Hoa viên kỳ ngộ tập – Gốc gác và sáng tân

23/12/2013

Hoa viên kì ngộ tập là tác phẩm viết dưới ảnh hưởng của bộ tiểu thuyết Quốc sắc thiên hương thời Minh, trong đó ảnh hưởng của Lưu sinh mịch liên kí và Tầm Phương nhã tập là lớn nhất. Lưu sinh mịch liên kí chỉ ảnh hưởng tới Hoa viên kì ngộ tập ở một số tình tiết lẻ tẻ. Tác phẩm chính yếu mà tác giả Hoa viên kì ngộ tập dựa vào là Tầm Phương nhã tập. Song tuy bị ảnh hưởng sâu nặng bởi Tầm phương nhã tập nhưng Hoa viên kì ngộ tập không phải là sự tiếp thu y nguyên, toàn bộ mà chỉ là tiếp thu một bộ phận căn bản, cốt tủy của tác phẩm gốc, rồi tổ chức lại cốt truyện, cách tân theo hướng Việt hóa, giản hóa và nhã hóa... Kết quả là đã tạo tác ra một tác phẩm mới có dáng dấp Việt Nam với cốt truyện gọn nhẹ và mạch lạc, nhân vật được tinh giản, yếu tố sắc dục tuy vẫn đậm đặc nhưng đã được nhã hóa bởi yếu tố tài tử giai nhân, khiến truyện đôi chỗ miêu tả dục tình một cách bạo dạn, lộ liễu mà không gợi lên cho người đọc cảm giác tục tĩu, thô bỉ. Trên căn bản, sự tiếp nhận và sáng tân của tác giả Hoa viên kì ngộ tập khiến cho tác phẩm tuy là “viết lại” nhưng nhiều chỗ đã vượt lên một tầm cao mới so với tác phẩm gốc

Hoa viên kỳ ngộ tập – Gốc gác và sáng tân

Phạm Văn Ánh

 

Hoa viên kì ngộ tập là bộ tiểu thuyết chữ Hán của tác giả khuyết danh thời Lê, hiện còn một bản duy nhất lưu tại Thư viện Viện Hán Nôm, kí hiệu A. 2829. Năm 1997, tác phẩm này đã được dịch và công bố rộng rãi(1).

Hoa viên kì ngộ tập viết về các cuộc “trộm hương thó ngọc” của Triệu Kiệu, con trai thứ hai của Triệu Đông Chính, người ở đất Nam Xang triều Lê; trong đó có nhiều đoạn miêu tả chuyện tình ái hết sức táo bạo và lộ liễu.

Hoa viên kì ngộ tập vừa có bóng dáng của một tiểu thuyết tài tử giai nhân, nhưng vừa có dáng dấp của một tiểu thuyết sắc tình. Tính chất sắc dục trong tiểu thuyết này cực mạnh, không thua kém các tiểu thuyết kiểu Si bà tử truyện, Nhục bồ đoàn... của Trung Quốc, điều đó cơ hồ chưa từng thấy trong tiểu thuyết của các tác giả Việt Nam thời Trung đại. Phan Văn Các đánh giá “chất “sex” của truyện khá là độc đáo”(2). Còn Trần Nghĩa, khi tìm hiểu về “những chuyện “làm tình” trắng trợn, lộ liễu, không cần một chiếc lá nho che đậy nào hết” như trong Việt Nam kì phùng sự lụcHoa viên kì ngộ tập cho rằng: “Phải chăng đó là một phản ứng, thậm chí một cách trả thù đối với những khắt khe của lễ giáo phong kiến trong lĩnh vực tình yêu mà tác giả Hoa viên kì ngộ (tập) muốn giải tỏa để đi tới chỗ được tự do yêu đương, tự do ân ái, theo tiếng gọi bản năng sinh vật tiềm ẩn trong mỗi con người!”(3).

Khảo sát các tiểu thuyết Việt Nam thời Trung đại, loại tiểu thuyết sắc dục không nhiều. Tuy yếu tố sắc dục có được trổ ra ở chỗ này chỗ kia, nhưng do áp lực từ nhiều phía nên trong khi miêu tả các yếu tố này, để “lách luật”, các tác giả thường dùng bút pháp ước lệ, hoặc phủ lên nó, ngụy trang nó bằng những “làn khói sương” nhuốm vẻ siêu thực, ma quái… Do vậy, loại truyện có yếu tố “kì” với ý nghĩa là kì lạ, ít gặp, không mang yếu tố yêu ma, thần thánh trong chuyện sắc dục được miêu tả sống động, “trắng trợn” như Hoa viên kì ngộ tập  là rất hiếm, rất đặc biệt. Dường như sự vận động nội tại của xã hội Việt Nam cũng như văn học Việt Nam thời Trung đại chưa đủ khả năng để sản sinh ra loại truyện “bốc” đến như thế.

Vậy cái gọi là “độc đáo”, đặc biệt của tác phẩm Hoa viên kì ngộ tập có phải là độc dị? Tức là nó không chỉ độc đáo mà còn riêng biệt, thuần túy là sáng tác của tác giả Việt Nam, hay đó chỉ là sự vay mượn, phóng tác, tiếp nhận ảnh hưởng từ các tiểu thuyết Trung Quốc như nhiều tiểu thuyết khác? Nếu là tiếp nhận ảnh hưởng thì cụ thể là Hoa viên kì ngộ tập tiếp nhận từ tác phẩm nào, mức độ ảnh hưởng ra sao, tác giả đã tiếp thu những điểm nào, bỏ những điểm nào, v.v... Một khi là tiếp nhận thì cái được coi là “độc đáo” đó còn có giá trị tự thân nữa hay phải bị san sẻ đi ít nhiều? Đây là những băn khoăn mà đến này chưa một học giả nào tìm được lời giải đáp.

1. Sự gợi mở về nguồn ảnh hưởng của Hoa viên kì ngộ tập

Phần giới thiệu nhân vật ở đầu tiểu thuyết Hoa viên kì ngộ tập cũng giống với vô số cách mở đầu của các tiểu thuyết diễm tình khác, điều ấy không bàn đến làm gì. Nhưng khi đọc Hoa viên kì ngộ tập, chúng tôi đã rất chú ý đến một chi tiết có ý nghĩa như một sự gợi mở, đó là chi tiết Triệu sinh tự nhủ với lòng: “Ngô Đình Chương gặp gỡ như vậy, không uổng là danh hiệu Tầm Phương Chủ Nhân […]. Nếu được cảnh gặp gỡ tốt lành ấy thì thật chẳng phụ sinh này vậy. Bèn lấy Tầm Phương Chủ Nhân làm tên hiệu”(4).

Ngô Đình Chương mà Triệu sinh hết sức hâm mộ, và lấy tên hiệu của chàng ta làm tên hiệu của mình, thực ra là nhân vật thế nào? Lần theo tên của nhân vật này, có nhiều vấn đề dần được sáng tỏ. Trước hết, theo nghiên cứu của chúng tôi, Ngô Đình Chương đích thị là nhân vật chính trong Tầm Phương nhã tập - một truyện diễm tình thuộc bộ tiểu thuyết Quốc sắc thiên hương của Ngô Kính Sở thời Minh (lời tựa của Cửu Tử Sơn Nhân Tạ Hữu Khả soạn tại Vạn Quyển lâu năm Đinh hợi, niên hiệu Vạn Lịch, 1587)(5). Trong Hoa viên kì ngộ tập, ngoài nhân vật Triệu sinh có hình bóng của Ngô Đình Chương của Tầm Phương nhã tập, chúng tôi còn thấy xuất hiện thêm một số nhân vật và tên gọi của nhiều tác phẩm nằm trong bộ tiểu thuyết Quốc sắc thiên hương. Điều đó thấy rõ qua nhiều tình tiết và đối thoại giữa các nhân vật, chẳng hạn đoạn sau khi Triệu sinh đã lôi kéo được Thu Nguyệt giúp mình trong việc chinh phục Huệ nương, trước mặt Huệ nương, Nguyệt tán dương Triệu sinh: “Chàng ấy tài tình nhanh nhẹn, gặp việc gì cũng làm thơ được, phải chăng miệng chàng như gấm thêu, nói ra là thành thơ, tài khéo lạ thường!”. Lập tức “Huệ giận mà nói rằng: - Ngươi muốn bắt chước Quế Hồng đối đãi với ta như Bích Liên chăng?”. Quế Hồng và Bích Liên được nhắc ở đây là những nhân vật thế nào? Kết quả tìm hiểu cho thấy Quế Hồng chính là thị nữ của Bích Liên trong truyện Lưu sinh mịch liên kí, cũng là một truyện thuộc bộ tiểu thuyết Quốc sắc thiên hương. Quế Hồng đã giúp cho Lưu Nhất Xuân (nhân vật chính) tiếp cận và chinh phục cô chủ của mình, nên ở đây, trong Hoa viên kì ngộ tập, nhân vật Huệ nương nhắc việc này để quở trách, răn đe thị nữ.

Trong một đoạn khác, khi Triệu sinh đến phòng Huệ nương, nhân thấy cuốn Liệt nữ truyện ở trên bàn liền hỏi: “Cuốn truyện kí này không hấp dẫn bằng truyện Thiên hương. Huệ nói: Thiên hương ư? Truyện ấy không đoan chính. Sinh nói: Vậy truyện Lưu sinh mịch thì sao? Huệ đáp: Đều là những truyện thương phong bại tục, nhắc đến làm gì”. Thiên hương ở đây là bộ Quốc sắc thiên hương. Truyện Lưu sinh mịch mà Triệu sinh nhắc đến, tên đầy đủ của nó chính là Lưu sinh mịch liên kí. Ngay dưới đoạn thoại trên, Triệu sinh không tiếc lời thanh minh cho bộ Thiên hương và còn nhắc tên 2 truyện trong bộ Quốc sắc thiên hương, đó là các truyện Long hội Lan Trì lụcChung tình lệ tập.

Như vậy, ở các đoạn đối thoại trong Hoa viên kì ngộ tập, các nhân vật đã nhiều lần nhắc đến bộ Quốc sắc thiên hương, thông qua việc nhắc đến 4 truyện cụ thể, cũng là 4  truyện quan trọng nhất trong bộ tiểu thuyết lớn này, bao gồm: Tầm Phương nhã tập, Lưu sinh mịch liên kí, Long hội Lan Trì lụcChung tình lệ tập. Và điều này là cứ liệu xác thực cho những đoán định ban đầu của chúng tôi, cho phép chúng tôi nghĩ rằng Hoa viên kì ngộ tập được viết ra dưới ảnh hưởng trực tiếp của chính bộ tiểu thuyết Quốc sắc thiên hương.

2. Ảnh hưởng của Quốc sắc thiên hương đến Hoa viên kì ngộ tập

Quốc sắc thiên hương là một bộ tổng tập tiểu thuyết thời Minh do Ngô Kính Sở biên tập, gồm 10 quyển với nhiều truyện khác nhau, trong đó có 6 tác phẩm quan trọng, gồm: Long hội Lan Trì lục, Lưu sinh mịch liên kí, Tầm Phương nhã tập, Song Khanh bút kí, Thiên duyên kì ngộ, Chung tình lệ tập

Tìm hiểu Quốc sắc thiên hương cho thấy Hoa viên kì ngộ tập quả đã chịu ảnh hưởng từ bộ tiểu thuyết lớn này, trong đó, ảnh hưởng của hai truyện Lưu sinh mịch liên kíTầm Phương nhã tập là sâu đậm nhất.

a. Ảnh hưởng của truyện Lưu sinh mịch liên kí

Lưu sinh mịch liên kí là một tiểu thuyết tài tử giai nhân, nội dung nói về mối tình của chàng Lưu Nhất Xuân với nàng Bích Liên. Hoa viên kì ngộ tập đã tiếp thu gần như nguyên vẹn một số tình tiết của Lưu sinh mịch liên kí, chẳng hạn các đoạn sau:

LƯU SINH MỊCH LIÊN KÍ

HOA VIÊN KÌ NGỘ TẬP

    Lan thường nói với Mai:

    - Quốc triều nếu mở khoa thi nữ Tiến sĩ, ta hi vọng sẽ đỗ đầu, ta hứa sẽ đưa ngươi cùng bước lên chốn Doanh Châu.

 

    Thơ Lan ngâm xong, Huệ cười nói:

    - Giá như hoàng triều mở nữ Chế khoa, thì chị em mình sẽ tranh tiêu đoạt gấm, em cùng chị lên Doanh Châu, sẽ làm cánh nam tử thời nay phải hổ thẹn đến chết.

      Liên nói:

    - Chàng không sợ hoa trách móc ư?

    Sinh nói:

    - Thế là nàng đã yêu ta rồi đấy.

    Liên đỏ mặt nói:

    - Chàng thực bạo gan.

    Nói rồi lấy quạt che mặt, chực trở về. Sinh bước lên trước mặt nói:

    - [...].

    Nhân rồi cầm quạt của Liên níu lại. Liên buông tay quạt, nhìn sinh, khẽ nói:

    - Người đọc sách sao lại coi thường tay chân của mình, lại còn không chú ý đến tai mắt người khác nữa ư?

    Sinh nói:

    - Bốn phía không người, chỉ có ta và nàng thôi.

    Liên nói:

    - Có Trời biết, Đất biết nữa thì sao?

    Sinh nói: ...

    Huệ thưa:

    - Chàng ngợi khen thái quá, lại không sợ hoa kia trách móc ư?

    Sinh nói:

    - Vậy nàng đã yêu tôi rồi đó.

    Huệ đưa quạt lên che mặt toan về. Sinh nói:

    - [...]

    Nói rồi bước tới giữ tay quạt. Huệ khẽ thưa:

    - Là người đọc sách sao lại thiếu kín đáo vậy? Lại không e sợ tai mắt người ta hay sao?

    Sinh nói:

    - Xung quanh không có ai, chỉ tôi với nàng biết mà thôi.

    Huệ nói:

    - Có Trời biết, Đất biết nữa thì sao?

    Sinh nói: ...

Chàng Lưu Nhất Xuân trong Lưu sinh mịch liên kí sau khi thầm yêu trộm nhớ Bích Liên liền gửi gắm ý tình vào điệu từ Lâm giang tiên:

Nhất đổ kiều tư hồn dĩ tán,

Mãn xoang tâm sự thùy tri?

Đông chiêm tây phán cánh sai trì,

Trang lung hoàn tác á.

Tự túy phục như si.

 

Ngã dục tương tâm thư vị tố,

Thiến nhân kí thủ tân thi.

Cá trung ám dữ ước tương kì,

Hà nhật, cánh hà thì?

(Dịch nghĩa: Một lần thấy phong tư yêu kiều mà hồn đã tiêu tán / Tâm sự chất chồng trong lòng có ai hay / Hết trông đông lại ngó tây rốt cục chẳng thấy / Y trang chỉ im lìm / Như say lại như ngây / --- Ta muốn đem bức thư lòng chưa tỏ bày / Gửi người con gái xinh đẹp ấy một bài thơ mới làm / Trong bài thơ đó ngầm hẹn ước cùng nhau / Nhưng là ngày nào đây, lúc nào đây?).

Chàng Triệu Kiệu trong Hoa viên kì ngộ tập mạnh dạn hơn, không chỉ muốn, mà chàng đã gửi những lời tương tư đến tận tay người trong mộng:

Nhất đổ kiều tư trường dục đoạn,

Mãn xoang tâm sự dữ thùy bi.

Thiên tư vạn tưởng ước giai kì.

Viên trung hoa như cẩm,

Nguyệt hạ khách như si.

 

Ngã dục tương tâm thư vị tố,

Đệ hoài nhất thủ tân thi.

Khách tình vô liêu bội thê kì.

Đãn nguyện hoa tiền nhất thoại,

Giải ngã thốn tâm bi.

             (Lâm giang tiên)

(Dịch nghĩa: Một lần nhìn thấy dáng yêu kiều mà nhung nhớ đến đứt ruột / Tâm sự chất chứa trong lòng có ai hay / Nghìn mong vạn nhớ, muốn được cuộc ước hẹn đẹp / Trong vườn, hoa như gấm / Dưới trăng, khách như ngây / Ta muốn đem bức tâm thư chưa được tỏ bày / Bày tỏ nỗi niềm trong lòng qua bài thơ mới viết / Tình khách trống trải càng bội phần thê thiết / Chỉ mong một lời ước hẹn dưới hoa / Để giải bỏ nỗi buồn đau trong tấc lòng ta).

Rõ ràng bài từ trong Hoa viên kì ngộ tập đã tiếp thu gần như nguyên vẹn một số câu chữ (nhất là các câu 1, 2, 6, 7), cả ý tứ và từ điệu trong Lưu sinh mịch liên kí.

Thực ra tác giả Hoa viên kì ngộ tập ứng dụng rất nhiều thơ từ vào tác phẩm, nhưng chỉ có bài từ trên là vay mượn trực tiếp từ Lưu sinh mịch liên kí. Tuy nhiên, từ trường hợp đó có thể suy đoán rằng, ở một mức độ nhất định, việc vận dụng nhiều thơ từ như trong Hoa viên kì ngộ tập cũng một phần bị ảnh hưởng của Lưu sinh mịch liên kí; nói cách khác là có sự gợi ý từ Lưu sinh mịch liên kí. Dù vậy, xét một cách toàn diện, ảnh hưởng của Lưu sinh mịch liên kí đối với Hoa viên kì ngộ tập chỉ dừng ở mức độ vay mượn một số tình tiết nhất định, thêm vào đó là gợi ý về việc ứng dụng thơ từ; còn ảnh hưởng sâu sắc và đa diện hơn lại thuộc về tác phẩm Tầm Phương nhã tập.

b. Ảnh hưởng của Tầm Phương nhã tập đối với Hoa viên kì ngộ tập

Muốn biết ảnh hưởng của Tầm Phương nhã tập đến Hoa viên kì ngộ tập sâu sắc đến mức độ nào, trước hết hãy xét về cốt truyện. Cốt truyện của hai tác phẩm có thể tóm lược như bảng sau:

TẦM PHƯƠNG NHÃ TẬP

HOA VIÊN KÌ NGỘ TẬP

Bối cảnh và giới thiệu nhân vật

    - Cuối thời nhà Nguyên, gian thần Bá Nhan lộng hành, kỉ cương rối loạn. Viên quan võ là Ngô Thủ Lễ thấy tình hình như vậy liền dâng sớ tâu lên triều đình, trái ý vua, bị bãi chức. Ông về quê mua nhà, tậu ruộng, chú tâm vào việc nuôi dạy con cái.

    - Con trai ông là Ngô Đình Chương, tự là Nhữ Ngọc, hiệu Tầm Phương Chủ Nhân, là người làu thông kinh sử, có tài nhả ngọc phun châu và biết nhìn nhận thời cuộc. Thủ Lễ khuyên con theo đường sĩ hoạn song Đình Chương cho là thời cuộc chuyển xoay, không bao lâu sẽ có “chân mệnh thiên tử” xuất hiện, khi đó mới “xuất đầu lộ diện” cũng chưa muộn, nhất thời cứ vui thú yên hà cho thỏa tính tình.

Bối cảnh và giới thiệu nhân vật

    - Triệu Kiệu, con trai thứ hai của Triệu Đông Chính thời Cảnh Hưng triều Lê là người tính cách hiên ngang, văn từ diễm lệ. Triệu Kiệu thường đọc sách xưa, rất hâm mộ Ngô Đình Chương, cho rằng họ Ngô không uổng với tên hiệu là Tầm Phương Chủ Nhân, ao ước được như Ngô Đình Chương nên lấy tên hiệu của chàng ta làm tên hiệu của mình.

Diễn tiến câu chuyện

    - Nhân một hôm tới Lâm An, qua ngõ Uẩn Ngọc, nghe trong vườn nhà nọ có tiếng con gái vui đùa; nhìn vào thấy có gái đẹp, Ngô Đình Chương tìm cách lân la để thi triển các thủ thuật “trộm hương thó ngọc”.

    - Hỏi thăm, biết đó là nhà viên quan họ Vương, lại là chỗ quen với cha mình nên chàng vờ lấy cớ trọ học để tiếp cận người đẹp (Loan nương). Họ Vương vui vẻ nhận lời.

    - Nhân có Lí Chí làm loạn ở Đài Châu, họ Vương tham gia cầm quân đi đánh dẹp. Mọi việc ở nhà do vợ cả xử lí.

    - Sinh tiếp cận và gây được cảm tình của Loan nương.

    - Sinh lôi kéo và chiếm được thị nữ của Loan nương (Xuân Anh). Chàng viết thư tình đưa cho Anh, Anh vô ý đánh rơi, thị nữ của trắc thất họ Vương (Vu Vân) là Tiểu Hoàn nhặt được. Hoàn đưa thư cho Vu Vân. Vu Vân xem thư, cảm kích, cùng tư thông với sinh, rồi thu xếp cho sinh tiếp cận em gái Loan nương (Phượng nương), khuyên chàng lôi kéo thị nữ của Phượng là Thu Thiềm để thông qua đó chinh phục Phượng.

    - Sinh chinh phục, chiếm đoạt được Loan.

    - Sinh chiếm đoạt và lôi kéo được Thu Thiềm.

    - Tuy gặp nhiều khó khăn, cuối cùng Ngô Đình Chương chinh phục và chiếm đoạt được Phượng.

    - Loan không biết là sinh đang chinh phục Phượng, tưởng Vu Vân toan cướp tình yêu của mình nên ghen tức, dùng kế đẩy Vu Vân đi đến chỗ cha đang dẹp loạn.

   - Sinh về nhà, nói rõ với cha về ý muốn cầu hôn với Phượng. Cha sinh đồng ý.

    - Sinh gửi thư cho họ Vương, xin cầu hôn Phượng, được chấp thuận.

    - Loan biết chuyện, buồn bã, tâm sự với Phượng. Hai nàng quyết định cùng thờ một người.

    - Vu Vân tương tư, sầu muộn, chết tại nơi xa.

    - Ba người gồm Ngô sinh, Loan, Phượng tổ chức cuộc làm tình tập thể. Xong, lại kéo cả Xuân Anh và Thu Thiềm vào cuộc, tiếp tục cuộc hành lạc với sự góp mặt của cả 5 người.

    - Họ Vương trở về, chưa kịp làm lễ cưới cho sinh và Phượng thì vết thương tái phát rồi mất.

    - Sinh chiếm đoạt được Tiểu Hoàn.

    - Sinh về nhà thông báo việc họ Vương mất và lo việc phúng viếng.

    - Chú của hai chị em Phượng - Loan là Sĩ Bưu nhân mâu thuẫn với cha hai nàng, cấu kết với tham quan, vu cho sinh có mưu đồ bất chính; lại chiếm giai tài họ Vương.

    - Nhân có tin đồn triều đình tuyển cung nữ, Sĩ Bưu liền ép Phượng lấy viên Vạn hộ hầu Triệu Ứng Kinh.

    - Sinh quay lại, cùng Phượng bỏ trốn.

    - Gian thần bị trị tội, triều đình mở khoa thi, sinh đi thi và đỗ đạt, làm Hàn lâm Thừa chỉ, được chiếu ban cho về lấy vợ.

    - Sinh gặp lại các mĩ nữ. Định trừng phạt Sĩ Bưu thì nghe tin ông ta thắt cổ chết.

    - Sinh đón mọi người về nhà mình.

    - Sinh mơ thấy Vu Vân về từ biệt và thông báo hai quý tử sẽ thác sinh vào nhà chàng. Tỉnh dậy, hỏi ra mới biết Phượng Loan đều đã có mang.

    - Loan Phượng sinh hai con trai. Các con lớn lên đều giỏi giang, có tài thao lược. Khi nhà Minh dần mạnh, họ đều tham gia phong trào, lập nhiều chiến công hiển hách. Nhưng rồi không nhận chức, quan trên sai về quê tìm thì không ai rõ cả nhà đã đi đâu.

Diễn tiến câu chuyện

    - Nhân một hôm Triệu sinh qua phường Bích Câu, thấy cảnh đẹp, có xà vẽ, cửa hồng, rõ là nhà của bậc khanh sĩ, lại thấy trong vườn có các cô gái xinh đẹp nên rất hi vọng sẽ có những cuộc gặp gỡ vui vẻ kiểu Ngô Đình Chương.

    - Sinh hỏi thăm, biết đó là nhà quan Ngự sử họ Kiều. Họ Kiều có hai cô gái xinh đẹp lại tài giỏi là Lan và Huệ, vì thế chàng quyết định dọn đến ở trọ ngay nhà hàng xóm sau vườn để tìm cách tiếp cận người đẹp, thi triển thủ đoạn “trộm hương thó ngọc”.

    - Người con gái lớn của họ Kiều là Lan nương sau một vài lần tiếp xúc với sinh cũng rất yêu thích chàng; có lúc cùng thị nữ là Xuân Hoa đến tận chỗ sinh ở để trộm ngắm người trong tâm tưởng.

    - Sinh tiếp cận được với Xuân Hoa, qua Xuân Hoa gửi thơ tình đến Lan nương. Sau đó hai người thường thơ từ qua lại với nhau.

    - Sinh chiếm đoạt được Lan nương.

    - Kiều công thấy sinh có tài, muốn chọn làm rể sau này nên gợi ý cho chàng vào nhà mình ở để tiện việc học hành chờ ứng thí.

    - Đọc thơ của Huệ nương (Em gái Lan nương), sinh càng muốn chinh phục Huệ.

    - Lan hiến kế giúp sinh chinh phục Huệ, khuyên sinh thông qua thị nữ của Huệ là Thu Nguyệt để tiếp cận đối tượng.

    - Sinh chiếm đoạt được thân xác Xuân Hoa.

    - Sinh tiếp cận Thu Nguyệt, được Nguyệt hứa giúp đỡ.

    - Sinh chiếm đoạt được Thu Nguyệt, rồi nhờ Nguyệt chuyển thơ tình cho Huệ nương.

    - Sau những khó khăn nhất định, cuối cùng sinh chiếm được Huệ nương.

    - Ba người sinh, Lan, Huệ cùng nhau hành lạc. Xong, lại kéo thêm cả hai thị nữ là Xuân Lan và Thu Nguyệt vào cuộc, tiếp tục một cuộc hoan lạc mới đông đủ cả 5 người.

    - Sinh đi thi, chiếm được Giải nguyên; trở về, được Kiều công gả cả hai con gái cho.

So sánh hai truyện, dễ nhận thấy thao tác đầu tiên mà tác giả Hoa tiên kì ngộ tập đã tiến hành là thay đổi niên đại, tên người, địa danh... để Việt hóa truyện có nguồn gốc ngoại nhập thành truyện của Việt Nam.

Trong ý đồ nghệ thuật của tác giả Hoa viên kì ngộ, nhân vật Triệu Kiệu chính là hóa thân của Ngô Đình Chương: kia là một vị Tầm Phương Chủ Nhân thì đây cũng là một Tầm Phương Chủ Nhân. Cho nên, khi Triệu Kiệu qua phường Bích Câu, thấy “nay cảnh này: xà vẽ cửa thêu biếc hồng, rành rành là phủ đệ của bậc khanh sĩ”, chàng băn khoăn tự nhủ: “chẳng hay trong đó quả có Phượng - Loan chăng?”. Trong bài thơ tứ tuyệt Triệu tức cảnh sinh tình có câu: “Bất tri viên lí kì hoa hạ / Quả hữu Loan thư Phượng muội vô?” (Chẳng hay trong vườn, dưới hoa lạ / Quả là có cô chị tên là Loan, cô em tên là Phượng chăng?). Các tình tiết quan trọng sau đó cũng diễn ra một cách gần như tương tự.

Nhưng quan sát hai cốt truyện, có thể thấy tác giả Hoa viên kì ngộ tập không tiếp thu hoàn toàn mọi tình tiết của Tầm Phương nhã tập. Kết cấu của Tầm Phương nhã tập rõ ràng phức tạp hơn Hoa viên kì ngộ tập. Phần tác giả Hoa viên kì ngộ tập hào hứng tiếp thu chỉ là các tình tiết liên quan đến chuyện diễm tình diễm sự, tức là đoạn từ đầu truyện đến khi Ngô Đình Chương đã chinh phục được các đối tượng, và đó cũng là nội dung cốt tủy của tác phẩm gốc. Các yếu tố thuộc về thời sự, hay gia biến, mộng mị hoang đường đều bị gạt bỏ. Trên cơ sở cốt truyện của Tầm Phương nhã tập, tác giả Hoa viên kì ngộ tập chỉ giữ lại phần chính yếu, gạt bỏ các tình tiết phụ; điều này cho thấy sự lựa chọn của tác giả nhằm đáp ứng nhu cầu tiếp nhận cũng như ý đồ nghệ thuật cụ thể.

Tầm Phương nhã tập cũng giống như các tiểu thuyết tài tử giai nhân thông thường, kết cấu gồm 4 phần: gặp gỡ - đính ước - gia biến - đoàn tụ. Do chỉ chú trọng đến yếu tố diễm tình diễm sự nên kết cấu tổng quan của Hoa viên kì ngộ tập không có phần gia biến. Trong Tầm Phương nhã tập, Ngô Đình Chương 3 lần trở về nhà. Lần thứ 2 khi chàng về nhà để thông báo cho gia đình về việc họ Vương qua đời và lo việc phúng viếng cũng chính là khi màn gia biến xảy ra tại nhà họ Vương. Phần này kéo dài đến khi Đình Chương đi thi xong, đỗ đạt quay về mới kết thúc. Sự kiện Ngô Đình Chương đi thi đỗ rồi trở về được Tầm Phương nhã tập miêu tả rất sơ lược, đại để là nhân triều đình trị tội kẻ gian thần rồi mở lại khoa thi, Ngô Đình Chương nhận thấy đây là một cơ hội tốt để rửa oan cho mình bèn lên đường ứng thí. Chàng thi đỗ Hương cống, rồi vào thi tiếp, lại đỗ, được phong làm Hàn lâm Thừa chỉ. Đình Chương lấy lí do chưa có vợ nên dâng tấu xin về cưới vợ, được vua đồng ý. Thế là chàng lên đường trở về. Trong Hoa viên kì ngộ tập, đoạn này được tác giả hết sức chú trọng, thời gian văn bản cũng lớn hơn ở tác phẩm gốc rất nhiều. Triệu sinh gặp gỡ các giai nhân, cùng nhau hoan ái, hẹn ước; việc chàng đi thi là một sự chia cách, đấy là khi các nhân vật có dịp để thể hiện tâm trạng của mình: Lan và Huệ làm rất nhiều thơ từ để diễn tả nỗi tương tư, Triệu sinh gửi thư về cho hai nàng để nói niềm nhung nhớ… Như vậy, đối với Hoa viên kì ngộ tập, sự kiện Triệu sinh đi thi chính là cơ hội để nhân vật bộc lộ thêm cái tài tình của họ, đồng thời sự xa cách cũng như dịp để thử thách tình cảm của tài tử giai nhân, khiến cho quan hệ giữa họ không chỉ đơn thuần là sự say mê hời hợt, nhất thời. Như vậy, Hoa viên kì ngộ tập tuy không có phần gia biến nhưng lại có phần chia li, xa cách; trên thực tế, nó vẫn có kết cấu gồm 4 phần: gặp gỡ - đính ước - chia cách - đoàn tụ. So với tác phẩm gốc, kết cấu này cũng cho thấy sự định hướng rất nhất quán về nội dung của Hoa viên kì ngộ tập. Không chỉ dừng lại ở đó, so sánh hai cốt truyện cho thấy, trong khi tiếp thu ảnh hưởng của Tầm Phương nhã tập, trên định hướng nội dung đã xác định, tác giả Hoa viên kì ngộ tập còn phải lựa chọn các tình tiết phù hợp, tổ chức lại chúng để tình tiết và kết cấu tác phẩm thống nhất với ý đồ nghệ thuật của mình.

Về nhân vật, do tỉnh lược cốt truyện nên từ Tầm Phương nhã tập sang đến Hoa viên kì ngộ tập, có 6 nhân vật đã bị loại bỏ, gồm: 1. Vu Vân, 2. Tiểu Hoàn (thị nữ của Vu Vân), 3. Vợ cả của họ Vương, 4. Sĩ Bưu (chú của Phượng và Loan), 5. viên quan tham đã ăn tiền của Sĩ Bưu để kết tội Đình Chương, 6. Triệu Ứng Kinh (kẻ định cưỡng hôn Phượng). Bốn nhân vật sau không có vai trò quan trọng trong diễn tiến của câu chuyện diễm tình nên bị loại bỏ là điều dễ hiểu; nhưng Vu Vân và Tiểu Hoàn là hai nhân vật tham gia trực tiếp vào các cuộc “vui vẻ” của Ngô Đình Chương, tại sao lại bị tác giả Hoa viên kì ngộ tập cắt bỏ? Đây chính là điểm rất quan trọng thể hiện sự dụng công tìm tòi, cách tân và ý đồ nghệ thuật của tác giả Hoa viên kì ngộ tập.

Trong Tầm Phương nhã tập Vu Vân và Tiểu Hoàn đều là các nhân vật “có vấn đề”. Vu Vân là trắc thất của họ Vương, là dì của Phượng và Loan, tức là có sự chênh lệch về thế hệ. Cảm động trước sự đa tài và đa tình của Đình Chương, lại cám cảnh “kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng”, tự nhủ chàng này “hơn Vương lão cả chục lần” nên Vu Vân không ngại ngần thế thân Loan, quan hệ xác thịt với Ngô Đình Chương. Như vậy, Vu Vân đã trái đạo tam tòng, lại vô tình khiến Đình Chương phạm vào tội gian dâm. Dưới góc nhìn đạo lí, điều đó cố nhiên là quan hệ bất chính, dù có phủ lên chút màu sắc tài tử giai nhân cũng không thể biện hộ được. Tác giả muốn xây dựng một tiểu thuyết có dáng vẻ tài tử giai nhân, nhân vật đa tài và đa tình, nhưng ở đây khi tài tử chưa chinh phục được giai nhân đã mắc vào tội gian dâm, điều đó hiển nhiên khiến cho hình tượng nhân vật chính ít nhiều bị đổ vỡ. Nhân vật sẽ không phải là đa tài, đa tình mà là đa dục, dâm dục. Thêm nữa, lí do nhân vật Vu Vân bị cắt bỏ có thể còn do nàng không phải là một người con gái còn trong trắng. Điều này có thể được khẳng định thêm qua việc tác giả Hoa viên kì ngộ tập cắt bỏ nhân vật Tiểu Hoàn, thị nữ của Vu Vân.

Khi Ngô Đình Chương chiếm đoạt được Tiểu Hoàn, thấy nàng ta có vẻ “mạnh mẽ khác thường”, hỏi ra mới biết nàng đã từng bị ông chủ họ Vương hái bẻ “nhị đào”, chàng ngậm ngùi thốt lên: “Tiếc thật, cây hải đường xinh đẹp là thế mà lại bị cây giây leo già quấn quanh”. Vu Vân và Tiểu Hoàn có điểm chung, đều là người đã qua tay ông chủ họ Vương, tức là bố vợ của Ngô Đình Chương sau này; gian díu với những người phụ nữ của nhạc phụ đại nhân âu cũng là điều nên tránh!

Tiểu Hoàn tuy có góp mặt trong “chiến dịch tình ái” của Đình Chương, nhưng là nhân vật phụ; loại bỏ nhân vật này vì thế không ảnh hưởng gì đáng kể đến diễn tiến của truyện. Nhưng Vu Vân lại hoàn toàn khác, là người có vai trò quan trọng trong các cuộc tình ái của Đình Chương, xuất hiện qua nhiều tình tiết và thời khắc quan trọng, là người đầu tiên quan hệ với sinh, tạo điều kiện cho sinh tiếp cận với Phượng, tham mưu cho sinh sách lược chinh phục đối tượng. Thậm chí sau khi đã chết, lúc truyện sắp đi đến hồi kết thúc, Vu Vân vẫn hiện về gặp Đình Chương trong giấc mộng, thông báo việc tương lai, thổi vào truyện chút không khí kì ảo, huyễn hoặc. Do vậy, khi tác giả Hoa viên kì ngộ tập cắt bỏ nhân vật này sẽ tạo ra những “khoảng trống”, và với những khoảng trống đó, trật tự các sự kiện có thể phải thay đổi khá lớn. Dường như không muốn rơi vào hoàn cảnh ấy, tác giả Hoa viên kì ngộ tập đã nghĩ ra một biện pháp ổn thỏa, “lưỡng toàn kì mĩ”, đó là cho nhân vật Lan đồng thời kiêm hai vai diễn của Vu Vân là Loan nương.

Trong truyện Tầm Phương nhã tập, quan hệ giữa Vu Vân và Loan nương là dì cháu, là giữa con gái với vợ của cha. Thêm vào đó, khi Đình Chương xen vào cuộc, ngoài các quan hệ trên, giữa hai người còn là tình địch. Do ghen tuông, nghi ngờ Vu Vân cướp đoạt tình yêu của mình nên khi có sứ giả từ nơi cha nàng đang chinh chiến về nhà, Loan hối lộ sứ giả, giả truyền lệnh cha đòi Vu Vân đến nơi chiến sự, rồi sau đó, vì nhớ nhung sầu muộn, Vu Vân chết tại nơi xa. Trong cái chết đó, cố nhiên Loan chịu trách nhiệm liên đới. Do vậy, cho nhân vật Lan nương kiêm hai vai của Vu Vân và Loan nương không những lấp đầy những khoảng trống do sự vắng mặt của Vu Vân tạo ra, mà còn xóa đi cái tội lỗi hiển nhiên mà Vu Vân và Đình Chương đã phạm phải. Điều này khiến cho cuộc dấn thân của nhân vật chính vào các cuộc tình ái lộ rõ nét tài tử giai nhân; hình tượng các nhân vật đẹp hơn, trong trẻo, thuần chất tài tử giai nhân, và như vậy dễ được chấp nhận hơn.

Sau khi đã cắt bỏ (nhân vật Tiểu Hoàn) và dùng biện pháp đóng thế, các nhân vật tham gia câu chuyện tình ái chuyển đổi tương đương từ Tầm Phương nhã tập sang Hoa viên kì ngộ tập như sau:

Ngô Đình Chương = Triệu Kiệu

Vu Vân + Phượng = Lan

Phượng = Huệ

Xuân Anh = Xuân Hoa

Thu Thiềm = Thu Nguyệt

Tầm Phương nhã tập, cuộc tình của Ngô Đình Chương là cuộc tình tay bảy. Sang Hoa viên kì ngộ tập, do đã cắt và gộp, nên cuộc tình của Triệu Kiệu chỉ còn là cuộc tình tay năm. Nhân vật Lan do kiêm hai vai diễn của Vu Vân và Loan nên chính là “hai trong một”; nhân vật bị loại bỏ thực sự chỉ có Tiểu Hoàn. Trong Hoa viên kì ngộ tập, số lượng nhân vật tuy giảm, nhưng là giảm theo hướng “tinh tuyển”. Do vậy, yếu tố sắc dục vẫn được đảm bảo một cách tương đối nguyên vẹn.

Có thể nói Tầm Phương nhã tập vừa có yếu tố tài tử giai nhân lại vừa có tính chất sắc dục. Đầu truyện, Ngô Đình Chương được giới thiệu là người học rộng, có tài nhả ngọc phun châu, nhưng liền sau đó, do bị cuốn vào các cuộc tình ái liên miên, lại phạm cả những điều cấm kị, rốt cục, yếu tố sắc dục thì mạnh mà yếu tố tài tử giai nhân lại lu mờ. Đến Hoa viên kì ngộ tập, cốt truyện gọn nhẹ và tập trung, nhân vật được tinh giản, ngôn từ được nhã hóa, thêm vào đó tác giả lại tăng cường thêm cho truyện một số lượng khá lớn thơ từ nên yếu tố tài tử giai nhân nổi bật lên bên cạnh yếu tố sắc dục; do vậy đã mang lại hiệu quả nghệ thuật thực sự cho tác phẩm và cũng phù hợp với tâm lí tiếp nhận của người Việt

Tiếp thu cốt truyện từ tác phẩm Tầm Phương nhã tập, tác giả Hoa viên kì ngộ tập đã thể hiện sự dụng công của mình qua việc loại bỏ một số tình tiết và nhân vật, lôgích lại câu chuyện ở một số tình tiết, thay đổi một số yếu tố về nhân danh, địa danh, thời đại… theo hướng Việt hóa, biến một truyện vốn là tiếp thu và viết lại từ tác phẩm Trung Quốc thành một tác phẩm thuần Việt. Hoa viên kì ngộ tập là một dạng “cố sự tân biên”, nhưng tân biên bằng chữ Hán, không hề chuyển thể nên sự phóng tác chỉ khuôn trong một phạm vi nhất định, các chi tiết vay mượn hãy còn rất lớn. Với Lưu sinh mịch liên kí, Hoa viên kì ngộ tập chỉ vay mượn một số chi tiết riêng lẻ, thì với Tầm Phương nhã tập, sự vay mượn không chỉ dừng lại ở con số một vài, mà là hàng loạt, hàng loạt tình tiết gần như nguyên vẹn. Dưới đây chỉ xin dẫn ra một số ít tình tiết có liên quan đến tính sex, yếu tố được các nhà nghiên cứu cho là “độc đáo”.

TẦM PHƯƠNG NHÃ TẬP

HOA VIÊN KÌ NGỘ TẬP

    Anh im lặng hồi lâu rồi đáp:

    - Loan nương là người biết thơ ca, chẳng bằng chàng hãy làm một bài từ để thăm dò xem sao.

    Sinh nói:

    - Phải lắm!

    Bèn cùng Anh đến thư các. Sinh đang ngẫm nghĩ tìm ý tứ, thấy Anh đứng bên, mắt long lanh, tóc mây tha thướt, đôi bên nhìn nhau, niềm dục trỗi dậy. Sinh liền nói với Anh:

    - Hứng thơ chưa tới, hứng xuân đến trước, biết sao đây, sao đây!

    Sinh bèn kéo Anh đến bên gối...

    Nguyệt im lặng hồi lâu rồi đáp:

  - Huệ nương là người biết chữ, chàng hãy làm một bài thơ chuyển tới xem sao.

    Sinh nói:

    - Hay lắm.

    Bèn cùng Nguyệt ra vườn.

    Sinh vừa tìm bút vừa suy nghĩ, nhìn thấy Nguyệt mắt long lanh, tóc mây tha thướt, bèn vứt bút nói rằng:

    - Tứ thơ chưa đến, tứ xuân đến trước. Nàng chính là bài thơ của ta.

    Sinh bèn kéo Nguyệt đến bên gối.

    … Phượng nói:

    - Thiếp không phải người bội tín, nhưng thấy chàng bệnh vừa khỏi, trong lúc chìm đắm mây mưa, liệu có thể kìm chế được ư! Nếu có điều không như ý, tuy nói là yêu chàng, thực ra là hại chàng đó. Thiếp nỡ lòng sao?

    Sinh nghe Phượng nói êm tai, cũng không nỡ cưỡng đoạt.

    Huệ bèn ôm vào lòng mà nói:

    - Thiếp há phải người bất cận nhân tình ru? Nhưng chàng bệnh nặng vừa thuyên giảm, không thể vội vàng đam mê việc mây mưa. Nay nếu như giữ chữ tín với lời hôm nọ thì ví như người đang ốm mà bắt gánh nặng đi xa, há chẳng phải là cố tình hại chàng đó ư? Sao chàng không lượng xét.

    Sinh nghe lời Huệ càng cảm thấy trân trọng. Lúc này không nỡ cưỡng đoạt.

      Nói xong cố sức đẩy Phượng xuống gối. Phượng cũng không dám cưỡng lại, cứ mặc cho sinh cởi bỏ y phục. Trong chăn phỉ thúy, hải đường máu nhuộm; trên gối tử ương, nhụy quế hương bay. Tình nồng đượm, mặc sức vứt tung hài tất; hứng dâng tràn, quản chi bời rối tóc mây. Sinh yêu Phượng đẹp, mỉm cười khoan thai; Phượng thương sinh bệnh, thẹn thùng khép nép […]…

     Đêm ấy, sinh mê mải vì dục tình, sắp canh năm mới ngủ. Đến khi mặt trời chiếu hồng song cửa mà sinh với Phượng còn kề má say sưa. Thu Thiềm sợ có người đến bắt gặp, bèn vén màn, khẽ nói:

    - Dương Đài còn chưa tỉnh sao?

     Sinh và Phượng giật mình choàng tỉnh, chỉnh trang y phục rồi dậy.

    Nói xong cố sức đẩy Huệ xuống gối. Huệ cũng không cố chống cự.

    Trong đệm phù dung hải đường máu nhuộm, dưới chăn phỉ thúy, đan quế hương bay. Mày ngài liên hồi chớp chớp mặc cho bướm lượn săn tìm, mắt phượng lim dim mơ màng, không cấm ong bay hút mật. Xiêm màu phấp phới khác nào mưa trút hoa sen, tóc mây rối bời, hệt như gió thổi cành dương. Thật là một khắc ngàn vàng, chỉ giận đêm vui quá ngắn.

    Đêm ấy, sinh đã mê mẩn vì tình, cho mãi đến khi mặt trời chiếu hồng song cửa mà sinh với Huệ nương còn chụm đầu áp má say sưa.

Thu Nguyệt vén màn, khẽ nói:

    - Dương Đài còn chưa tỉnh sao?

    Huệ mới giật mình thức dậy. Sinh cũng từ biệt ra về.

    Rượu xong, sinh muốn cầu hoan với Phượng, Phượng từ chối, thưa rằng:

    - Mọi việc phải nhường bậc tôn trưởng, thiếp đây nào dám.

    Sinh quay sang Loan, Loan khẽ nói:

    - Lễ dâng người mới, không thể tiếm lạm.

    Hai người nhường nhau hồi lâu, sinh cũng không thể nghĩ ra cách nào vẹn toàn, bèn nói:

    - Loan không đố kị, Phượng chẳng thiên tư, cả hai kiêm thành, cũng nên kiêm ái.

    Rồi một tay kéo tay Loan, một tay vỗ vai Phượng, cùng vào trong màn là. Hai nàng tuy kìm chế dục tình, nhưng rồi cũng đều bị sinh cuốn vào dục hứng. Đêm ấy cùng gối gối dài, đắp chăn lớn, hai mĩ nữ, một nam nhân, cuộn tròn như rắn ấp, sát cạnh tựa chim liền cánh, chừng chẳng còn biết sinh là sinh, Loan Phượng là Loan Phượng nữa.

    Tối hôm ấy sinh đến phòng Huệ, sai Nguyệt mời Lan vào trướng gấm. Sinh muốn cầu hoan với Huệ, Huệ thưa:

    - Mọi việc phải nhường bậc tôn trưởng, thiếp không dám hưởng trước.

    Sinh ôm Lan vào lòng, cầu hoan với Lan. Lan cũng ngượng ngùng:

    - Thiếp không dám!

    Hai người nhường nhau hồi lâu, sinh cũng không thể tự chủ được nữa bèn một tay kéo lấy vai Lan, tay kia mân mê vú Huệ, mặc sức đùa cợt trong chăn phỉ thúy, tận hưởng cuộc hoan lạc trong cõi nhân gian, không biết sinh là sinh, Lan Huệ là Lan Huệ nữa.

 

    Loan hẹn Phượng cùng mang rượu đến chúc mừng sinh. Đến nơi, sinh nói:

   - Dịp may khó gặp, không thể chỉ vui riêng mình, như nàng Anh và nàng Thiềm, cũng nên góp mặt.

    Hai nàng đều đồng ý.

 

    Sinh nói:

    - Đối ẩm trước hoa, vào xuân dưới trăng có thể gọi là việc vui thú trên đời đó. Nhưng ta nay được cuộc gặp gỡ tốt lành này, thì cô Hoa cô Nguyệt quả là có công. Đêm nay hãy cùng các cô chung vui, hai nàng thấy thế nào?

    Hai nàng đều đồng ý.

   Sinh hứng tình không thể kìm được, muốn cầu hoan với Phượng. Phượng nói:

   - Trong ánh trăng tỏ ngời, sao có thể làm chuyện ấy!

   Sinh nói:

   - Quảng Hàn muốn vậy mà chẳng được, há lại ghen với nhau ru?

   Liền cùng Phượng giao hoan giữa đệm. Xong, Anh đốt thêm hương, Thiềm rót thêm rượu, Loan dậy chúc mừng sinh. Sinh nói:

    - Hãy đợi vui xong rồi cùng uống, nên chăng?

    Bèn cợt nhả với Loan, Loan cũng không phản đối. Sinh nhân đó được giải phần tửu hứng. Song e ơn huệ ban xuống không đều, lại muốn cầu hoan với Anh. Anh nhân lúc sinh giao hoan với các nàng kia, tình đã phiêu bồng, mặc cho sinh tùy ý thích, không hề gây khó khăn. Thiềm xem tình thế thì hẳn sinh sẽ tìm đến mình nên trốn trước. Khi sinh tỉnh dậy không thấy Thiềm đâu […]…

     Tìm kiếm khắp chốn, thấy Thiềm ở bên giàn hoa phù dung, dưới cây hòe, sinh cười nói:

    - Nàng cố ý làm khó ta, giờ trốn đi đâu!

    Không đợi có gối chăn, liền cùng Thiềm vui cợt. Sinh đương cao hứng, lại có hơi men, Thiềm không cự nổi. Đương lúc mải mê thì Loan Phượng và Xuân Anh vừa đến, liền ngăn lại. Đêm ấy, sinh uống say túy lúy, các nàng đều uống say, canh năm mới dứt, ai về phòng ấy.

    Ca vừa xong thì sinh kéo Huệ đè xuống. Huệ nói:

    - Trăng sáng giữa trời thế kia, sao có thể làm vậy?

    Sinh nói:

    - Bể biếc trời xanh cũng chiều lòng, Quảng Hàn muốn vậy mà không được, há lại ghen nhau sao?

    Rồi đẩy ngã vào trong đệm, phỉ sức mây mưa. Xong rồi sinh lại kéo Lan, Lan cũng không chống lại. Bắt chước theo hình dáng chim vụ, phỏng học theo tư thái uyên ương, quả là niềm cực lạc trong cõi nhân gian. Sau đó đến Xuân Hoa. Lúc Xuân Hoa giao hợp với sinh, lòng xuân rạo rực, mặc cho sinh muốn làm gì thì làm, không hề mảy may khó khăn. Sau đó đến Nguyệt, Nguyệt không chịu. Sinh nói:

    - Đất đai trong thiên hạ, mười phần ta đã có được tám chín, nay chỉ còn mảnh đất nhỏ bằng viên đạn, sao dám chống cự vương sư?

    Rồi bế vào trong đệm, mặc sức mây mưa. Hoa binh nguyệt trận, nhung mã tung hoành. Giao hoan xong, sinh lại cùng hai nàng đối ẩm. Mãi đến khi trăng lặn sau núi, bất giác say mèm. Các nàng vực chàng vào ngủ.

 

Như vậy, Hoa viên kì ngộ tập là tác phẩm viết dưới ảnh hưởng của bộ tiểu thuyết Quốc sắc thiên hương thời Minh, trong đó ảnh hưởng của Lưu sinh mịch liên kíTầm Phương nhã tập là lớn nhất. Lưu sinh mịch liên kí chỉ ảnh hưởng tới Hoa viên kì ngộ tập ở một số tình tiết lẻ tẻ. Tác phẩm chính yếu mà tác giả Hoa viên kì ngộ tập dựa vào là Tầm Phương nhã tập. Song tuy bị ảnh hưởng sâu nặng bởi Tầm phương nhã tập nhưng Hoa viên kì ngộ tập không phải là sự tiếp thu y nguyên, toàn bộ mà chỉ là tiếp thu một bộ phận căn bản, cốt tủy của tác phẩm gốc, rồi tổ chức lại cốt truyện, cách tân theo hướng Việt hóa, giản hóa và nhã hóa... Kết quả là đã tạo tác ra một tác phẩm mới có dáng dấp Việt Nam với cốt truyện gọn nhẹ và mạch lạc, nhân vật được tinh giản, yếu tố sắc dục tuy vẫn đậm đặc nhưng đã được nhã hóa bởi yếu tố tài tử giai nhân, khiến truyện đôi chỗ miêu tả dục tình một cách bạo dạn, lộ liễu mà không gợi lên cho người đọc cảm giác tục tĩu, thô bỉ. Trên căn bản, sự tiếp nhận và sáng tân của tác giả Hoa viên kì ngộ tập khiến cho tác phẩm tuy là “viết lại” nhưng nhiều chỗ đã vượt lên một tầm cao mới so với tác phẩm gốc.

_______________

(1) Xem bản dịch của Phan Văn Các, in trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, tập I, Nxb. Thế giới, H, 1997.

(2) Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Sđd,  tr.898.

(3) Tổng tập tiểu thuyếtchữ Hán Việt Nam, Sđd, tr.32-33.

(4) Các đoạn trích Hoa viên kì ngộ tập trong bài viết này về cơ bản đều theo bản dịch được in trong Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, Sđd, tr.897-980, đôi chỗ có điều chỉnh một vài chi tiết nhỏ.

(5) Về tác phẩm Quốc sắc thiên hương, xin tham khảo bản chữ Hán ở trang  http://www.open-lit.com/listbook.php?cid=1&gbid=278&start=0

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9/2007.

Các tin đã đưa ngày: