì cô còn phải sống trong xã hội mà chịu những khổ hình của nó”. Giải thích vì sao Mai phải khổ, nhà phê bình trao đổi:

“Nhiều người nói là tại bà Án không cho Lộc lấy Mai. Nhưng ông Khái Hưng lại không nói thế. Ông nói rằng: bản tâm bà Án không ác, nhưng sự giáo hoá mà bà đã được hưởng nó bắt bà phải xử một cách tàn nhẫn với Mai. Chính ông đã để vào miệng Lộc những câu nói sau này: ‘Bao nhiêu sự lầm lỗi của mẹ ta nguyên chỉ ở chỗ quá suy tôn cổ tục, quá thiên trọng tập quán mà ra cả’”. Nhận xét sức hấp dẫn của Nửa chừng xuân, Thiếu Sơn cho rằng không chỉ đơn thuần ở mặt nội dung mà chính là nghệ thuật: “Nửa chừng xuân được thiên hạ hoan nghinh không phải vì cái triết lý cao thâm mà chính vì câu chuyện đậm đà có duyên, nhờ ở tài sáng tạo, nhờ ở cách kết cấu và nhất là nhờ ở cái văn thể vừa sáng sủa, dịu dàng, vừa thần tình linh hoạt”(1).

Tiếp nối, trên báo Sống, số 2 năm 1935, Thiếu Sơn phê bình Gánh hàng hoa - tác phẩm viết chung của Nhất Linh và Khái Hưng. Thiếu Sơn cho rằng tác giả Gánh hàng hoa là những nhà văn lý tưởng:

“Lý tưởng nên các ông miêu tả những cảnh sắc đẹp đẽ của thiên nhiên, những tính tình trong sạch của nhân loại (…) Bởi thế nên đọc sách của các ông Khái Hưng và Nhất Linh ta mới chỉ biết đời có một nửa, biết cái nửa cao thượng mà không biết cái nửa xấu xa. Nhưng có lẽ các ông lại nghĩ rằng những sự yếu hèn của nhân loại ở đời thiếu gì mà cần phải nói thêm nữa? Còn những đức tính thanh cao, những tình cảm trong sạch mới là những điều nên nói, nên tả để cảm hoá lòng người” (2).

Nhà văn Trúc Hà, một trong “Hà Tiên tứ tuyệt” và là cây bút trụ cột của báo Sống, trong bài viết Cái hay và cái dở của Tự lực văn đoàn - một văn phái mới trong nền văn học nước ta đăng trên báo Sống, số 28 năm 1935 đã có những nhận xét về tiểu thuyết Khái Hưng. Trúc Hà cho rằng, hai quyển tiểu thuyết chính, quan trọng của Tự lực văn đoàn chính là Đoạn tuyệt của Nhất Linh và Nửa chừng xuân của Khái Hưng. Theo nhà phê bình, trên phương diện cải cách xã hội, so với báo Nam Phong thì Tự lực văn đoàn không có sự bao quát rộng rãi, sâu xa bằng, nhưng được một điều là nó chuyên nhất. Mặt thành công, gây tiếng vang và có tác động đến xã hội của nhóm này chính là ở phương diện văn chương. Văn chương Tự lực văn đoàn góp phần làm cho người ta ghét những lề lối cũ, lạc hậu. Nhận xét về Nửa chừng xuân của Khái Hưng, nhà phê bình viết:

“…Trận xung đột của gia đình với cá nhơn bày ra thật rõ rệt. Người đọc lúc nào cũng cảm thấy những tư tưởng hẹp hòi, nghiêm khắc thường khi lại độc ác, đê tiện của những hạng người chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh xưa và lúc nào cũng yêu đương Mai và Loan, hai cá nhơn hoàn toàn bị bó buộc trong khuôn khổ gia đình cũ. Tự nhiên người ta sẵn lòng bênh vực Mai, Loan, nhơn đó người ta ghét những lễ nghi phiền phức, những thói tục hủ bại của thời trước và đem lòng hâm mộ những tư tưởng khoáng đạt, thanh cao, mĩ lệ rải rác phô bày trong truyện”(3).

Ngoài viết truyện ngắn và tiểu thuyết, Khái Hưng còn viết các vở kịch: Tục luỵ (1937), Cóc tía (1940), Đồng bệnh (1942). Kịch của ông dù không thật đặc sắc như các truyện ngắn và tiểu thuyết nhưng cũng đã gây được tiếng vang nhất định trong công chúng. Từ miền Nam, Kiều Thanh Quế đã viết bài phê bình Đồng bệnh - kịch của Khái Hưng. Bài viết của Kiều Thanh Quế đăng trên tạp chí Tri Tân ở Hà Nội năm 1942, cũng là năm xuất bản tập kịch Đồng bệnh. Điều đó cho thấy sự cập nhật, bao quát của nhà phê bình và phần nào tính chuyên nghiệp của nền phê bình hiện đại đầu thế kỷ XX. Trong bài viết của mình, Kiều Thanh Quế đã so sánh phong cách kịch của Đoàn Phú Tứ và kịch của Khái Hưng. Bình giả cho rằng, trong khi Đoàn Phú Tứ viết kịch với tâm hồn của một thi sĩ thì Khái Hưng viết kịch với bộ óc của một nhà tiểu thuyết; người đàn bà trong kịch của Đoàn Phú Tứ thường chủ động trong khi người đàn ông đóng vai trò quan trọng ở kịch của Khái Hưng. Nhật xét nội dung Đồng bệnh, nhà phê bình viết:

“Xem Đồng bệnh, hết nghị Vấn rồi đến thông Đán, cùng với nhau ‘đồng bệnh tương lân’ gây nên lắm chuyện buồn cười. Hai ông là sui gia với nhau. Vợ Nghị Vấn không gả con gái cho con trai mình, thì mất cho con trai mình một cái mỏ tốt. Thông Đán giả mắc bệnh suy nhược thần kinh như nghị Vấn. Vì thông Đán nghe mách rằng: ‘cái bệnh ấy, ai mà đã mắc phải thì rất hay thương, hay yêu người mắc cùng bệnh với mình’. Thông Đán đau giả, đập chén, đập bát; nhưng ‘chỉ đập toàn những bát đĩa xoàng thôi’. Chớ cái lô cổ, cái thống cổ, ‘những thứ ấy hàng trăm bạc, ai dại gì mà đập!’. Thông Đán điên mà không dại. ‘Điên khác, dại khác chứ’. Thảo nào thằng Sùng chẳng phê bình ông với con Thục rằng: ‘dễ ông điên khôn đấy mày ạ!’. Độc giả cũng như khán giả đọc đến đây, xem diễn đến đây, sao khỏi chẳng nhếch mép một nụ cười”(4).

Nhận xét, góp ý thẳng thắn, Kiều Thanh Quế đã chỉ ra chỗ mạnh, sở trường của Khái Hưng không phải nơi địa hạt kịch mà chính là tiểu thuyết:

 “Đồng bệnh là một hài kịch không lấy gì đặc sắc lắm (vả, kịch Khái Hưng thì bào giờ cũng chẳng đặc sắc!) nhưng, không đến nỗi bị loại chung vào với các kịch của Vũ Trọng Can! Ngòi bút Khái Hưng dồi dào lắm! Nhưng dồi dào đâu phải đồng nghĩa với đặc sắc?! Khái Hưng viết tiểu thuyết diễm tình, gia đình: thành công không ai chối cãi được. Bắt sang lịch sử tiểu thuyết, tác giả Tiêu sơn tráng sĩ vẫn còn đáng trọng hơn Lan Khai. Nhưng trong phạm vi kịch bản, chúng tôi không làm sao khỏi đặt Khái Hưng dưới Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ!”(5)

Nhìn chung, ở miền Nam trước 1945, tiếp nhận Khái Hưng chủ yếu là các bài phê bình tác phẩm. Sự tương thông giữa các vùng miền đã cho phép báo chí, văn hoá và học thuật có sự giao lưu, luân chuyển. Các bài phê bình gần như là đồng thời với những sáng tác của nhà văn, cho thấy sự cập nhật của trí thức sống ở miền Nam đối với tác phẩm Khái Hưng. Trong phê bình, các bình giả thường thiên về việc đọc nội dung xã hội và luân lý của tác phẩm mà ít chú ý nhấn mạnh mặt nghệ thuật. Đây cũng là xu hướng phê bình của nhiều cây bút ở miền Nam trước 1945. Những bài phê bình của Thiếu Sơn, Kiều Thanh Quế và Trúc Hà có thể coi là những tiếng nói của những người đương thời bàn về tác phẩm của Khái Hưng. Những ý kiến ấy không bị chi phối bởi ý thức hệ và mang tính chất tươi mới, mở đầu cho diễn trình tiếp nhận tác phẩm Khái Hưng về sau. Là ý kiến của những người đương thời, do vậy ít nhiều có tác động đến sáng tác của Khái Hưng.

2. Theo thời gian, tác phẩm của Khái Hưng càng được giới nghiên cứu phê bình chú ý. Theo tìm hiểu có thể là chưa thật đầy đủ của mình, chúng tôi thấy ở miền Nam trong khoảng từ 1954 đến 1975 có hơn 30 bài viết, công trình nghiên cứu phê bình dạng bài báo và sách in đề cập đến con người và sáng tác của Khái Hưng(6). Các bài viết này có thể phân thành 2 loại: cụm bài nghiên cứu phê bình về sáng tác và sự nghiệp văn học của Khái Hưng và cụm bài có tính chất hồi tưởng những kỷ niệm của những người cùng thời với nhà văn.

Cụm bài nghiên cứu, phê bình về tác phẩm, sự nghiệp sáng tác của Khái Hưng có các bài viết đáng chú ý bao gồm của Doãn Quốc Sĩ: Vài ý nghĩ về cuốn Trống mái (Luận đàm bộ I, số 1-1960) và Đọc Khái Hưng: Nửa chừng xuân (Luận đàm bộ I, số 5-1961); Dương Nghiễm Mậu: Nhân nghĩ về Khái Hưng (Văn, số 22-1964); Đỗ Minh Vọng: Nhân vị trong “Hồn bướm mơ tiên” (Đại học, số 4+5-1958); Nguyễn Duy Diễn: Mai, một nhân vật khả ái của Khái Hưng (Hiện đại, số 3-1960); Nguyễn Văn Trung: Tình yêu hiến dâng trong Hồn bướm mơ tiên trong Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết (Nam Sơn xuất bản, 1965); Nguyễn Xuân Thu: Khái Hưng nhà văn sáng giá (Văn học, số 33-1965); Nhiều tác giả: Khái Hưng, thân thế và tác phẩm (Nam Hà xuất bản, Sài Gòn, 1972); Phạm Thế Ngũ: Khái Hưng trong Việt Nam văn học sử giản ước tân biên (Quốc học tùng thư, Sài Gòn, 1965); Thư Trung: Khái Hưng thân thế và tác phẩm (Văn, số 22-1964);... ngoài ra là những đánh giá về Khái Hưng của các nhà nghiên cứu khi họ viết về Tự lực văn đoàn.

Hầu hết các tác phẩm của Khái Hưng lần lượt được nhà sách Khai Trí phối hợp với nhà xuất bản Đời nay tái bản: Nửa chừng xuân, Lời nguyền, Trống mái, Số đào hoa, Tục luỵ, Cái ve, Hồn bướm mơ tiên, Tiếng suối reo, Thừa tự, Dọc đường gió bụi, Đợi chờ, Đồng bệnh, Những ngày vui, Đẹp, Đội mũ lệch, Thoát ly, Gia đình, Hạnh; những tác phẩm viết chung với Nhất Linh như: Đời mưa gió, Gánh hàng hoa, Anh phải sống. Do vậy, tiếp nhận tác phẩm Khái Hưng ở miền Nam giai đoạn từ 1954 đến 1975 được thuận lợi.

Tác phẩm Khái Hưng cùng với Nhất Linh và Hoàng Đạo được đưa vào chương trình chính khoá trong trường phổ thông ở miền Nam. Theo đó, các sách dạng “luận đề” về tác giả, tác phẩm của Khái Hưng được biên soạn nhằm phục vụ cho việc học và thi của học sinh. Những sách này phần lớn do các nhà giáo biên soạn và có tính chất của những sách giáo khoa. Các tác giả viết sách luận đề về Khái Hưng có thể kể: Doãn Quốc Sĩ: Tự lực văn đoàn (Hồng Hà xuất bản, Sài Gòn, 1961); Chu Đăng Sơn: Luận đề về Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Mười điều tâm niệm (Thăng Long xuất bản, Sài Gòn, 1960); Lê Hữu Mục: Khảo luận về Khái Hưng (Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên) (Trường Thi xuất bản, Sài Gòn 1958); Nguyễn Duy Diễn và Bằng Phong: Luận đề về Khái Hưng (Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1960)… và nhiều sách luận đề về Tự lực văn đoàn của các tác giả Văn Ninh, Xuân Tước, Nguyễn Văn Xung có đề cập đến sự nghiệp sáng tác của Khái Hưng.

Cụm bài về những kỷ niệm, hồi tưởng về Khái Hưng của bạn văn, trí thức cùng thời và người thân có thể kể: Hồ Hữu Tường: Khái Hưng, người thứ nhất muốn làm nguyên soái “văn chương sáng giá” (Văn, số 22-1964) và Gửi mõ làng văn: về Khái Hưng (Văn, số 22-1964); Trần Khánh Triệu: Ba tôi (Khái Hưng) (Văn, số 22-1964); Nguyễn Thạch Kiên: Vài kỷ niệm về Khái Hưng (Văn, số 22-1964); Mai Chi: Khái Hưng trong tù (Văn, số 22-1964); Kim Tưởng: Khái Hưng bị thủ tiêu vì hai câu đối (Phổ thông, số 19-1959)… Những bài hồi ức tập trung trong tạp chí Văn (số 22 ra ngày 15-11-1964) số kỷ niệm nhà văn Khái Hưng. Qua những hồi ức của bạn bè và người thân đã cho thấy Khái Hưng là nhà văn say mê và rất cẩn trọng trong sáng tác, là người sống chân tình với bạn bè và có nền tảng tri thức sâu rộng. Điều này cũng thể hiện phần nào trong sáng tác của ông.

Tiếp cận tác phẩm Khái Hưng từ góc độ thể loại là những bài viết của các tác giả Doãn Quốc Sĩ, Phạm Thế Ngũ, Đỗ Minh Vọng, Nguyễn Duy Diễn, Nguyễn Văn Trung… Hồn bướm mơ tiênNửa chừng xuân là hai tác phẩm được các nhà nghiên cứu phê bình chú ý nhất.

Bàn về nhân vật và quan niệm con người, cuộc đời trong Hồn bướm mơ tiên, Nguyễn Văn Trung cho rằng mối tình của Lan và Ngọc trong tác phẩm là tình yêu hiến dâng: “Đọc Hồn bướm mơ tiên, người ta thấy một bầu không khí khác hẳn những Đoạn tuyệt, Lạnh lùng… Trong phần lớn những tác phẩm của Tự văn đoàn, người ta đều tìm thấy ít nhiều bầu không khí của Đoạn tuyệt, nghĩa là một sự tự giác, ý thức được quyền lợi cá nhân và bi kịch là sự tranh chấp giữa quyền lợi cá nhân và nếp sống khách quan cổ truyền khắt khe không nhìn nhận những quyền lợi đó (…) thiết tưởng không thể gọi Hồn bướm mơ tiên là một biểu lộ của một quan niệm cá nhân vị kỷ, vì cái tôi ở đây bị phủ nhận, những quyền lợi ‘chính đáng’ (muốn yêu) được cao siêu hoá (sublimés)”(7).

Hồn bướm mơ tiên được Đỗ Minh Vọng (R.P.Cras) nghiên cứu dưới góc nhìn của thuyết Nhân vị trong bài viết Nhân vị trong ‘Hồn bướm mơ tiên’. Bài viết có đoạn:

“Tình yêu nhân vị khác hẳn tình yêu điên cuồng của những kẻ chiều theo bản năng, thoái thượng quyền tự do mà quy thuận chế độ tất nhiên của vũ trụ tự nội. Tình yêu đó để ràng buộc những tâm hồn của hai người tự do không phải làm nô lệ tính mê. Tình yêu đó để gây ra mối tương quan chặt chẽ giữa hai người đã tự suy tôn mình lên bậc chủ (tức là bậc chủ vị). Tình yêu đó cũng có tính cách thanh bình vì hai người đã biết tự trị lấy mình chứ không để tính mê lôi cuốn. Tình yêu đó còn có tính cách thực tế vì cả hai người thấu hiểu tâm can của nhau để sống với thực tế chứ không sống trong giấc mộng của lý tưởng suông hoặc giấc mộng của dục vọng. Tình yêu đó rất mực với chân lý toàn diện. Phải, Lan làm thân con gái, nhưng đang ở trong địa vị như vậy, cô sẽ hưởng ứng thiên triệu để xây dựng tương lai của mình. Ngọc là một trang thanh niên, nhưng cũng đã tới trình độ đạo đức của bậc quân tử. Tình yêu của hai người không có phần giả dối cả. Ngọc yêu Lan, như thanh niên yêu thiếu nữ, và Lan lấy tư cách là con gái mà đem lòng quyến luyến cậu Ngọc. Tình yêu đó hoàn toàn trong sạch, vì cả hai người đủ chí khí để tự khẳng định mình, để yêu nhau trong vinh dự, tôn trọng nhau, tự trọng mình”(8).

Nhận xét về nhân vật nữ trong các tiểu thuyết của Khái Hưng, Nguyễn Duy Diễn cho rằng:

“Khái Hưng đã để lại cho chúng ta một số khá nhiều tiểu thuyết có giá trị mà trong đó phụ nữ đóng một vai trò quan trọng, ví dụ: Lan trong Hồn bướm mơ tiên, Hiền trong Trống mái, Hồng trong Thoát ly, v.v… Nhưng khả ái hơn cả có lẽ là nhân vật Mai trong Nửa chừng xuân. Thực vậy, Lan tuy đẹp, nhưng cái đẹp của nàng là cái đẹp mơ hồ, huyền ảo, chập chờn như hình ảnh xa xôi trong một giấc mộng; Hiền tuy đẹp, nhưng cái đẹp của nàng là cái đẹp của một thiếu nữ tinh nghịch, lãng mạn, mang nhiều sắc thái Tây phương nên đi trước thời đại và đã làm cho chúng ta đôi khi phải bỡ ngỡ. Hồng tuy đẹp, nhưng cái đẹp của nàng là cái đẹp của một thiếu nữ sống nghẹn ngào, u uất trong cảnh ‘gì ghẻ con chồng’. Do đó, nàng tiêu biểu cho cái đẹp não nùng, đau khổ. Nàng có thể làm cho ta rung động, xót thương, nhưng làm cho ta cảm phục hoặc yêu mến một cách chân thành thì rất ít. Riêng có Mai, nhân vật chính trong Nửa chừng xuân, ngoài những vẻ đẹp thuần nhã về mặt dung nhan, cử chỉ, ngôn ngữ, còn được nhà văn Khái Hưng tô đậm - và đây mới thực là điểm quan trọng - những vẻ đẹp thuần nhã về tư tưởng, tình cảm và đức tính (…) Về phần kỹ thuật, nó có thể kém những tác phẩm khác đồng thời với nó như Hồn bướm mơ tiên, Đời mưa gió, Đoạn tuyệt, Đôi bạn hay Bướm trắng, nhưng riêng về vai trò phụ nữ thì Mai quả là một nhân vật đáng yêu hơn tất cả Lan, Tuyết, Loan, Thu, chỉ vì Mai đã có một tâm hồn ‘điềm đạm mà cảm động, khẳng khái mà dịu dàng’ tức là nàng đã tiêu biểu được khá đầy đủ những vẻ đẹp khả ái của người đàn bà Việt Nam cũ, những vẻ đẹp mà đến nay, đáng buồn thay, chúng ta gần như không còn tìm thấy qua những tác phẩm văn chương nữa”(9).

Dương Nghiễm Mậu cũng đã viết về nhân vật Mai: “Ở cô Mai khác hẳn cô Loan trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh, khác với Duy trong Con đường sáng của Hoàng Đạo. Cô Mai của Khái Hưng người hơn, thực hơn, và chính vì thế nó gần gũi với con người”(10).

Trong bài viết Đọc Khái Hưng: Nửa chừng xuân, Doãn Quốc Sĩ đã so sánh nhân vật Mai và Loan trong Đoạn tuyệt của Nhất Linh. Ông cho rằng về học thức Mai chỉ biết đọc biết viết đủ dùng và chịu đậm ảnh hưởng nền giáo dục nho giáo trong khi Loan có một trình độ Tây học vững vàng và hoàn toàn đối lập với ý kiến gia đình. Về tính tình, thái độ, Mai ý thức được hành động và thái độ của mình, dịu dàng chừng mực, lý trí tình cảm quân bình, còn Loan cũng ý thức được hành động và tình cảm của mình, nhưng bướng bỉnh, theo mới đến cùng, lãng mạn quá trớn về hành động cũng như về tư tưởng. “Chính vì tính tình Mai như vậy nên tình tiết câu chuyện đời nàng chuyển biến hợp lý và nhịp nhàng. Ngược lại chính vì tâm lý Loan như vậy nên nàng bị bao vây bởi hoàn cảnh, tác giả phải cầu cứu đến sự đẫm máu bất ngờ làm lối thoát”(11). Cũng Doãn Quốc Sĩ, trong bài viết Vài ý nghĩ về cuốn ‘Trống mái’, cho rằng đây là tác phẩm thành công trong việc miêu tả thiên nhiên, cuộc sống phóng khoáng của người lao động. Nếu xem Trống mái là tiểu thuyết lý tưởng thì là cuốn tiểu thuyết lý tưởng “đuối nhất” so với hai cuốn Hồn bướm mơ tiênNửa chừng xuân. Và theo ông, phải chăng vì vậy mà cuốn tiều thuyết này dù vẫn được đọc nhưng ít được giới nghiên cứu, phê bình chú ý. Về mối tình giữa hai nhân vật Hiền và Vọi trong Trống mái, Doãn Quốc Sĩ viết: “mối tình Hiền - Vọi trong Trống mái là mối tình không tưởng; tư tưởng ẩn trong truyện Trống mái ca ngợi nếp sống bình dân không phân chia giai cấp, ca ngợi nếp sống khoẻ mạnh của con người hoạt động nhẹ nhàng giữa thiên nhiên và đả kích nếp sống thuần trí thức yếu hèn, tư tưởng đó đẹp lắm, ai cũng đồng ý, như tư tưởng đó lại muốn được thể hiện ở Vọi chỉ có đức tính thật thà chất phác nhưng hoàn toàn thiếu trí thức, ở Hiền, một cô gái vô tâm, kiêu hãnh, nông cạn. Chính những nhân vật bất toàn đó làm sụp đổ những tư tưởng đẹp trên”(12)

 Nhận xét tổng thể sự nghiệp và vị trí của Khái Hưng trong lịch sử văn học là các bài viết của Phạm Thế Ngũ, Thư Trung, Nguyễn Xuân Thu….

Trong công trình có tính chất lịch sử văn học Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Phạm Thế Ngũ đã phân loại tiểu thuyết Khái Hưng thành hai nhóm: những tiểu thuyết về ái tình và những tiểu thuyết về gia đình. Phạm Thế Ngũ đã đánh giá, nhận xét nội dung và nghệ thuật các tác phẩm Hồn bướm mơ tiên, Nửa chừng xuân, Tiêu sơn tráng sĩ, Trống mái, Đẹp, Băn khoăn, Gia Đình, Thoát ly, Thừa tự và các vở kịch Tục luỵ, Đồng bệnh. Nhận xét chung về nghệ thuật tiểu thuyết Khái Hưng, ông cho rằng:

“Về nghệ thuật những tiểu thuyết trên của Khái Hưng đều bố cục giản dị nhưng khéo léo. Tình tiết thưa ít và trừ Nửa chừng xuânTiêu sơn tráng sĩ, động tác ngắn gọn, câu chuyện không có những ngoắt ngoéo ly kỳ, những giải kết đột ngột, tính chất gay cấn của những tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh chẳng hạn. Nhiều truyện tuy lý tưởng, có tính cách luân lý nữa, nhưng theo một nghệ thuật mới, ông không đưa đến có hậu như những truyện Nôm xưa”(13).

Biện luận cho nhận định “Khái Hưng, nhà văn sáng giá”, Nguyễn Xuân Thu cho rằng, từ những tác phẩm đầu tay cho tới những tác phẩm sau cùng, Khái Hưng đã cho chúng ta thấy một quan niệm văn nghệ đặc biệt của ông. Khái Hưng đã đưa vào tiểu thuyết Việt Nam một làn gió mới về hình thức lẫn nội dung:

“Về hình thức, Khái Hưng đã viết nhiều tác phẩm đủ loại như tiểu thuyết, đoản thiên, kịch… với những câu văn gọn gàng, linh động,… mà trước đó và ngay cả cùng thời với ông cũng chẳng có ai sánh kịp (…) Đó là sự kiện Khái Hưng đưa vào tác phẩm những bế tắc của hoàn cảnh, những tranh chấp giữa tình và đạo, giữa mới và cũ… và trước mỗi hoàn cảnh bế tắc ấy, Khái Hưng đã dùng sự hy sinh của nhân vật hay nhờ lý tưởng để nhảy ra khỏi sự bế tắc, mối quẫn bách”(14).

Trong Lược sử văn nghệ Việt Nam - nhà văn tiền chiến 1930-1945, Thế Phong đã chỉ ra sự chuyển biến nghệ thuật qua các bộ tiểu thuyết đồng thời đánh giá cao sáng tác của Khái Hưng: “Từ tiểu thuyết lý tưởng như Hồn bướm mơ tiên hay Nửa chừng xuân bắt nguồn rất nhanh đến loại truyện phân tách tâm lý, mổ xẻ tinh vi hình tượng con người, sống trong cùng một thời gian, không gian với tác giả, khiến người đi sau xếp ông vào loại bất tử (…) ba tác phẩm Hạnh, Đẹp, Băn khoăn đi sâu vào tâm lý với một kỹ thuật viết trưởng thành”(15).

Cũng cần thấy một điều là nghiên cứu phê bình về Tự lực văn đoàn không chỉ là những ý kiến đề cao mà còn có những phê phán, thậm chí là khá gay gắt của các nhà nghiên cứu. Những ý kiến luận bàn chung về văn nhóm Tự lực văn đoàn dù không trực tiếp nhưng là một kênh gián tiếp cho thấy quan niệm của trí thức miền Nam đối tác phẩm của Khái Hưng.

Trước hiện trạng sách giáo khoa trung học quá chú trọng đến tác phẩm Tự lực văn đoàn, cụ thể là tác phẩm của Nhất Linh, Khái Hưng và Hoàng Đạo mà bỏ qua nhiều hiện tượng đáng chú ý khác của văn học Việt Nam, trên tạp chí Văn (1968) số kỷ niệm nhà văn Hoàng Đạo, nhân viết về Mười điều tâm niệm và sáng tác của các cây bút Tự lực văn đoàn, Nguyễn Văn Xuân cho rằng:

“Bây giờ ai cũng thấy Tự lực văn đoàn vang bóng thời nào… Người ta tìm đọc văn phẩm của Tự lực văn đoàn như tìm những Truyện tình không hạ cấp, thế thôi! (…) Vậy mà, lạ lùng! Cả tư tưởng (tập trung trong Mười điều tâm niệm - PMH) lẫn văn học ấy độc chiếm chương trình giáo dục Việt Nam. Cả ba quyển sách: Mười điều tâm niệm, Đoạn tuyệtNửa chừng xuân của ba kiện tướng của văn đoàn đều được nghênh ngang đóng vai trò khuôn vàng, thước ngọc cho văn chương và tư tưởng thời kỳ 1932 (sao lại niên kỷ này mà không là 1929 với Phụ nữ tân văn?) - 1945. Tôi chưa bàn về hai quyển truyện mà riêng quyển Nửa chừng xuân tôi tưởng nên nói ngay là nhiều đoạn… bất thành nếu so với các tác phẩm khác của ông. Thật là miệt thị văn học Việt Nam, làm như văn học ấy không thể sản xuất nổi những Hồ Biểu Chánh, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Tuân?”(16).

Bên cạnh những ý kiến nhận xét của các nhà giáo, nhà nghiên cứu, những ý kiến đánh giá của giới sáng tác ở miền Nam cũng đáng để suy ngẫm, phần nào cho thấy tâm lý tiếp nhận nơi lớp người đọc cao cấp - những người làm công việc sáng tạo nghệ thuật.

Khoảng đầu thập niên 60, các trí thức văn nghệ sĩ nhóm Sáng tạo ở Sài Gòn chủ trương đổi mới văn nghệ, và một trong những việc họ làm là phủ định văn nghệ tiền chiến, “chôn tiền chiến”. Họ phủ định văn nghệ tiền chiến bằng những phát ngôn và bằng chính sáng tác của họ. Về sáng tác là những cách tân nghệ thuật trong thơ và văn xuôi của các cây bút Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, Dương Nghiễm Mậu… Về phát ngôn đánh giá văn nghệ tiền chiến được thể hiện tập trung trong tạp chí Sáng tạo số 4, tháng 10-1940: Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam với sự góp mặt của các cây bút Duy Thanh, Mai Thảo, Ngọc Dũng, Nguyễn Sĩ Tế, Thanh Tâm Tuyền, Thái Tuấn, Tô Thuỳ Yên, Trần Thanh Hiệp. Các trí thức văn nghệ đã thảo luận những vấn đề văn nghệ tiền chiến với tinh thần phê phán, phủ định và phần nào đó phủ nhận những cách tân của Tự lực văn đoàn và Thơ mới. Nhận định chung, nhóm Sáng tạo cho rằng nghệ thuật tiền chiến thật nghèo nàn, nông cạn và ấu trĩ, cần nhanh chóng vượt qua để đẩy văn nghệ về phía trước. Trong không khí soát xét lại gia tài văn nghệ tiền chiến, bàn về tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Thanh Tâm Tuyền cho rằng:

“Nông cạn của nghệ thuật tiền chiến lỗi chính vẫn là ở người sáng tác. Không phải ở hoàn cảnh. Sự va chạm mạnh mẽ của văn hoá Đông Tây đầu thế kỷ, các nhà văn Tự lực văn đoàn nhìn một cách rất thu hẹp, trong phạm vi gia đình cá nhân, mà không hề thấy đó là sự đảo lộn cả một nếp sinh hoạt mấy nghìn năm, mà trong đó, dân tộc phải tìm lấy một đường lối giải thoát thích hợp. Không bảo thủ luyến tiếc quá khứ thì họ lại đuổi theo một thứ tình cảm cá nhân để giải quyết cho riêng mình (…) Những tác phẩm mà Tự lực văn đoàn gọi là tiểu thuyết luận đề đã chứng tỏ tất cả sự nông cạn và hời hợt của những tác giả ấy. Chưa cần xét tới luận đề mà nhóm Tự lực văn đoàn chọn là những vấn đề rất thô sơ và hẹp hòi ở trong xã hội, tôi muốn công kích ngay cái loại mà người ta gọi là tiểu thuyết luận đề - kể cả những luận đề cao nhất - là của một quan niệm ấu trĩ về tiểu thuyết”(17).

Theo Mai Thảo: “Tiểu thuyết Tự lực văn đoàn được quần chúng hồi đó tán thưởng, một phần cũng bởi vì tiểu thuyết đó đã đánh trúng vào thị hiếu quần chúng mà thôi (…) Về những nhà văn tiền chiến ở đây, có thẩm quyền nhất, ai bằng Nhất Linh? Vậy mà Nhất Linh đã thất bại trong ý muốn phục hồi lại giòng nghệ thuật Tự lực văn đoàn. Cho nên, theo tôi, đáng thương không phải là những che đẻ của nghệ thuật tiền chiến, mà đáng thương những kẻ thương vay khóc mướn, tôn sùng, thần thánh hoá một cái xác chết”(18).

Trước những tuyên bố của nhóm Sáng tạo về văn nghệ tiền chiến, Nguyễn Văn Trung - nhà lý luận phê bình văn học “có tầm ảnh hưởng lớn” (Võ Phiến) đã có những trao đổi. Trong bức thư ngỏ Gửi anh em trong “Nhóm sáng tạo” đăng trên tạp chí Bách khoa số số 94, ra ngày 2-12-1960, Nguyễn Văn Trung viết:

“Khi các anh tự hỏi tại sao bây giờ còn có người đọc Tự lực văn đoàn, các anh cho rằng vì có những người còn luyến tiếc và âm mưu duy trì cái thứ văn ‘đàn bà; ấu trĩ, khóc sướt mướt’ đó như các anh nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong buổi thảo luận. Nhưng các anh không hỏi tại sao người ta vẫn tìm đọc Tự lực văn đoàn, dù không có những cố gắng gợi lại và duy trì đi nữa? Tại sao người ta không tìm đến các anh, những chứng nhân của thời đại? Phải chăng vì Tự lực văn đoàn còn nói lên được cái gì, hay vì người ta không tìm thấy cái gì đáng đọc của người hôm nay, nên đành phải trở về cái cũ vậy (…) Người đi sau tiếp tục công việc người đi trước và dĩ nhiên chỉ tiếp tục được một khi không bằng lòng dừng lại ở bước đường đã đi. Nhưng không bằng lòng với cái đã có không có nghĩa là xoá bỏ nó. Cũng có thể gọi là chối bỏ đi, nhưng chối bỏ theo nghĩa đẩy lên, để vượt lên, chứ không phải tiêu diệt; xoá hẳn thành hư vô (…) nếu không có tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Thơ mới thời tiền chiến, thì tiểu thuyết và thơ mới ngày nay bắt đầu từ đâu, và dĩ nhiên là phải bắt đầu từ đầu, từ số không, nghĩa là còn ấu trĩ; cho nên người làm công tác văn hoá văn nghệ hôm nay không thể quên người hôm qua”(19).

Có thể thấy, từ góc độ sáng tác, các nhà văn nhóm Sáng tạo có những lý lẽ hợp lý của họ. Nhưng trên phương diện văn hoá và lịch sử tiến trình văn học, những khuyến nghị của Nguyễn Văn Trung cũng rất hợp lý.

Thật ra, những mặt hạn chế của Tự lực văn đoàn không phải đợi đến nhóm Sáng tạo mới được đặt ra và bàn luận. Từ năm 1935, khi văn nhóm Tự lực văn đoàn còn ở phong độ đỉnh cao, tạo được nhiều ảnh hưởng trong xã hội, đặc biệt là tầng lớp thanh niên thành thị, nhà văn Trúc Hà, cây bút tiêu biểu của văn chương miền Nam, đã chỉ ra những hạn chế của văn nhóm này ở thái độ công kích Nho giáo, phong trào “vui vẻ trẻ trung” trên Phong Hoá. Sự quá trớn, nhiều chỗ quá đáng của Tự lực văn đoàn đã được Trúc Hà chỉ ra:

“Trong lúc đem Lý toét ra làm bia để chế nhạo bọn môn đồ nhà nho, báo Phong hoá chỉ công kích những hình thức vụn vặt, phiền tạp của một hạng người hiểu nhầm Nho giáo. Hạng người đó không thể làm tiêu biểu cho cái tinh thần khẳng khái của nhà nho được. Tiêu biểu cho đạo Nho chính là những nhà chí sĩ đã  vì cái lý tưởng cao thượng của mình mà phải chết, phải phiêu bạt xứ người, hay phải giam cầm trong vòng lao lý (…) báo Phong hoá chẳng phô bày cái hay của Nho giáo ra bao giờ. Họ cứ làm cho người đọc tin tưởng, say mê những ý tưởng cải cách của họ. Mặc cho người ta hiểu nhầm nho giáo. Và họ chỉ muốn người đọc sẽ cười, cái cười chế nhạo, dễ dàng chua chát mà thôi, còn cái ảnh hưởng hay dở thế nào, mặc kệ! Phong trào vui cười, cái cười vô ý thức của một dân tộc còn thấp kém về học vấn, lan tràn từ Bắc vào Nam. Nó lôi cuốn các tờ báo khác phải quay về vui cười hết. Lối văn khảo cứu, nghị luận, học thuật, nghĩa là thứ văn không chọc cười được phải dẹp lại. Nhưng một điều buồn cười hơn hết là chính họ bị thiệt hại vì cái phong trào tự họ gây ra: cái chết của báo Ngày nay(20).

Nhận xét của Trúc Hà khiến chúng ta nghĩ đến những bài viết của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882-1936) về cái cười của người Việt trên Đông dương tạp chí(21) trước đó, hay của Phan Khôi (1887-1960) trên Phụ nữ tân văn(22).

Về phương diện tiến hoá của tư tưởng, những thảo luận của Nguyễn Văn Xuân trong bài viết Từ phong trào duy tân đến Tự lực văn đoàn đã cho thấy những đề xuất cải cách, chống tư tưởng nho giáo của nhóm Tự lực văn đoàn so với phong trào duy tân đầu thế kỷ XX lại là một bước thụt lùi (23).

Ngày nay nhìn lại, theo chúng tôi, việc Tự lực văn đoàn phê phán hình tượng nhà nho qua biếm hoạ Lý toét so với sự phê phán của chính nhà nho trong phong trào duy tân đầu thế kỷ XX thì không có gì mới mẻ, thậm chí đơn giản hơn. Các nhà nho trong phong trào duy tân đã làm một cuộc cách mạng phủ định rất mạnh mẽ và triệt để nhân sinh quan, thế giới quan, chính trị, học thuật của mình. Trên phương diện văn chương, Văn tế sống thầy đồ hủ, Cáo hủ lậu văn, Chí thành thông thánh, Danh ngọc lương sơn phú là những tác phẩm thể hiện sinh động và sâu sắc sự phủ định này. Vả chăng, không có ai có đủ tư cách phủ định nho giáo và hình tượng nhà nho bằng chính nhà nho, bởi một lẽ giản đơn, họ là những người sống tận cùng và cảm nghiệm được cái lạc hậu, ấu trĩ và nhận chân được sự thất bại chua chát của một thế hệ trí thức giai đoạn thoái trào. Mặt khác, không chỉ phủ định cái cũ, họ đã xây dựng được những tư tưởng duy tân tiến bộ, nói không quá, một vài trong số ấy ngày nay chúng ta còn phải cố gắng rất nhiều mới đuổi kịp. Điều đó càng cho thấy những nhận xét của Nguyễn Văn Xuân là hữu lý.

Lược thuật những ý kiến không có tính chất phê bình đánh giá trực tiếp tác phẩm của Khái Hưng, nhưng chúng tôi cho rằng với tư các là một trong những trụ cột của Tự lực văn đoàn, những đánh giá này thực sự là quan trọng và cho thấy trọn vẹn sự tiếp nhận tác phẩm của Khái Hưng và Khái Hưng trong Tự lực văn đoàn. Quan trọng hơn, qua đó cũng cho thấy bên cạnh những ý kiến khen và đề cao tác phẩm và những đóng góp của Khái Hưng là những ý kiến chê. Và đánh giá sự nghiệp văn học Khái Hưng nói riêng và các nhà văn khác trong văn nhóm tự Tự lực văn đoàn nói chung không phải chỉ khen một chiều, và thực sự những sản phẩm nghiên cứu ở miền Nam không hoàn toàn là viết dưới “lập trường tư tưởng phản động”(24) như nhận xét của một nhà nghiên cứu cách nay mấy mươi năm.

*

Nhìn lại gần một thế kỷ nghiên cứu, bình luận về tác giả Khái Hưng ở miền Nam có thể thấy tầm quan trọng và vị thế của nhà văn trong lịch sử văn học thế kỷ XX. Theo thời gian và theo nhiều cấp độ khác nhau, các xu hướng nghiên cứu ngày càng chuyên sâu, kỹ lưỡng đối với tác phẩm của Khái Hưng. Nghiên cứu tiếp nhận văn học dân tộc ở miền Nam, đặc biệt là giai đoạn 1954-1975, không chỉ trường hợp tác gia Khái Hưng mà còn những tác giả, khuynh hướng vấn đề văn học khác, là những bổ khuyết cần thiết cho lịch sử nghiên cứu của ngành ngữ văn học Việt Nam trong thế kỷ XX.

 

P.M.H

_____________

 CHÚ THÍCH:

(1) Thiếu Sơn: Phê bình Nửa chừng xuân, Sống, số 1, ngày 22 Janvier 1935, tr.12.

(2) Thiếu Sơn: Phê bình Gánh hàng hoa, Sống, số 2, ngày 29 Janvier 1935, tr.17.

(3), (20) Trúc Hà: Cái hay và cái dở của Tự lực văn đoàn - một văn phái mới trong nền văn học nước ta, Sống, số 28, 7 Septembre 1935, tr.17, 18.

(4), (5) Kiều Thanh Quế: Đồng bệnh, kịch của Khái Hưng, Tri tân, số 53, ra tháng 7-1942, tuyển in trong Cuộc tiến hoá văn học Việt Nam, (Nguyễn Hữu Sơn, Phan Mạnh Hùng sưu tầm biên soạn), Nxb. Thanh Niên, 2009, tr.72, 73.

(6) Xin xem thống kê trong Thư mục nghiên cứu, phê bình Tự lực văn đoàn và Thơ mới của chúng tôi.  

(7) Nguyễn Văn Trung: Tình yêu hiến dâng trong ‘Hồn bướm mơ tiên’, trong Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, Nam sơn xuất bản, Sài Gòn, 1965, tr.91.

(8) Đỗ Minh Vọng: Nhân vị trong ‘Hồn bướm mơ tiên’, Đại học, số 4-5, Sài Gòn, tháng 9-1958, tr.119.

(9) Nguyễn Duy Diễn: Mai, một nhân vật khả ái của Khái Hưng, Hiện đại, số 3, Sài Gòn, tháng 6-1960, tr.15.

(10) Nhiều tác giả, Khái Hưng, thân thế và tác phẩm, Nam hà xuất bản, Sài Gòn, 1972, tr.38.

(11) Doãn Quốc Sĩ: Đọc Khái Hưng: Nửa chừng xuân, Luận đàm bộ I, số 5, Sài Gòn, tháng 4-1961, tr.107.

(12) Doãn Quốc Sĩ: Vài ý nghĩ về cuốn Trống mái, Luận đàm bộ I, số 1, Sài Gòn, tháng 12-1960, tr.77.

(13) Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, tái bản, Nxb. Đồng Tháp, 1997, tr.467.

(14) Nguyễn Xuân Thu: Khái Hưng nhà văn sáng giá, Văn học, số 33, Sài Gòn, 1-3-1965, tr.13.

(15) Thế Phong: Lược sử văn nghệ Việt Nam - nhà văn tiền chiến 1930-1945, Vàng son xuất bản, Sài Gòn, 1959, tr.27.

(16), (23) Nguyễn Văn Xuân: Từ phong trào duy tân đến Tự lực văn đoàn, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.61, 40-62.

(17), (18) Nhiều tác giả: Nhìn lại văn nghệ tiền chiến ở Việt Nam, Sáng tạo, số 4, tháng 10-1960, tr.4, 5.

(19) Nguyễn Văn Trung: Gửi anh em trong Nhóm Sáng tạo, Bách khoa, số 94, ra ngày 2-12-1960, tr.33-44.

(21) Nguyễn Văn Vĩnh: Xét tật mình (Gì cũng cười), Đông Dương tạp chí, số 22, Jeudi 9 Octobre 1913.

(22) Phan Khôi: Cái cười của con Rồng cháu Tiên, một cái cảm tưởng trong khi đọc Cay đắng mùi đời. Báo Phụ nữ tân văn, số 84, ra ngày 28-5-1931, tr.5-8. In lại trong Phan Khôi: Tác phẩm đăng báo 1931 (Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn). NXB Hội Nhà văn, H., 2007, tr.57-67.

(24) Đào Văn A: Tự lực văn đoàn trên sách báo miền Nam trước đây, Tạp chí Văn học, số 3-1991.

[ Nguồn: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3610%3Atip-nhn-khai-hng-min-nam-trc-1975&catid=129%3Aht-80-nm-th-mi-va-t-lc-vn-oan&Itemid=195&lang=vi ]

 

Thư mục nghiên cứu, phê bình Tự lực văn đoàn và Thơ mới

Phan Mạnh Hùng

Tiểu dẫn:

Bảng Thư mục nghiên cứu về Tự lực văn đoàn và Thơ mới nhằm mục đích hỗ trợ bạn đọc quan tâm đến lịch sử vấn đề tiếp nhận, nghiên cứu và phê bình các tác giả, tác phẩm thuộc tổ chức Tự lực văn đoàn và phong trào Thơ mới.

Nguồn tài liệu ở miền Nam giai đoạn 1954-1975, ngoài các công trình ấn bản dạng sách, chúng tôi khảo sát, thống kê các bài viết trên các chuyên san, báo, tạp chí (tên, năm phát hành số đầu tiên, tính chất, người chủ trương biên tập):

Bách khoa (1957), bán nguyệt san, Huỳnh Văn Lang, Lê Ngộ Châu; Đại học (1958), nguyệt san, Cao Văn Luận, Nguyễn Văn Trung và Trần Văn Toàn; Giáo dục phổ thông (1957), bán nguyệt san, Trần Văn Lắm;  Hiện đại (1960), nguyệt san, Nguyên Sa; Luận đàm (1960), nguyệt san, Thẩm Quỳnh; Nghiên cứu văn học (1967), nguyệt san, Thanh Lãng; Phổ thông (1958), bán nguyệt san, Nguyễn Vỹ; Sáng dội miền Nam (1959), nguyệt san, Võ Đức Diên; Thời nay (1959), bán nguyệt san, Nguyễn Văn Thái; Tin sách (1960), nguyệt san, Phạm Việt Tuyền; Văn (1967), bán nguỵệt san, Nguyễn Đình Vượng; Văn khoa (1957), đặc san, Nguyễn Huy Bảo; Văn học (1962), bán nguyệt san, Phan Kim Thịnh; Văn hoá Á châu (1958), nguyệt san, Nguyễn Đăng Thục; Văn hoá nguyệt san (1955), nguyệt san, Bộ Quốc gia Giáo dục;…

Các báo và tạp chí xuất bản ở miền Nam giai đoạn 1954-1975 thời gian qua đã được nhiều nhóm sinh viên Khoa Văn học và Ngôn ngữ tiến hành thu thập, nghiên cứu tổng thuật, lập thư mục, trong đó có một số tờ vừa kể trên. Công việc đó đã góp phần làm hiển lộ diện mạo và thành tựu của nghiên cứu, lý luận và phê bình văn học ở miền Nam trước đây. Việc làm của chúng tôi ở đây cũng nằm trong ý hướng đó. Công việc này, thiết nghĩ cần phải tiến hành càng sớm càng tốt và cần có sự góp sức của nhiều người mới mong đạt kết quả.

Nguồn tài liệu sau 1975, ngoài các công trình sách xuất bản tiêu biểu có liên quan trực tiếp đến các tác giả, tác phẩm thuộc Tự lực văn đoàn và Phong trào Thơ mới, chúng tôi thống kê từ Tạp chí Văn học, từ 2004 đổi thành Nghiên cứu Văn học - là tạp chí thể hiện tiếng nói quan trọng của giới nghiên cứu văn học ở nước ta trong quá khứ cũng như giai đoạn hiện nay.

Quy cách xếp thư mục: các đơn vị tài liệu được chúng tôi sắp xếp theo vần họ - tên đệm - tên tác giả. Nếu tác giả có nhiều mục bài thì các mục bài được xếp theo thứ tự vần đầu của tên bài. Tiếp theo là tên bài (trong sách) - tên sách, tên báo, tạp chí - Tập, Quyển - (Tái bản, in lại) - NXB - Nơi xuất bản - Năm xuất bản (hoặc số và ngày tháng năm với báo, tạp chí) - Trang (nếu có thể)…

 

A. MIỀN NAM GIAI ĐOẠN 1954-1975

1a. Tự lực văn đoàn

1.      Bàng Bá Lân: Một kỷ niệm nhỏ về nhà thơ Tú Mỡ, Văn học, số 127, Sài Gòn, 1-5-1971, tr.60-73.

2.      Chu Đăng Sơn: Luận đề về Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Mười điều tâm niệm, in lần thứ 2, Thăng Long xuất bản, Sài Gòn, 1960, 136 tr.

3.      Doãn Quốc Sĩ: Đọc Khái Hưng: Nửa chừng xuân, Luận đàm bộ I, số 5, Sài Gòn, tháng 4-1961, tr.77-108.

4.      Doãn Quốc Sĩ: Vài ý nghĩ về cuốn Trống mái, Luận đàm bộ I, số 1, Sài Gòn, tháng 12-1960, tr.77-88.

5.      Doãn Quốc Sĩ: Vài ý nghĩ về cuốn Đôi bạn, Luận đàm bộ I, số 2, Sài Gòn,  tháng 1-1961, tr.85-92.

6.      Doãn Quốc Sĩ: Tự lực văn đoàn, Hồng Hà xuất bản, Sài Gòn, 1961, 240 tr.

7.      Dương Đình Tây: Gặp thi sĩ Tản Đà tại nhà khái Hưng, Phổ thông, số 15, Sài Gòn, tháng 7-1959, tr.24-26.

8.      Dương Nghiễm Mậu: Hoàng Đạo và một vận động lịch sử, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.103-123.

9.      Dương Nghiễm Mậu: Nhân nghĩ về Khái Hưng, Văn, số 22, Sài Gòn, 15-11-1964, tr.33-39.

10. Đặng Tiến: Hạnh phúc trong tác phẩm Nhất Linh, Văn, số 37, Sài Gòn, 1-7-1965, tr.95-118.

11. Đinh Hùng: Tìm về những mùa xuân dĩ vãng: men xuân quê nhà Thạch Lam, Sáng dội miền Nam, Sài Gòn, số 21, năm 1961, tr.5.

12. Đinh Hùng: Gửi hương hồn Thạch Lam, Văn, số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.2-3.

13. Đinh Hùng: Những kỷ niệm chia ngọt sẻ bùi cùng Thạch Lam, Văn, số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.21-38.

14. Đinh Hùng: Tìm hiểu Thạch Lam, Văn, số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.56-59.

15. Đỗ Đức Thu: Thạch Lam, Văn, số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.17-20.

16. Đỗ Minh Châu, Trịnh Quang Vỹ: Nhận định về Hoàng Đạo, Luận đàm bộ II, số 8, Sài Gòn, tháng 8-1962, tr.996-1010; số 10, tháng 10-1962, tr.1253-1280; số 11, tháng 11-1962, tr.1364-1388.

17. Đỗ Minh Vọng: Nhân vị trong ‘Hồ bướm mơ tiên’, Đại học, số 4-5, Sài Gòn, tháng 9-1958, tr.101.121.

18. Đỗ Minh Vọng: ‘Hồn bướm mơ tiên’ của Khái Hưng, Văn học, số 41, Sài Gòn, 1965, tr.81-96.

19. Đông Hồ Lâm Tấn Phác: Tôi đã biết gì về Nhất Linh, Bách Khoa, số 180, Sài Gòn, 1964, tr.83-89.

20. Hà Như Chi: Việt Nam thi văn giảng luận, Tập I và II, in lần thứ 3, Tân Việt, Sài Gòn 1956, 320 tr, 457 tr.

21. Hiếu Chân: Hoài niệm Nguyễn Trường Tam, Văn, số 156, Sài Gòn, 1970, tr.5-28.

22. Hoài Điệp Thứ Lang: Thạch Lam thẩm âm, Văn, số 36, Sài Gòn, 15-6-1963, tr.49-55.

23. Hồ Hữu Tường: Khái Hưng, người thứ nhất muốn làm nguyên soái “văn chương sáng giá”, Văn, số 22, Sài Gòn, 15-11-1964, tr.27-31.

24. Hồ Hữu Tường: Nguyễn Tường Long, nhà chính trị, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.20-32.

25. Hồ Hữu Tường: Về Khái Hưng, Văn, số 22, Sài Gòn, 15-11-1964, tr.47-50.

26. Huyền Kiêu: Thạch Lam, Văn, số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.63-68.

27. Huỳnh Phan Anh: Nhất Linh và ‘Bướm trắng’, Văn, số 156, Sài Gòn, 1970, tr.56-78.

28. Huỳnh Phan Anh: Thạch Lam, tiểu thuyết gia, Giao điểm, Sài Gòn, số tháng 1-1972, tr.6.

29. Kiêm Đạt: Sự thành lập Tự lực văn đoàn, Giáo dục phổ thông, số 38, Sài Gòn, 15-5-1959, tr.8-14.

30. Kiêm Đạt: Tự lực văn đoàn, Giáo dục phổ thông, số 37, Sài Gòn, 1-5-1959, tr.5-10.

31. Kiêm Đạt: Tự lực văn đoàn: phong hoá đổi mới, Giáo dục phổ thông, số 39, Sài Gòn, 1-6-1959, tr.12-17.

32. Kim Tưởng: Khái Hưng bị thủ tiêu vì hai câu đối, Phổ thông, số 19, Sài Gòn, tháng 9-1959, tr.35-36.

33. Lãng Nhân: Thạch Lam, ký giả và hoạ sĩ, Văn, Số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.60.

34. Lê Hữu Mục: Khảo luận về Khái Hưng (Nửa chừng xuân, Hồn bướm mơ tiên), Trường Thi xuất bản, Sài Gòn 1958, 200 tr.

35. Lê Hữu Mục: Khảo luận về Đoạn tuyệt, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1960, 186 tr.

36. Lê Văn Trương: Thương nhớ Nhất Linh, Phổ thông, số 108, Sài Gòn, 8-1-1963, tr.66-69.

37. Lê Xuân Khoa: Hoàng Đạo, Hiện đại, số 1, Sài Gòn, 1960, tr.7-12.

38. Lưu Nguyên: Khái Hưng, nhà văn của tình yêu, Thời nay, Sài Gòn, số ra ngày 15-1-1960.

39. Mai Chi: Khái Hưng trong tù, Văn, số 22, Sài Gòn, 15-11-1964, tr.40-43.

40. Mai Thảo: Phượng hoàng gãy cánh, Văn, Số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.15.

41. Ninh Văn, Xuân Tước: Luận đề về Tự lực văn đoàn, Sống mới xuất bản, Sài Gòn, 1974, 102 tr.

42. Nguyên Minh: Lễ truy điệu Nhất Linh Nguyễn Trường Tam, Phổ thông, số 119, Sài Gòn, tháng 1-1964, tr.97-99.

43. Nguyễn Bá Lương: Luận đề về Nhất Linh (Đoạn tuyệt), Tao Đàn xuất bản, Sài Gòn, 1960, 113 tr.

44. Nguyễn Duy Diễn: Chân dung của Nhất Linh giữa cuộc đời và vai trò của Nhất Linh trước văn học sử, Tin sách, Số đặc biệt về Nhất Linh, Sài Gòn, tháng 7-1964, tr.31-49.

45. Nguyễn Duy Diễn: Mai, một nhân vật khả ái của Khái Hưng, Hiện đại, số 3, Sài Gòn, tháng 6-1960, tr.15-20.

46. Nguyễn Duy Diễn: Vai trò của Phong hoá và Ngày nay, Hiện đại, số 6, Sài Gòn, tháng 9-1960, tr.19-28.

47. Nguyễn Duy Diễn, Bằng Phong: Luận đề về Tự lực văn đoàn, Thăng Long xuất bản, Sài Gòn, 1967, 107 tr.

48. Nguyễn Duy Diễn, Bằng Phong: Luận đề về Khái Hưng, Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, 1960, 101 tr.

49. Nguyễn Đang: Chuyện một người mà Nhất Linh là thần tượng, Văn, số 37, Sài Gòn, ngày 1-7-1965, tr.86-94.

50. Nguyễn Đình Bảo: Hoàng Đạo, nhà văn của lý tưởng, Thời nay, số 3, Sài Gòn, 1-10-1959, tr.56-63.

51. Nguyễn Đông Ngạc: Một vài thắc mắc về Nhất Linh, Văn học, số 41, Sài Gòn 1-7-1965, tr.45-50.

52. Nguyễn Đồng: Tự lực văn đoàn, Bách Khoa, số 25-26, Sài Gòn, 1958, tr.30-40.

53. Nguyễn Hữu Ngư: Sống và viết với Nhất Linh và những người khác, Nghè Xanh xuất bản, Sài Gòn, 1966, 371 tr.

54. Nguyễn Khuê: Một nhà thơ trào phúng tiền chiến: Tú Mỡ, Văn khoa, số Hè 1974, Sài Gòn, tr.40-59.

55. Nguyễn Mạnh Côn: Nhất Linh, Hoàng Đạo và một tên hậu học, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1956, tr.124-133.

56. Nguyễn Ngu Í: Lễ truy niệm cố văn hào và chiến sĩ cách mạng Nhất Linh - Nguyễn Trường Tam, Bách khoa, số 168, Sài Gòn, 1963, tr.99-106.

57. Nguyễn Ngu Í: Triết lý tuyệt hảo trong cuộc đời Nhất Linh - Nguyễn Trường Tam, Bách khoa, số 169, Sài Gòn, 1964, tr.134-136.

58. Nguyễn Ngu Í: Lễ truy điệu Nhất Linh - Nguyễn Trường Tam, Bách khoa, số 169, Sài Gòn, 1964, tr.134-136.

59. Nguyễn Ngu Í: Nhất Linh (1906-1963), trong Sống và viết với…, Nghè xanh xuất bản, Sài Gòn, 1966, tr.10-23.

60. Nguyễn Ngu Í: Nhớ Nhất Linh Nguyễn Trường Tam, Bách Khoa, số 325, Sài Gòn, 1970, tr.19.

61. Nguyễn Quân: Nhất Linh Nguyễn Trường Tam (7.1908-7.1963), Văn học, số 41, Sài Gòn 1-7-1965, tr.4-13.

62. Nguyễn Thạch Kiên: Vài kỷ niệm về Khái Hưng, Văn, số 22, Sài Gòn, 15-11-1964, tr.44-46.

63. Nguyễn Thị Thế: Người em thứ sáu, Văn, số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.8-16.

64. Nguyễn Thị Thế: Hồi ký về gia đình Nguyễn Tường: Nhất Linh, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Sóng xuất bản, Sài Gòn, 1974, 132 tr.

65. Nguyễn Tường Giang: Thạch Lam, cha tôi trong trí tưởng, Giao điểm, Sài gòn, số , tháng 1-1972, tr….

66. Nguyễn Triệu Luật: Ý hường cải tạo xã hội của Tự lực văn đoàn, Văn học, số 41, Sài Gòn 1-7-1965, tr.33-43.

67. Nguyễn Văn Trung: Xây dựng tác phẩm tiểu thuyết, in lần thứ 2, Nam sơn xuất bản, Sài Gòn, 1965, 229 tr.

68. Nguyễn Văn Xuân: Năm mới đi viếng nhà thờ Nhất Linh Nguyễn Trường Tam, Bách Khoa, số 389, Sài Gòn, tr.39-50.

69. Nguyễn Văn Xuân: Hoàng Đạo với ‘Con đường sáng’, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.93-102.

70. Nguyễn Văn Xuân: Sơ lược tiểu sử Hoàng Đạo (1907-1948), Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.3-8.

71. Nguyễn Văn Xuân: Vài nét về giòng họ Nguyễn Tường, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.9-12.

72. Nguyễn Văn Xuân: Từ phong trào duy tân đến Tự lực văn đoàn, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.40-62.

73. Nguyễn Văn Xung: Bình giảng về Tự lực văn đoàn, Tân Việt xuất bản, Sài Gòn, 1958.

74. Nguyễn Văn Xung: Thử xác định vị trí của Nhất Linh, Văn, số 14, Sài Gòn, 15-7-1964, tr.3-14.

75. Nguyễn Vỹ: Hồi ký: tôi còn nợ Nhất Linh sáu đồng, Phổ thông, số 6, Sài Gòn tháng 2-1959, tr.130-141.

76. Nguyễn Vỹ: Nhà văn Nguyễn Trường Tam đã từ trần, Phổ thông, số 107, Sài Gòn, tháng 7-1963, tr.117.

77. Nguyễn Vỹ: Rút kinh nghiệm: phê bình Tự lực văn đoàn và Nam Phong, Phổ thông, số 17 và 18, Sài Gòn tháng 8-1959, tr.6-9, 7-9.

78. Nguyễn Vỹ: Văn thi sĩ tiền chiến (Chứng dẫn của một thời đại), Khai trí xuất bản, Sài Gòn, 1970, 513 tr.

79. Nguyễn Xuân Thu: Khái Hưng nhà văn sáng giá, Văn học, số 33, Sài Gòn, 1-3-1965, tr.10-16.

80. Phạm Văn Diêu: Tình yêu thiên nhiên trong văn chương Tự lực văn đoàn, Văn hoá nguyệt san, số 25, Sài Gòn, tháng 10-1957, tr.867-869.

81. Tạ Văn Ru, Nguyễn Bá Lương: Luận đề về Hoàng Đạo: mười điều tâm niệm, Tao Đàn xuất bản, 116 tr.

82. Tam Ích: Một số ý chung quanh nhà thơ trào phúng Tú Mỡ, số 127, Sài Gòn, 1-5-1971, tr.89-94.

83. Tương Hùng: Vài nét về chân dung Nhất Linh, Văn, số 61, Sài Gòn, 1-7-1966, tr.129-134.

84. Thành Tôn: Hồn Khái Hưng, Văn, số 22, Sài Gòn, ngày 15-11-1964, tr.51-52.

85. Thế Phong: Thạch Lam, Giáo dục phổ thông, số 45, Sài Gòn, 1-9-1959, tr.30-32.

86. Thế Uyên: Đọc và đặt lại vị trí Hoàng Đạo, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.63-91.

87. Thế Uyên: Hoàng Đạo hay sự trở về quê cũ, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.13-19.

88. Thế Uyên: Những người đã qua, Văn Uyển, số 6, Sài Gòn, tháng 10-1968, 124 tr.

89. Thế Uyên: Tìm kiếm Thạch Lam, Văn, số 36, Sài Gòn, 15-6-1965, tr.39-48.

90. Thư Trung: Khái Hưng thân thế và tác phẩm, Văn, số 22, Sài Gòn, 15-11-1964, tr.3-16.

91. Thư Trung: Khái Hưng, thân thế và tác phẩm, Nam hà xuất bản, Sài Gòn, 1972, 110 tr.

92. Trần Khánh Triệu: Ba tôi (Khái Hưng), Văn, số 22, Sài Gòn, 15-11-1964, tr.17-26.

93. Trần Nhã: Thạch Lam, nhà văn của tuổi trẻ, Thời nay, số 1, Sài Gòn, ngày 1-9-1969, tr.57-68.

94. Trần Văn Bảng: Bệnh tật và cái chết của Nhất Linh Nguyễn Trường Tam, Văn, số 156, Sài Gòn, 1970, tr.29-40.

95. Trương Bảo Sơn: Triết lý tuyệt hảo trong cuộc đời của Nhất Linh Nguyễn Trường Tam, Văn, số 14, Sài Gòn, 15-7-1964, tr.15-35.

96. Võ Hồng: Gặp Tự lực văn đoàn, Văn, số 107 và 108, Sài Gòn, 15-6-1968, tr.33-39.

97. Vũ Bằng: Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam, Giao điểm, Sài Gòn, số tháng 1-1972, tr.25.

98. Vũ Bằng: Nguyễn Trường Tam, một nhà văn “đa bất mãn hoài”, Văn, số 156, Sài Gòn, 1970, tr.41-55.

99. Vũ Bằng: Tú Mỡ: nhà thơ trào phúng chết hai lần, Văn, số 127, Sài Gòn, 1-5-1971, tr.74-88.

100.                     Vũ Hạnh: Nhà văn Nhất Linh và một kẻ đến sau, Bách Khoa, số 180, Sài Gòn, 1964, tr.91-97.

101.                     Vũ Hoàng Chương: Ai điếu Nhất Linh Nguyễn Trường Tam, Văn, số 156, Sài Gòn, 1970, tr.1-4.

102.                     Vũ Hoàng Chương: Văn tế truy điệu Nhất Linh Nguyễn Trường Tam, Tin sách, số đặc biệt về Nhất Linh, Sài Gòn, tháng 7-1964, tr.14-16.

 

2a. Phong trào Thơ Mới

1.      Châu Hải Kỳ: Vài tài liệu về Hàn Mặc Tử, Đặc san Văn, tập 2, Sài Gòn, tháng 6-1967, tr.69-78.

2.      Đào Thường Phúc: Hàn Mặc Tử: trăng và thơ, Văn, số 179, Sài Gòn, 1-6-1971, tr.65-83.

3.      Đào Thường Phúc: Nguyễn Bính, những mùa xuân thư hương, Văn, số 189, Sài Gòn, 1-11-1971, tr.43-54.

4.      Đặng Tiến: Đức tin trong thơ Hàn Mặc Tử, Văn, số 197, Sài Gòn, 1-6-1971, tr.3-30.

5.      Đặng Tiến: Vũ trụ thơ, (… Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng), Giao điểm xuất bản, Sài Gòn, 1972, 162 tr.

6.      Đinh Cường: Bích Khê: cuộc đời và thi nghiệp, Văn hoá Á châu, Số 22, Sài Gòn, tháng 1-1960, tr.48-56; số 23+24, Sài Gòn, tháng 3-1960, tr.63-74.

7.      Đinh Cường: Nhân một ngày giỗ Bích Khê, Phổ thông, số 121, Sài Gòn, ngày 3-1-1964, tr.10-20.

8.      Đinh Cường: Nhạc và hoạ trong thơ Bích Khê, Văn, số 64, Sài Gòn, 15-8-1966, tr.66-73.

9.      Đinh Cường: Thu Xà và phần mộ Bích Khê, Văn, số 64, Sài Gòn, ngày15-8-1966, tr.42-45.

10. Đoàn Thêm: Đọc lại thơ Vũ Hoàng Chương, Văn hoá nguyệt san, số 11, Sài Gòn, 1964, tr.1935-1559.

11. Đoàn Thêm: Vài nét về Đông Hồ, Bách Khoa, số 294, Sài Gòn, 1968, tr.73-74.

12. Đỗ Long Vân: Thử phác hoạ một bản đồ của địa ngục theo Chế Lan Viên, Nghiên cứu Văn học, số 6, Sài Gòn, tháng 6-1968, tr.68-84; số 7+8, Sài Gòn, tháng 7+8-1968, tr.116-137.

13. Đường Bá Bốn: Cuộc đời và thi nghiệp Hàn Mặc Tử, Văn hoá Á châu, số 20, Sài Gòn, tháng 11-1959, tr.33-49; số 21, Sài Gòn, tháng 19-1959, tr.55-65.

14. Đường Bá Bốn: Nữ thi sĩ Mai Đình với Hàn Mặc Tử, Văn hoá Á châu, số 8, Sài Gòn, tháng 11-1958, tr.87-98.

15. Hoàng Diệp: Hàn Mặc Tử, thi nhân tiền chiến, Khai trí xuất bản, Sài Gòn, 1969, 218 tr.

16. Hoàng Tiến Giang: Hàn Mặc Tử, nhà thơ điên?, Thời nay, số 5, Sài Gòn, ngày 1-11-1959, tr.98-108.

17. Hoàng Trọng Miên: Những ngày sống chung với Hàn Mặc Tử ở Sài Gòn, Văn, số 73+74, Sài Gòn, ngày 7-1-1967, tr13-20.

18. Huỳnh Phan Anh: Hàn Mặc Tử hay là hiện hữu của thơ, Văn, số 73+74, Sài Gòn, ngày 7-1-1967, tr.3-10.

19. Hương Giang: Một thi hào Việt Nam: Hàn Mặc Tử, Văn hoá nguyệt san, số 26, Sài Gòn, 1957, tr.998-1012.

20. Hương Sơn: Hàn Mặc Tử làm văn tế, Lành mạnh, số 38, Huế, ngày1-11-1959, tr.12.

21. Lê Huy Oanh: Hàn Mặc Tử qua “Thơ Hàn Mặc Tử”, Văn, số 243, Sài Gòn, 1974, tr.24-47.

22. Lê Huy Oanh: Vị trí của Thế Lữ, Hàn Mặc Tử và Vũ Hoàng Chương trong thi đàn Việt Nam, Văn, số 243, Sài Gòn, 1974, tr.2-14.

23. Lê Huy Oanh: Vũ Hoàng Chương qua “Thơ say”, Văn, số 243, Sài Gòn, 1974, tr.48-58.

24. Lê Hữu Mục: Thi sĩ Hàn Mặc Tử, Rạng đông, số 13, Huế, ngày 15-11-1958, tr.3.

25. Lê Hữu Mục: Thi sĩ Hàn Mặc Tử, Rạng đông, số 13, Huế, ngày 15-11-1958, tr.5-7+20-23.

26. Lê Ngọc Huỳnh: Trăng và Hàn Mặc Tử, Rạng đông, số 13, Huế, ngày 15-11-1958, tr.9-12.

27. Lê Tuyên: Thi ca cận đại và nỗi lòng thành thực của Hàn Mặc Tử, Đặc san Đại học Sư phạm Huế, niên khoá 1961-1962.

28. Linh Phượng: Thêm một tài liệu về Lưu Trọng Lư, Phổ thông, số 14, Sài Gòn, tháng 6-1959, tr.76-78.

29. Lửu Đáo: Hàn Mặc Tử, Phổ thông, số 104, Sài Gòn, tháng 6-1963, tr.6-9.

30. Lửu Đáo: Hàn Mặc Tử, Phổ thông, số 105, Sài Gòn, tháng 6-1963, tr.71-74.

31. Lưu Nguyên: Thế Lữ, một kiện tướng của thơ văn tiền chiến, Thời nay, số 9, Sài Gòn, ngày 1-1-1960, tr.57-66.

32. Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội: Bóng giai nhân và Nguyễn Bính, Văn, số 189, Sài Gòn, ngày 1-11-1971, tr.37-42.

33. Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội: Truy niệm Nguyễn Bính, Văn, số 60, Sài Gòn, ngày 15-6-1966, tr.51-58.

  1. Minh Huy: Những Khuynh hướng trong thi ca Việt Nam, Khai trí xuất bản, Sài Gòn, 1962, 300 tr.
  2. Ngọc Sương: Người em: Bích Khê, Văn, số 64, Sài Gòn, ngày 15-8-1966, tr.22-41.
  3. Ngọc Sương: Thêm một tài liệu về Bích Khê, Văn, số 66, Sài Gòn, ngày 15-9-1966, tr.110-114.
  4. Ngọc Sương: Tưởng niệm Hàn Mặc Tử, Văn, số 73+74, Sài Gòn, ngày 7-1-1967, tr.37-44.
  5. Ngô Ganh: Khứ hồi Sài Gòn - Huế của Hàn Mặc Tử, Rạng đông, số 13, Huế, ngày 15-11-1958, tr.12-13.
  6. Nguyễn Cầu: Trong thơ Nguyễn Bính, tình ái đi về đâu?, Thời nay, số 29, Sài Gòn, ngày 15-11-1960, tr.25-30.
  7. Nguyễn Công Định: Nguyễn Nhược Pháp, nhà thơ của tuổi yêu đương, Thời nay, số 12, Sài Gòn, ngày 1-3-1960, tr.46-53.
  8. Nguyễn Đính: Cảm nghĩ về Hàn Mặc Tử, Lành mạnh, số 38, Huế, ngày1-11-1959, tr.21-23.
  9. Nguyễn Đông: Một bài thơ đọc sáu cách của Hàn Mặc Tử, Lành mạnh, số 38, Huế, ngày 1-11-1959, tr.6.
  10. Nguyễn Hữu Thư: Đính chính một tài liệu về Lưu Trọng Lư, Phổ thông, số 17, Sài Gòn, tháng 8-1969, tr.39-42.
  11. Nguyễn Hữu Trọng: Nguyễn Nhược Pháp, thi sĩ của tuổi trẻ hồn nhiên, Văn hoá tập san, số 2, Sài Gòn, 1970, tr.167-178.
  12. Nguyễn Tấn Long và Phan Canh: Khuynh hướng thi ca tiền chiến, Sống mới xuất bản, Sài Gòn, 1968, 573 tr.
  13. Nguyễn Tấn Long và Phan Canh: Việt Nam thi nhân tiền chiến, (3 tập), Sống mới xuất bản, Sài Gòn, 1967-1969.
  14. Nguyễn Thị Hiền: Những người đàn bà đã kinh qua đời sống của Hàn Mặc Tử, Rạng đông, số 13, Huế, ngày 15-11-1958, tr.6-17.
  15. Nguyễn Xuân Hoàng: Nỗi khắc khoải siêu hình trong thơ Hàn Mặc Tử, Văn, số 73+74, Sài Gòn, ngày 7-1-1967, tr.23-35.
  16. Phạm Công Thiện: Chung quanh quyển “Hàn Mặc Tử” của Trần Thanh Mại, Giáo dục phổ thống, số 44, Sài Gòn, ngày5-8-1959, tr.24-29; số 45, Sài Gòn, ngày 1-9-1959, tr.46-52.
  17. Phạm Công Thiện: Chung quanh quyển “Hàn Mặc Tử” của Trần Thanh Mại, chung quanh nghệ thuật viết truyện ký và André Maurois, Allan Nevins, Lành mạnh, số 38, Huế, ngày 1-11-1959, tr.16-20.
  18. Phạm Công Thiện: Một định mệnh tàn khốc theo riết bên mình Hàn Mặc Tử, Văn, số 179, Sài Gòn, ngày 1-6-1971, tr.45-52.
  19. Phạm Tấn Bình: Tan loãng trong Hàn Mặc Tử, Văn, số 179, Sài Gòn, ngày 1-6-1971, tr.31-41.
  20. Phạm Thế Ngũ: Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, tập 3, Quốc học tùng thư xuất bản, Sài Gòn, 1965, 662 tr.
  21. Quách Tấn: Ảnh hưởng đạo Phật trong thơ Hàn Mặc Tử, Niềm thương, số 13+14, Nha Trang, 1969, tr.23-32.
  22. Quách Tấn: Đôi nét về Hàn Mặc Tử, Niềm thương, số 5, Nha Trang, tháng 6-1969, tr.5-7; số 6, tháng 7-1969, tr.7-15.
  23. Quách Tấn: Đôi câu chuyện về Hàn Mặc Tử, Bách khoa, số 6, Sài Gòn, 1957, tr.42-46.
  24. Quách Tấn: Đôi nét về Hàn Mặc Tử, Văn hoá nguyệt san, số 46, Sài Gòn, 1959, tr.1377-1405.
  25. Quách Tấn: Đôi nét về Hàn Mặc Tử, Phổ thông, số 25, Sài Gòn, tháng 12-1959, tr.67-74.
  26. Quách Tấn: Hàn Mặc Tử, Sáng dội miền Nam, số 5, Sài Gòn, tháng 12-1959, tr.24-25+29.
  27. Quách Tấn: Đôi điều sai lầm về Hàn Mặc Tử, Văn hoá Á châu, số 23+24, Sài Gòn tháng 2+3-1960, tr.39-44.
  28. Quách Tấn: Đôi nét về cuộc đời Bích Khê, Văn, số 12, Sài Gòn, ngày 15-8-1966, tr.53-64.
  29. Quách Tấn: Đôi nét về Hàn Mặc Tử, Văn, số 73+74, Sài Gòn, ngày 7-1-1967, tr.45-159.
  30. Quách Tấn: Đời Bích Khê, Lửa thiêng xuất bản, Sài Gòn, 194 tr.
  31. Sơn Nam: Vài kỷ niệm về nhà thơ Nguyễn Bính, Bách khoa, số 223, Sài Gòn, 1966, tr.53-58.
  32. Sơn Nam: Kỷ niệm Nguyễn Bính, Văn, số 60, ra ngày 15-6-1966, tr.59-67.
  33. Tam Ích: Bàn về thơ tượng trưng, Văn, số 84, Sài Gòn, ngày 15-8-1966, tr.13-20.
  34. Tam Ích: Bích Khê có khuynh hướng chính trị, Văn, số 64, Sài Gòn, ngày 15-8-1966, tr.46-51.
  35. Tân Fong Hiệp: Nguyễn Nhược Pháp, nhà thơ dễ thương, Bách khoa, số 22, Sài Gòn, 1957, tr.26-36.
  36. Tế Xuyên: Nhớ Nguyễn Bính, Phổ thông, số 171, Sài Gòn, tháng 5-1966, tr.108-113.
  37. Thanh Lãng: Bảng lược đồ văn học Việt Nam: Ba thế hệ của nền văn học mới 1862-1945, Quyển hạ, Nxb. Trình bày, Sài Gòn, 1967, 840 tr.
  38. Thanh Lãng: Phê bình văn học thế hệ 1932, Phong trào Văn hoá xuất bản, Sài Gòn, 1972, 415 tr.
  39. Thế Phong: Hàn Mặc Tử, nhà thơ siêu thoát, Giáo dục phổ thông, số 31+32, Sài Gòn, 1969, tr.29-42.
  40. Thế Phong: Mùa xuân qua thi ca của một vài thi nhân tiền chiến, Văn hoá Á châu, số 22, Sài Gòn, tháng 1-1960, tr.57-70.
  41. Thế Phong: Hàn Mặc Tử, Quách Thoại, cuộc đời rướm máu, nhà thơ siêu thoát, Đại Nam văn hiến xuất bản, Sài Gòn, 1965, 114 tr.
  42. Thi Vũ: Hàn Mặc Tử người anh hùng của quê hương, Văn, số 179, Sài Gòn, ngày 1-6-1971, tr.43-51.
  43. Thiên Long: Theo dấu chân Hàn Mặc Tử, thi sĩ Quách Thoại đã tìm thấy Chúa, Văn đàn, số 28+29, Sài Gòn, ngày 31-12-1960, tr.11.
  44. Thiết Can: Tôn giáo trong nguồn thi hứng của Hàn Mặc Tử, Văn đàn, số 28+29, Sài Gòn, ngày 31-12-1960, tr.7+10.
  45. Tô Kiều Ngân, Lê Mộng Bảo: Hoài niệm Hàn Mặc Tử, Lành mạnh, số 32, Huế, ngày 15-11-1952.
  46. Tú Nạc: Khóc người thơ thế kỷ: Hàn Mặc Tử, Rạng đông, số 13, Huế, ngày 15-11-1958, tr.26.
  47. Tùng Phong: Nhà thơ của Trăng: Hàn Mặc Tử, Lành mạnh, số 38, Huế, ngày 1-11-1959, tr.10-12.
  48. Trần Thục: Góp phần thu thập thơ Hàn Mặc Tử, Lành mạnh, số 45, Huế, ngày1-6-1960, tr.7.
  49. Trần Tuấn Kiệt: Đọc thơ: Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Hồ Dzếnh, Thế Lữ, Phổ thông, số 169, Sài Gòn, tháng 4-1966, tr.72-76; số 170, Sài Gòn, tháng 4-1966, tr.59-62; số 171, Sài Gòn, tháng 5-1966, tr.73-76.
  50. Trần Tuấn Kiệt: Linh hồn dân tộc Chàm qua thơ Chế Lan Viên, Phổ thông, số 167, Sài Gòn, tháng 3-1966, tr.53-59.
  51. Trần Tuấn Kiệt: Thế giới kinh động của Hàn Mặc Tử, Phổ thông, số 165, Sài Gòn, tháng 3-1966, tr.60-64.
  52. Trần Tuấn Kiệt: Ý xuân trong thi ca tiền chiến và hậu chiến, Phổ thông, số 120, Sài Gòn, tháng 2-1964, tr.110-124.
  53. Trương Văn Ngọc: Nhân đi thăm mộ Hàn Mặc Tử, Văn, số 176, Sài Gòn, ngày 1-6-1971, tr.93-96.
  54. Trường Xuyên: Bàn qua đôi điểm về bài “Thánh nữ đồng trinh Maria” của Hàn Mặc Tử, Lành mạnh, số 38, Huế, 1-11-1950, tr.13.
  55. Võ Long Tê: Nhà thơ Công giáo: Hàn Mặc Tử, Rạng đông, Huế, ngày 15-11-1958, tr.4.
  56. Vọng Xuyên: Suy nghĩ về Freud (qua Hồ Xuân Hương, Hàn Mặc Tử, Thế hệ, số 5, Sài Gòn, tháng 11-1957, tr.7-12.
  57. Vũ Bằng: Nguyễn Bính, một thi sĩ suốt đời mắc bệnh tương tư, Văn, số 189, Sài Gòn, ngày 1-11-1971, tr.23-36.
  58. Vũ Huyền Linh: Một giai thoại về Nguyễn Bính, Phổ thông, số 20, Sài Gòn, tháng 10-1959, tr.53-55.
  59. Xuyên Sơn: Hàn Mặc Tử, Thế hệ, số 1, Sài Gòn, tháng 7-1957, tr.5-17.

 

C. SAU 1975

1c. Tự lực văn đoàn

  1. Đào Văn A: Tự lực văn đoàn trên sách báo miền Nam trước đây, Tạp chí Văn học, số 5-1981.
  2. Đinh Quang Tốn: Thạch Lam và quê hương sáng tác, Tạp chí Văn học, số 6-1992, tr.20.
  3. Đỗ Đức Hiểu: Đọc Bướm trắng của Nhất Linh, Tạp chí Văn học, số 1-1997, tr.15.
  4. Đỗ Đức Hiểu: Đọc Đôi bạn của Nhất Linh, Tạp chí Văn học, số 1-1997, tr.15.
  5. Lê Dục Tú: Tìm hiểu truyện ngắn Khái Hưng, Nghiên cứu Văn học, số 3-2005, tr.106.
  6. Lê Kim Vinh: Thạch Lam, Tạp chí Văn học, số 3-1990, tr.5.
  7. Hà Minh Đức: Hoàng Đạo (1907-1948), Nghiên cứu Văn học, số 8-2006, tr.75.
  8. Lê Minh Tuyên: Những nét tương đồng và khác biệt trong truyện ngắn Nguyễn Tuân và Thạch Lam, Tạp chí Văn học, số 12-2003, tr.69.
  9. Lê Thị Đức Hạnh: Trần Tiêu có phải là thành viên trong tổ chức Tự lực văn đoàn không?, Tạp chí Văn học, số 5-1990, tr.17.
  10. Lê Thị Đức Hạnh: Thêm mấy ý kiến đánh giá Tự lực văn đoàn, Tạp chí Văn học, số 3-1991, tr.76.
  11. Lê Thị Đức Hạnh: Tự lực văn đoàn và Phong trào Thơ Mới, Tạp chí Văn học, số 2-1993, tr.24.
  12. Ngô Văn Thư: Nửa chừng xuân - bước tiến của nghệ thuật tiểu thuyết, tạp chí Văn học, số 11-2001, tr.64.
  13. Ngô Văn Thư: Quan niệm văn chương của Khái Hưng, Nghiên cứu Văn học, số 3-2005, tr.117.
  14. Ngô Văn Thư: Nghệ thuật tự sự trong tiểu thuyết Khái Hưng, Nghiên cứu Văn học, số 6-2009, tr.43.
  15. Nguyễn Kim Hồng: Xu hướng hiện thực tâm lý qua các tác phẩm viết về làng quê của Thạch Lam, Tạp chí Văn học, số 12-2001, tr.53.
  16. Nguyễn Hữu Hiếu: Mấy suy nghĩ về nhà văn Nhất Linh - Nguyễn Trường Tam, Tạp chí Văn học, số 4-1994, tr.50.
  17. Nguyễn Thanh Hồng: Truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam, Tạp chí Văn học, số 3-1990, tr.7.
  18. Nguyễn Thành Thi: Thạch Lam từ quan niệm về cái đẹp đến những trang văn Hà Nội ba sáu phố phương, Tạp chí Văn học, số 10-2000, tr.58.
  19. Nguyễn Thành Thi: Đặc trưng nghệ thuật của truyện ngắn Thạch Lam, Nxb. Giáo dục, 1999.
  20. Nguyễn Thành Thi: Phong cách văn xuôi nghệ thuật Thạch Lam, Nxb. Khoa học Xã hội, 2006, 281 tr.
  21. Oh Eun Chol: Vấn đề gia đình trong tiểu thuyết Gia đình của Khái Hưng (Việt Nam) và tiểu thuyết Ba thế hệ của Yom Sang Sop (Hàn Quốc), Tạp chí Văn học, số 11-2000, tr.69.
  22. Phan Cự Đệ: Tự lực văn đoàn con người và văn chương, Nxb. Văn học, Hà Nội, 1990.
  23. Phan Quốc Lữ: Tính chất phi cốt truyện trong văn xuôi Thạch Lam, Xuân Diệu, Thanh Tịnh, Hồ Dzếnh, Tạp chí Văn học, số 6-2003, tr.55.
  24. Phan Trọng Thưởng: Cuối thế kỷ nhìn lại việc nghiên cứu, đánh giá văn chương Tự lực văn đoàn, Tạp chí Văn học, số 2-2000, tr.51.
  25. Phạm Đình Ân: Thế Lữ trong Tự lực văn đoàn, Tạp chí Văn học, số 8-2003, tr.64.
  26.  Phạm Thị Thu Hương: Quan niệm nghệ thuật về con người trong truyện ngắn Thạch Lam, Tạp chí Văn học, số 3-1993, tr.16.
  27. Phong Lê: Thạch Lam trong Tự lực văn đoàn, Tạp chí Văn học, số 2-1988, tr.103.
  28. Trần Văn Toàn: Nam tính hoá nữ tính - đọc Đoạn tuyệt của Nhất Linh dưới góc nhìn giới tính, Nghiên cứu Văn học, số 9-2011, tr.86.
  29. Trương Chính: Nhìn lại vấn đề giải phóng phụ nữ trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, Tạp chí Văn học, số 5-1990, tr.3.
  30. Văn Giá: “Khái Hưng - nhà tiểu thuyết” của Vu Gia, Tạp chí Văn học, số 4-1994, tr.52.
  31. Văn Tạo: Nên có nhà lưu niệm Tự lực văn đoàn, Nghiên cứu Văn học, số 3-2006, tr.127.
  32. Vu Gia: Một ít tư liệu chung quanh Thạch Lam, Tạp chí Văn học, số 8-1994, tr.53.
  33. Vu Gia: Khái Hưng nhà tiểu thuyết, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1993, 158 tr.
  34. Vu Gia: Thạch Lam thân thế và sự nghiệp, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1994, 286 tr.
  35. Vu Gia: Nhất Linh trong tiến trình hiện đại hoá, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1995.
  36. Vu Gia: Hoàng Đạo nhà báo - nhà văn, Nxb. Văn hoá, Hà Nội, 1997, 467 tr.
  37. Vũ Khánh Dần: Nhìn nhận tiểu thuyết Nhất Linh hơn nửa thế kỷ qua, Tạp chí Văn học, số 3-1997, tr.81.
  38. Vũ Tuấn Anh: Thạch Lam - văn chương và cái đẹp, Tạp chí Văn học, số 6-1992, tr.13.
  39. Vương Trí Nhàn: Cốt cách của ngòi bút Thạch Lam, Tạp chí Văn học, số 5-1990, tr.10.
  40. Vương Trí Nhàn: Tìm vào nội dung, tìm vào cảm giác, Tạp chí Văn học, số 6-1992, tr.17.

 

2c. Phong trào Thơ Mới

  1. Chế Lan Viên: Thơ Bích Khê, in trong sách Thơ Bích Khê, Nxb. Nghĩa Bình, 1988, tr.9-29.
  2. Chế Lan Viên: Thơ Yến Lan, in trong Thơ Yến Lan, Nxb. Văn học, Hà nội, 1987, tr.5-10.
  3. Chế Lan Viên: Hàn Mặc Tử, anh là ai, in trong Thơ Hàn Mặc Tử, Sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1987, tr.7-26.
  4. Chu Văn Sơn: Thơ Điên của Hàn Mặc Tử - thi học của cái “tột cùng”, Tạp chí Văn học, số 11-2000, tr.39.
  5. Chu Văn Sơn: Ba đỉnh cao thơ mới, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  6. Bích Thu: Hàn Mặc Tử - một hiện tượng độc đáo của thi ca Việt Nam thế kỷ XX, Tạp chí Văn học, số 1-2000, tr.47.
  7. Bích Thu: Đi vào cõi thơ Bích Khê, Nghiên cứu Văn học, số 4-2006, tr.67.
  8. Biện Thị Quỳnh Nga: Những đặc trưng cơ bản của lục bát Thơ mới 1932-1945, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.80.
  9. Bùi Văn Trọng Cường: Đọc lại thơ Thâm Tâm, Tạp chí Văn học, số 1-1996, tr.44.
  10. Đỗ Đình Thọ: Nguyễn Bính nhà thơ của tình yêu, trong Thơ tình Nguyễn Bính, Sơ Văn hoá Thông tin Hà Nam Ninh xuất bản, 1987., tr.9-15.
  11. Đoàn Ánh Dương: Tâm thái trí thức thời Thơ mới: Trường hợp Xuân Diệu và Huy Cận, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.92.
  12. Đoàn Thị Đặng Hương: Con mắt tâm linh văn hoá phương Đông trong thơ Hàn Mặc Tử, Tạp chí Văn học, số 11-2000, tr.31.
  13. Đoàn Trọng Huy: Thời gian nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, Tạp chí Văn học, số 11-1995, tr.31
  14. Đỗ Đức Hiểu: Tiếng thu, thi nhạc của Lưu Trọng Lư, Tạp chí Văn học, số 1-1992, tr.24.
  15. Đỗ Lai Thuý: Huy Cận và sự khắc khoải không gian, Tạp chí Văn học, số 5-1990, tr.30.
  16. Đỗ Lai Thuý: Hàn Mặc Tử - một hiện tượng độc đáo trong tư duy thơ Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 1-1991, tr.42.
  17. Đỗ Lai Thuý: Đường về chân quê của Nguyễn Bính, Tạp chí Văn học, số 6-1991, tr.27.
  18. Đỗ Lai Thuý: Bích Khê - lời truyền sóng, Tạp chí Văn học, số 2-1992, tr.28.
  19. Đỗ Lai Thuý: Con mắt thơ (Phê bình phong cách Thơ mới), Nxb. Lao động, Hà Nội, 1997.
  20. Đỗ Lai Thuý: Đinh Hùng - người kiến trúc chiêm bao, Tạp chí Văn học, số 5-1997, tr.48.
  21. Đỗ Lai Thuý: Hoàng cầm, Nguyễn Bính và…, Tạp chí Văn học, số 6-1998, tr.69.
  22. Đỗ Lai Thuý: Thơ mới thành công và thất bại của thành công, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.34.
  23. Hà Bình Trị: Bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính, Tạp chí Văn học, số 3-1990, tr.13.
  24. Hà Minh Đức: Xuân Diệu nói về hai tập: Thơ thơ và gửi hương cho gió, Tạp chí Văn học, số 12-1995, tr.16.
  25. Hà Minh Đức: Điêu tàn và tâm hồn thơ Chế Lan Viên, Tạp chí Văn học, số 10-1996, tr.9.
  26. Hà Minh Đức: Xuân Diệu và chặng đường thơ văn trước Cách mạng, Nghiên cứu Văn học, số 12-2005, tr.54.
  27. Hà Minh Đức: Nguyễn Bính thi sĩ của đồng quê, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1995, 304 tr.
  28. Hà Minh Đức: Huy Cận ngọn lửa thiêng không tắt, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 2010.
  29. Hà Minh Đức: Thơ tình trong phong trào Thơ mới (1932-1945), Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.25.
  30. Hồ Thị Ánh Dương: Yếu tố cốt truyện trong bài thơ Chùa Hương của Nguyễn Nhược Pháp, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.111.
  31. Hoài Thanh: Nhìn lại cuộc tranh luận về nghệ thuật hồi 1935-1936, Tạp chí Văn học, số 1-1960, tr.36.
  32. Hoàng Hưng: Thơ mới và thơ hôm nay, Tạp chí Văn học, số 2-1993, tr.21.
  33. Hoàng Nhân: Xuân Diệu và Baudelaire, Tạp chí Văn học, số 4-1996, tr.11.
  34. Hoàng Nhân: André Breton và Hàn Mặc Tử, Tạp chí Văn học, số 7-1996, tr.9.
  35. Hoàng Thị Huế: Bích Khê và cách đánh giá của Hoài Thanh, Nghiên cứu Văn học, số 4-2006, tr.96.
  36. Hoàng Thị Huế: Thể Thơ mới nhìn từ vận động nội tại của thể loại văn học, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.70.
  37. Hoàng Sĩ Nguyên: Nét xưa trong Thơ Mới 1932-1945, Nghiên cứu Văn học, số 6-2006, tr.116.
  38. Hoàng Sĩ Nguyên: Kiểu nhà thơ và quan niệm của các nhà thơ mới về Thơ mới, Nghiên cứu Văn học, số 3-2007, tr.34.
  39. Hồ Thế Hà: Niềm bi hận của Chế Lan Viên, Tạp chí Văn học, số 11-1998, tr.70.
  40. Huy Cận, Hà Minh Đức: Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thơ ca, Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1993.
  41. Lại Nguyên Ân: Khí chất miền Trung và nhà thơ Hàn Mặc Tử, Tạp chí Văn học, số 1-1991, tr.49.
  42. Lại Nguyên Ân: Cuộc cải cách thơ của Phong trào Thơ Mới và tiến trình thơ tiếng Việt, Tạp chí Văn học, số 1-1993, tr.33.
  43. Lại Nguyên Ân: Nói thêm về điểm khởi đầu Phong trào Thơ Mới (1932-1945), Tạp chí Văn học, số 2-1998, tr.58.
  44. Lê Duy: Tràng giang - sự hiện diện độc đáo của một tâm trạng, Tạp chí Văn học, số 3-1990, tr.15.
  45. Lê Hoài Nam: Thế giới nghệ thuật trong Tinh huyết của Bích Khê, Tạp chí Văn học, số 9-1998, tr.38.
  46. Lê Hoài Nam: Những đóng góp của Bích Khê vào nền thơ ca hiện đại Việt Nam, Nghiên cứu Văn học, số 4-2006, tr.52.
  47. Lê Thị Hồ Quang: Chất lý luận trong thơ trữ tình Xuân Diệu (Qua hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió), Nghiên cứu Văn học, số 8-2004, tr.130.
  48. Lê Thị Hồ Quang: Đây thôn Vĩ Dạ từ hình ảnh đến biểu tượng, Tạp chí Văn học, số 1-2006, tr.145.
  49. Lê Minh Hà: Mùa xuân chín - cảm thức thời gian của Hàn Mặc Tử, Nghiên cứu Văn học, số 3-2004, tr.117.
  50. Lê Quang Hưng: Cảm thức thời gian trong thơ Xuân Diệu, Tạp chí Văn học, số 1-1987, tr.102.
  51. Lê Quang Hưng: Cái tôi độc đáo - tích cực của Xuân Diệu trong Phong trào Thơ Mới, Tạp chí Văn học, số 5-1990, tr.24.
  52. Lê Thị Đức Hạnh: Lưu Trọng Lư - người có công đầu trong Phong trào Thơ Mới, Tạp chí Văn học, số 5-1991, tr.12.
  53. Lê Tiến Dũng: Thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932-1945 cái nhìn nghệ thuật mới về thế giới con người, Tạp chí Văn học, số 9-1997, tr.78.
  54. Lê Tiến Dũng: Những cách tân nghệ thuật trong thơ Xuân Diệu giai đoạn 1932-1945, Nxb. Giáo dục, Hà Nội.
  55. Lưu Khánh Thơ: Thơ tình Xuân Diệu trước và sau Cách mạng tháng Tám 1945, Tạp chí Văn học, số 9-1995, tr.28.
  56. Lưu Khánh Thơ: Vấn đề mới - cũ trong thơ Việt Nam trước 1945 nhìn từ phong trào Thơ Mới, Nghiên cứu Văn học, số 3-2004, tr.81.
  57. Lý Hoài Thu: Nỗi buồn và sự cô đơn trong thơ Xuân Diệu trước 1945, Tạp chí Văn học, số 5-1995, tr.22.
  58. Lý Hoài Thu: Thế giới không gian nghệ thuật của Xuân Diệu qua Thơ thơ và Gửi hương cho gió, Tạp chí Văn học, số 1-1996, tr.40.
  59. Lý Toàn Thắng: Âm điệu trong thơ Hàn Mặc Tử, Nghiên cứu Văn học, số 6-2007, tr.9.
  60. Mã Giang Lân: Bến My Lăng, từ điểm nhìn địa - văn hoá, Nghiên cứu Văn học, số 2-2006, tr.55.
  61. Mã Giang Lân: Cấu trúc câu thơ Lửa thiêng, Nghiên cứu Văn học, số 6-2008, tr.30.
  62. Mai Thị Liên Giang: Tầm đón đợi trong lịch sử tiếp nhận Thơ Mới, Nghiên cứu Văn học, số 9-2007, tr.100.
  63. Nguyễn Đăng Điệp: Giọng điệu thơ Xuân Diệu trước 1945, Tạp chí Văn học, số 2-2001, tr.77.
  64. Nguyễn Đăng Điệp: Giọng điệu thơ Huy Cận thời Lửa thiêng, Tạp chí Văn học, số 2-2002, tr.57.
  65. Nguyễn Đăng Điệp: Hàn Mặc Tử và mĩ học của khát vọng, Nghiên cứu Văn học, số 9-2009, tr.40.
  66. Nguyễn Đức Đàn: Bàn thêm về vai trò và tác dụng của Thơ Mới, nhân đọc phong trào Thơ Mới của Phan Cự Đệ, Tạp chí Văn học, số 11-1976, tr.89.
  67. Nguyễn Hữu Hiếu: Tính hiện đại của Thơ mới Việt Nam xét trên phương diện ngôn từ, Nghiên cứu Văn học, số 7-2009, tr.95.
  68. Nguyễn Nhã Bản, Hồ Xuân Bình: Mã ngữ nghĩa của vốn từ vựng hay văn hoá làng quê trong thơ Nguyễn Bính, Tạp chí Văn học, số 4-1999, tr.63.
  69. Nguyễn Quốc Tuý: Trở lại mấy ý kiến về Phong trào Thơ Mới, Tạp chí Văn học, số 5-1990, tr.20.
  70. Nguyễn Thanh Tâm: Thơ mới - một diễn giản từ “lịch sử - sinh thành học”, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.100.
  71. Nguyễn Toàn Thắng: Hàn Mặc Tử trong đời sống phê bình trước 1945, Tạp chí Văn học, số 4-2001, tr.75.
  72. Nguyễn Thị Hồng Nam: Quan niệm nghệ thuật về con người trong thơ Xuân Diệu, Tạp chí Văn học, số 12-1995, tr.23.
  73. Nguyễn Xuân Nam: Ảnh hưởng của thơ nước ngoài trong thơ Chế Lan Viên, Tạp chí Văn học, số 1-1997, tr.11.
  74. Nguyễn Xuân Sanh: Xuân Diệu, đôi suy nghĩ về bạn, Tạp chí Văn học, số 12-1995, tr.9.
  75. Phạm Đình Ân: Tiếp cận thơ thế Lữ từ văn bản, Tạp chí Văn học, số 7-2002, tr.68.
  76. Phạm Quốc Ca: Bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu đã được hướng dẫn dạy và học như thế nào?, Nghiên cứu Văn học, số 2-2009, tr.109.
  77. Phạm Xuân Nguyên: Bích Khê, “thi sĩ thần linh” - “thơ loã thể”, Nghiên cứu Văn học, số 4-2006, tr.77.
  78. Phạm Xuân Nguyên: Xuân Diệu và “thơ khó”, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.51.
  79. Phạm Phú Phong: Bích Khê trong trường thơ loạn, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.63.
  80. Phan Cự Đệ: Phong trào “Thơ Mới” 1932-1945, tái bản lần thứ 2, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1982, 288 tr.
  81. Phan Huy Dũng: Tổ chức bài thơ theo sự dẫn dắt của âm nhạc, một đặc điểm loại hình kết cấu của nhiều bài Thơ Mới (1932-1945), Tạp chí Văn học, số, 2-1999, tr.67.
  82. Phan Trọng Thưởng: Thế Lữ - nghệ sĩ hai lần tiên phong, Tạp chí Văn học, số 7-1997, tr.11.
  83. Phan Trọng Thưởng: Thơ mới - một hiện tượng lịch sử có tính khu vực, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.3.
  84. Phong Lê: Hoài Thanh và Thi nhân Việt Nam, Tạp chí Văn học, số 3-1992, tr.2.
  85. Quách Tấn: Đôi nét về Hàn Mặc Tử, trong sách Thơ Hàn Mặc Tử, Sở Văn hoá Thông tin Nghĩa Bình xuất bản, 1987, tr.27-48.
  86. Tế Hanh: Đời và thơ Xuân Diệu - đôi điều nhớ và cảm nhận, Tạp chí Văn học, số 12-1995, tr.6.
  87. Trần Đình Sử: Thơ Mới và sự đổi mới thi pháp thơ trữ tình tiếng Việt, Tạp chí Văn học, số 6-1993, tr.11.
  88. Trần Đình Sử: Mấy vấn đề thi pháp Thơ Mới như là một cuộc cách mạng trong thơ Việt, Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.9.
  89. Trần Hoài Anh: Bích Khê qua cái nhìn của nhà văn, nhà lý luận phê bình miền Nam 1954-1975, Nghiên cứu Văn học, số 4-2006, tr.87.
  90. Trần Huyền Sâm: Ảnh hưởng của thơ Tượng trưng Pháp đối với phong trào Thơ mới Việt Nam (1932-1945), Tạp chí Văn học, số 12-2001, tr.61.
  91. Trần Nho Thìn: Nhà thơ lãng mạn “đọc” văn học phương Đông truyền thống: Xuân Diệu với Mưa xưa: Nghiên cứu Văn học, số 6-2012, tr.41.
  92. Trần Thanh Mại: Hoài Thanh - người đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật, Tạp chí Văn học, số 9-1998, tr.74.
  93. Trần Khánh Thành: Huy Cận với sự cảm nhận thời gian, Tạp chí Văn học, số 10-1996, tr.49.
  94. Văn Giá: Thêm một công trình nghiên cứu có chất lượng về Thơ Mới, Nghiên cứu Văn học, số 2-2005, tr.149.
  95. Văn Tâm: Giới thuyết Thơ Mới, Tạp chí Văn học, số 6-1992, tr.6.
  96. Vân Long: Thi sĩ Phạm Hầu - một tài thơ trong quá khứ, Tạp chí Văn học, số 7-1996, tr.38.
  97. Vũ Ngọc Phan: Xuân Diệu, nhà thơ tình, Tạp chí Văn học, số 1-1987, tr.89.
  98. Vũ Quần Phương: Đây mùa thu tới của Xuân Diệu, Tạp chí Văn học, số 3-1990, tr.9.
  99. Vũ Quần Phương: Thơ tình Xuân Diệu nồng và trẻ, Tạp chí Văn học, số 12-1995, tr.18.
  100. Vũ Tuấn Anh: Chê Lan Viên với Điêu tàn và Vàng sao, Nghiên cứu Văn học, số 8-2007, tr.29.
  101. Vũ Văn Sĩ: Vấn đề cảm xúc của Thơ mới, Tạp chí Văn học, số5-2003, tr.49.
  102. Xuân Diệu: Quê hương trong thơ Huy Cận, Tạp chí Văn học, số 5+6-1985, tr.14.
  103. Xuân Diệu: Thế giới thơ Huy Cận, Nxb. Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1987, 220 tr.

[Nguồn: http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3434%3Ath-mc-nghien-cu-phe-binh-t-lc-vn-oan-va-th-mi&catid=129%3Aht-80-nm-th-mi-va-t-lc-vn-oan&Itemid=195&lang=en]

Các tin đã đưa ngày: