Ảnh hưởng và việc "tân biên" số đào hoa của Xuân tóc đỏ hay cuộc phiêu lưu của Anh bạn điển trai ở Việt Nam

30/01/2014

xem xét việc tiếp nhận Maupassant ở Việt Nam, quốc gia thuộc khối Pháp ngữ nơi tiếng Pháp vẫn được ưa chuộng, có thể nhận thấy rằng ảnh hưởng đối với việc sáng tác tiểu thuyết vào nửa đầu thế kỷ XX là đặc biệt rõ trong tiểu thuyết Số đỏ, và tác phẩm này vô cùng giống với Anh bạn điển trai.

Ảnh hưởng và việc "tân biên" số đào hoa của Xuân tóc đỏ hay cuộc phiêu lưu của Anh bạn điển trai ở Việt Nam
 

Tôn Thất Thanh Vân 

 

Khi xem xét việc tiếp nhận Maupassant ở Việt Nam, quốc gia thuộc khối Pháp ngữ nơi tiếng Pháp vẫn được ưa chuộng, có thể nhận thấy rằng ảnh hưởng đối với việc sáng tác tiểu thuyết vào nửa đầu thế kỷ XX là đặc biệt rõ trong tiểu thuyết Số đỏ (1), và tác phẩm này vô cùng giống với Anh bạn điển trai. Điều đó càng có khả năng vì Vũ Trọng Phụng, vốn từng dịch Hugo, đã trích ở cuối sách của mình hai truyện ngắn của Maupassant (Bà chủ (2) Lỗi của lão Boniface) như để ghi dấu “chút dấu” văn chương hay cho thấy hiệu ứng liên văn bản. Vũ Trọng Phụng đã viết tiểu thuyết này năm 1936 khi mới 24 tuổi. Sinh trưởng trong một gia đình nghèo, học tiếng Pháp trong trường, ông làm nhiều nghề khác nhau để kiếm sống và theo đuổi nghiệp viết văn. Mất năm 27 tuổi, ông để lại hơn chục tiểu thuyết, truyện ngắn và bản dịch các loại. Câu chuyện có thể tóm lại ở số phận của một kẻ nhặt ban thành đạt nhờ tài thể thao, sự hấp dẫn và tài ăn nói. Tác giả cho thấy cái nhìn châm biếm đối với một xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng của chế độ thuộc địa và những suy nghĩ về sự tân tiến đang là trào lưu đương thời.

Bài viết này dựa trên việc đọc kỹ càng hai văn bản nhằm cố gắng lẩy ra những nét tương đồng của hai kẻ hãnh tiến xoay quanh một câu chuyện rất gần với kiểu tiểu thuyết giáo dục (3) vốn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tự nhiên và cho thấy sự thành công của các nhân vật chính có tính hai mặt này. Cuốn tiểu thuyết lai này cũng là một tiểu thuyết về giáo dục tình cảm kể về một kẻ khéo lợi dụng, cực kỳ thu hút và dẻo miệng. Đó cũng là một tiểu thuyết về thói đời hời hợt, đầy tai tiếng, cho thấy cái nhìn châm biếm đối với xã hội Việt Nam và giai tầng thống trị. Bài viết quan tâm đến cái tên của nhân vật trong quan hệ với phụ nữ và tiền bạc, tới nghệ thuật khắc họa chân dung và cuối cùng là sự chuyển giao giữa tiểu thuyết tự nhiên chủ nghĩa và truyện kể thần kỳ kiểu hiện đại (4) (conte de fées).

 Việc đổi tên một nhân vật không tên, vai trò phụ nữ và tiền bạc

Ai cũng thấy buồn cười với hai nhân vật đầy may mắn mà kết thúc cuộc hành trình là việc biến tiểu thuyết thành một kiểu truyện kể thần kỳ hiện đại khó tin - nhất là đối với “Anh bạn điển trai” kiểu Việt Nam vốn xa lạ với chủ nghĩa tự nhiên để (rồi) tiến lại gần với mỹ học của loại hí kịch (vaudeville). Câu chuyện mang lại cho các nhân vật vinh quang trong nghề nghiệp, của cải và cả những mối tình nhờ vào một đám cưới khá khẩm, với viễn cảnh tươi sáng về mặt chính trị sau này. Biệt danh, hình hài và chân dung tinh thần của hai nhân vật đều giống nhau một cách kỳ lạ ngay từ những dòng đầu tiên.

Cái biệt danh kiêm ý nghĩa gắn chặt với hình hài đã biến danh từ chung thành danh từ riêng (việc viết hoa từ biệt danh) thay thế cho tên thật là một cách để xóa đi gốc gác hạ tiện của nhân vật trong tiểu thuyết của Maupassant. Cái tên sau rốt Du Roy de Cantel tương ứng với việc thay tên đổi họ là nhằm vinh danh gia thế cũng như quê quán (Cantel/ Canteleu (5) chẳng phải là con chó sói chui vào chỗ đàn cừu thoải mái ăn thịt chúng?). Hơn nữa quán rượu của bố nhân vật trong truyện Maupassant là “à la Belle-Vue” [Ngắm nghía] (tr. 224) với tính từ [belle - đẹp] xuất hiện thêm lần nữa trong phụ danh như hứa hẹn một cuộc sống “vinh hiển” [belle vie]. Tương tự vậy, dấu hiệu gia thế trong cách gọi “thưa ông”, vốn được rút gọn từ chữ “thưa ngài”, trao cho thằng nhặt ban sân quần, vốn mồ côi hạ tiện, cái oai danh của giới thượng lưu: “tôi muốn được nói chuyện với me sừ Xuân giáo sư quần vợt” (tr. 239). Cũng như cái tên khác của Duroy là Prosper theo Công báo, khi được nhận “Bắc đẩu bội tinh” (tr. 446) giống hệt cách thức hiện đại mà xã hội dân chủ trao thưởng cho Xuân. Hãy so sánh: “Ngài được vinh thăng Bắc đẩu bội tinh của chính phủ” (Số đỏ), “Rất tốt, vậy tôi [Walter] gọi ngài là Anh bạn điển trai” (Anh bạn điển trai, tr. 402). Được một cô gái đổi tên như vậy từ cái tên cúng cơm, rồi lại được bà mẹ và cha cô ta gọi theo, cuối cùng là cả xã hội, nhân vật chính này tương ứng với định nghĩa kép về chữ đẹp hàm ý âu yếm (như trong “mẹ vợ”(6)) và thân thiết cả theo nghĩa xưa cũng như nghĩa mở rộng ngày nay (vậy nên có từ “bạn/ người tình thân yêu”(7)). Đúng là Georges đã trở thành người bạn được yêu và mến của các quý cô này, giống như nhân vật Chéri trong tác phẩm của Colette).

Giống như thế, Xuân tóc đỏ được các bà yêu thích, bị la ó rồi được đám đông tán thưởng nhiệt liệt sau trận quần vợt bị thua. Thất bại cá nhân bỗng trở thành chiến thắng ngoại giao của Việt Nam trước Xiêm La (tr. 235: “Thua đi! Nhường đi! Được thì chết! Chiến tranh!”, tr. 237: “Xuân Tóc đỏ vạn tuế”). Chữ “Xuân” là một cái tên hàm ý mùa xuân, hàm ý thời gian một năm, trong cách nói thông thường còn mang ý nghĩa tuổi trẻ và tình yêu. Maupassant từng xây dựng trong tiểu thuyết của mình một đại diện và kế tục cho “Anh bạn điển trai và mưu mẹo” như gợi ý của gốc từ Latin trong tên nhân vật (Dol - dolus): con cáo [renard] rất gần với chú cáo con tên là Canteleu: “[các bài báo] có tên của người viết là Jean Le Dol, một thanh niên, một trai trẻ, thông minh, dòng giống anh bạn Georges của chúng ta, và làm quen với vợ cũ của anh ta” (tr. 258). Cũng theo cách của “Anh bạn điển trai”, Xuân là một họ hàng xa như thế.

Cả hai nhân vật đều không may lúc mở đầu câu chuyện. Trước khi hiển đạt, bước đường ban đầu rất vất vả. Với Anh bạn điển trai, “Hôm nay là 28.6, anh chỉ còn ba trăm bốn mươi quan để sống đến cuối tháng” (tr. 5). Xuân thì mất việc và vào sở Cẩm. Họ tán gẫu với phụ nữ bình dân, một người thì với cô gái điếm gặp ở Folie-Bergère, một với cô hàng mía. Chị này, chẳng giống cô kia, từ chối thẳng cánh Xuân tóc đỏ. Nhà văn Việt Nam lấy lại và phát triển một chi tiết bằng việc nhấn mạnh khía cạnh ba hoa của nhân vật. Nếu nhân vật của Maupassant thực sự đào hoa ngay từ mở đầu tác phẩm, thì số đào hoa của Xuân trong chương đầu tiên có vẻ rất phét lác nhưng lại tạo nên một độ vang đầy hứa hẹn vì mọi chốn công cộng và đông đúc đều giống nhau cả (quán xá, đường phố, gánh hát). Hãy thử so sánh trang 9:

- “Những người phụ nữ ngẩng đầu về phía anh ta, ba chị công nhân nhỏ bé, một cô giáo dạy nhạc nhỡ nhàng, đầu chải rối, xộc xệch, đội chiếc mũ đầy bụi và chiếc váy luôn lộn trái, và mấy bà hàng phố cùng chồng quen với quán xá giá cố định này.”

- “Đúng ghê! Đúng ghê! Hôm qua, lúc tan hát, đi qua ngõ Sầm Công thì có ba bốn chị chạy ùa ra, vây chung quanh, kéo tay, níu áo, tình bỏ mẹ ra ấy! Xin chịu thầy.”

Sự trùng hợp những con số chẳng phải ngẫu nhiên vì Xuân lên mặt khi chỉ còn hai hào và mua mía hết một xu: “Năm hào còn hai đấy! Tối hôm qua mất ba hào. Thết bạn cẩn thận. Hai hào vé đi tuần trong hý viện, rồi lại bát phở tái năm”. Còn Duroy thì chỉ “còn ba trăm bốn chục quan cho đến cuối tháng. Nghĩa là hai bữa tối không ăn trưa, hay hai bữa trưa không ăn tối, tùy chọn”. Anh ta tính rằng quanh mình “mỗi cô phải có ít nhất hai đồng Lu-i” (tr. 199), số tiền mà anh bạn cũ đã cho vay (tr. 205), và anh ta sẽ nói dối rằng “chỉ có một đồng Lu-i trong túi” (tr. 210) để trả cho người phụ nữ cặp với mình. Ngoài những quan hệ khó hiểu mở đầu tiểu thuyết, Vũ Trọng Phụng còn đảo ngược vai trò đàn bà và đàn ông vì bà phó Đoan đã chuộc lại tự do cho thằng vô công rồi nghề. Cuốn tiểu thuyết thể hiện rõ câu nói tiên đoán của Forestier:

“Nào bạn già hãy nói xem, anh có thực sự ăn giải với đàn bà không. Cần chú ý chuyện ấy. Có thể đi xa đấy […] Ấy nhờ cô ta mà ta đi nhanh hơn.”

Diện mạo và chân dung tinh thần

Cả hai nhân vật đều đặc trưng bằng màu tóc, cái màu đỏ hung như là biểu hiện của tướng ham dục, ham quyền lực giống như người có nhiều lông (các nhân vật Vautrin, Jausiane của Balzac, Hugo, hay cực kỳ quyến rũ như Nana của Zola ): “với màu hung hung đỏ mờ mờ […] anh ta giống với nhân vật của tiểu thuyết bình dân” (tr. 198). Bộ ria mép của anh ta “rầm rậm, loăn quăn trên môi, xinh xinh điểm màu hung hung” (tr. 220). Ở Việt Nam, màu này hiếm tới mức màu hung được coi như dấu hiệu đặc biệt, và như là một sự thừa hưởng từ văn chương hơn là từ đời thực như lời giải thích: “chứ xưa nay có mua mũ bao giờ mà tóc chả đỏ”. Tính chất này được nhấn mạnh tới mức tương đương với tính từ so sánh kiểu sử thi Hy Lạp, nó càng đặc trưng hơn vì Xuân mồ côi nên không có họ. Đám tóc rậm rạp này biến Xuân thành một kẻ đặc biệt, đầy hứa hẹn cho cái số phận may mắn bất ngờ, cứ hệt như sinh ra đã có tóc như thế. Hơn nữa trong tiếng Việt, “tóc hung” hay đúng ra là “tóc đỏ”, và màu đỏ là dấu hiệu may mắn ngược với ý nghĩa quỷ quái của màu tóc này ở phương Tây. Hơn nữa, Xuân được coi như một kẻ mang đến sự may mắn, thịnh vượng cho những ai ở cạnh. Tướng mạo theo lối Balzac trở nên hài hước qua lời nhân vật ông thầy bói, vì theo những gì hay ho do ông ta nói thì cái diện mạo hiện tại nói rất nhiều về hậu vận (tr. 26) mà những kẻ trần mắt thịt không dễ gì hiểu được: “lông mày rậm là tướng đông anh em. Thùy tai dài là phát về hậu vận”. Thế là người đọc có thể hiểu theo hai cách: hoặc là mọi chuyện đã được an bài, hoặc những cuộc gặp gỡ may mắn có thể tạo nên số phận.

Chân dung những kẻ đầy tham vọng như thế được xây dựng gián tiếp thông qua những hình ảnh và lời nói kẻ khác hay từ điểm nhìn của người kể chuyện toàn tri tuân theo cách kể quen thuộc của tiểu thuyết Pháp thế kỷ XIX, như Maupassant. Tuổi thơ và phần bắt đầu cuộc đời của hai nhân vật được đánh dấu bằng những khó khăn vật chất, môi trường, cuộc sống không thuận lợi, như là một hình ảnh thường gặp của chủ nghĩa tự nhiên. Trong cả hai trường hợp, việc giới thiệu thoát khỏi xu hướng kể khổ với những bức tranh buồn thảm dễ dãi. Sự tương phản rất dễ thấy giữa những thời kỳ không may, khó nhọc và những bước ngoặt quyết định chuẩn bị cho sự thăng tiến vùn vụt. Duroy trở thành dân Paris chính hiệu dù xuất thân từ gia đình tầm thường, và Maupassant nhấn mạnh khía cạnh thô lỗ của bố mẹ Duroy: “Bố mẹ anh ta có một quán rượu…”. Hơn nữa, hai năm sống ở Algérie biến bố anh ta, mới phất (homo novus) thành một kẻ hai lần mất gốc theo nghĩa của M. Barres trước khi câu chuyện bắt đầu (không giá trị, không thể xác đinh, không luân lý và không tử tế). Giống như đối với Xuân, một đứa trẻ mồ côi, không phẩm giá, không gốc gác, không căn cước. Bởi vì một người Việt Nam khi đó phải có ba phần trong tên gọi: họ, tên đệm và tên thường dùng. Cái tên gắn với làng quán gốc gác. Paris hiện ra như một nơi náo động, thập phương, giống như Hà Nội, nơi mà cả tiếng Pháp lẫn tiếng Việt cùng được sử dụng ngay từ trang đầu tiên: trận bóng trên sân quần ám chỉ mối quan hệ giữa các lực lượng, những sự tranh chấp, luật rừng (xanh ca, xanh xit…). Còn Paris thì hào nhoáng và ăn chơi, tiện cho cả hội hè cũng như cho việc ám chỉ mẫu hình của loại tiểu thuyết học tập (Bildungsroman). Trong đoạn gặp lại bố mẹ ở xứ Normandie và giới thiệu vợ mới, thấy ngay hiện tượng lời nói lơ lớ tiếng địa phương vốn rất hiếm: “Chào ké Duroy, nhà ta ổn chứ”.

Xuân, anh hùng cứu quốc, cũng có một thế giới khác, là một kẻ “lúc thiếu thời cũng vất lắm”: mồ côi, nó được bác nuôi thay đầy tớ trước khi bị đuổi đi; “làm vài ba nghề tiểu xảo”: “nó đã bán phá xa, bán nhật trình, làm lính chạy cờ hiệu rạp hát, bán cao đan hoàn tán trên xe lửa”. Còn nguyên mẫu hình của nó ở Pháp cũng từng là “hạ sĩ quan” ở Algérie (việc viết lại phải chăng là một cái nháy mắt ẩn ý nhân nói đến chuyện thuộc địa Pháp?), rồi ở văn phòng đường sắt khi nghĩ đến chuyện thành nài ngựa ở bãi chăn Pellerin (tr. 201 - 202). Chân dung tinh thần có nhiều nét tương đồng: Xuân là kẻ “hoàn toàn vô giáo dục, tuy nó tinh quái và thạo đời lắm” (tr. 11). Duroy thì hai lần thi trượt tú tài (tr. 202), Forestier khái quát bằng việc đoán già đoán non theo lối hạ cố thân tình khi nói về xã hội Paris (“Cậu bé thấy không, mọi việc ở đây đều phụ thuộc vào sự liều. Một kẻ có chút láu cá dễ trở thành bộ trưởng hơn cả sếp văn phòng”, tr. 202) cũng thối nát như giới tư sản Hà Nội, và mang đến một bảng thống kê dài, sặc sỡ, như bức tranh thuộc địa trong một loạt những đoạn rất tương đồng:

- “Anh ta [Duroy] biết hậu trường cả nhà hát cũng như chính trị […] anh ta có quan hệ thường xuyên với các bộ trưởng, người gác cổng, tướng lãnh, cảnh sát, quý tộc, những người nâng đỡ, sủng thần, đại sứ, chủ nhà chứa, đám lưu vong, người công chúng, người Hy Lạp, kẻ đánh xe, chạy bàn, và nhiều loại khác nữa, vì đều là bạn thân thiết hay thờ ơ của tất cả […] trong thời gian ngắn, anh ta thành một nhà báo đại tài” (tr. 249).

-“[…] một chuỗi người nữa bước vào, ai cũng vui vẻ lắm. Đó là hai thầy cảnh sát Min Đơ và Min Toa, ông Vich to Ban, sư cụ Tăng Phú chùa Bà Banh, ông thầy số, cậu Tú Tân, ông phán mọc sừng, bà TYPN” (tr. 242).

Mọi thứ đều được những người khác chuẩn bị sẵn, tới mức các nhân vật chỉ làm chủ một phần số phận của mình nhờ vào dư luận, cách nhìn và cả ngôn từ của chúng. Những thứ này tạo nên chúng nhờ vào mối quan hệ đầu cơ để thỏa thói xu nịnh. Theo các bạn của Duroy thì “đó là một kẻ ranh mãnh, tinh khôn, khéo tránh mọi chuyện” (tr. 225). Và quả là anh ta tự hứa “ranh mãnh, tinh khôn, khéo tránh mọi chuyện”. Họ đều có khiếu của loài săn mồi: một kẻ gây chiến ở Algérie, một kẻ chuyên đi câu trộm:

“Một nụ cười tàn ác và vui vẻ lướt qua môi khi nhớ lại chuyện lẩn trốn với cái giá là ba mạng người của bộ lạc Oled-Alane, và anh ta cùng bạn phải mất hai mươi con gà mái, hai con cừu, vàng, chỉ để cười trong sáu tháng.”

Tiểu thuyết học tập của chủ nghĩa tự nhiên hay là truyện cổ thời hiện đại

Con đường của những đứa trẻ được số phận may mắn nuông chiều đặc trưng bằng những bước ngoặt bất ngờ hay những cuộc gặp đầy may mắn. Tất cả đều được khởi động ngay từ chương 1. Cái sơ đồ hành động của Greimas rất dễ dùng cho hai tiểu thuyết này: chủ thể (sujet) cũng là kẻ chịu tác động (destinataire), đồ vật/đối tượng (objet: tiền bạc, danh vọng, phụ nữ), kẻ trợ giúp (adjuvant: bạn, người tình, người làm nghề), kẻ ngăn trở (opposant: đối thủ, tình nhân thua cuộc, hay tham vọng), kẻ hành động (destinateur, xã hội) (8). Ông thầy bói hay bà Phó Đoan đóng vai trò của dei ex machina (con Tạo) và trợ giúp giống như cuộc gặp gỡ với Forestier là điềm trời. “Trong thời gian ngắn, anh ta trở thành một phóng viên đáng giá, tin chắc về nguồn thông tin, ranh mãnh, nhanh nhẹn, tinh tế, một giá trị thực sự với báo chí” (tr. 249). Tương tự thế, Xuân thành công nhanh đến không ngờ nhờ vào kỹ nghệ hiện đại của quảng cáo hứa hẹn các mặt hàng, nhờ vào việc quảng bá các chiến công thể thao oanh liệt, cuối cùng là nhờ vào những mối quan hệ riêng vừa thân tình, vừa nghề nghiệp, vừa luyến ái trộn lẫn trong một cách thức cực kỳ thuận tiện. Hai kẻ trẻ tuổi hấp dẫn các thế hệ phụ nữ, làm vừa lòng các bà mẹ (bà Marelle, bà Walter, bà Phó Đoan), những thiếu phụ giàu có, những thiếu nữ nhà khá giả được giải phóng (Suzanne, Tuyết). Họ để cho mình bị “lừa” dễ dàng ở những chỗ tương tự nhau để có thể làm đám cưới, mặc cho sự chống đối của gia đình hay sự ghen tức của nhân tình già hơn như bà Phó Đoan (Ông làm hại một đời người con gái tử tế như thế à? […] Tuyết từ giờ đã là vợ chưa cưới của tôi, tr. 203-204). Chúng đặc biệt hấp dẫn các bà quả phụ trẻ, Madeleine Forestier dùng Duroy làm thư ký và cố vấn, còn bà phó Đoan thì trả tiền để Xuân ra khỏi bóp cảnh sát và dẫn vào xã hội thượng lưu: “Tôi đến nộp phạt cho người nhà”. Ấy là những bà tiên tốt bụng, hay những bà bảo trợ ta gặp trên đường.

Trong xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng nặng của Nho giáo, các tình huống châm chích và ngôn từ thô tục (9) gây sốc hơn là so với nhân vật đàng điếm trong tiểu thuyết của Maupassant. Chỉ cần xét cái khoảng cách của tâm tính và phong hóa giữa họ thôi đã thấy ý định giải phóng rất rõ ở nhà văn Việt Nam. Ông chẳng ngại kể trong bức biếm họa điều không có thực - câu chuyện của ông trần trụi với cái cười chua chát - để mang đến một một tiểu thuyết giáo dục, một câu chuyện châm chích, những nhân vật sặc sỡ với ngôn ngữ đặc sắc, một tiểu thuyết luận đề trong bối cảnh ý thức hệ đặc thù do bối cảnh thuộc địa (vốn là hậu cảnh trong tiểu thuyết của Maupassant với những ám chỉ tình hình thuộc địa) và những biến động chính trị xã hội trong thế kỷ XX.

Các nhân vật này có tính cách mạng ở phương diện chúng làm đảo lộn mọi thứ bậc của xã hội, cái ngoài lề bên dưới đi thẳng vào trung tâm để leo lên bậc cao nhất, trong cả phương diện chúng hành động mà không đếm xỉa đến luân lý, truyền thống, cái đích biện minh cho phương tiện. Có thể nói Xuân là phiên bản khác ở Việt Nam của “Anh bạn điển trai”, là con chiên ghẻ khoác lại bộ lông mới, là con sói đội lốt cừu và chẳng gặp chút trở ngại nào trên đường thăng tiến vùn vụt nhờ đàn bà. Thể thao (cái động lực mang tính thể chất) là một con đường khả dĩ cho Duroy sau khi thực hiện nghĩa vụ quân sự ở Algérie. Nhưng nài ngựa chẳng sáng lạn bằng nghề nhặt ban quần: “Khi cậu dạy cưỡi ngựa cho giới thượng lưu hay con cái của họ, họ chẳng thể quen nổi việc chấp nhận cậu trở nên ngang hàng đâu” (tr. 202). Quá khứ của Xuân sẽ nhanh chóng bị lãng quên, và việc chuyển tiếp là dễ dàng giữa thằng nhặt ban quần, một người tập kèm cho các bà, và một nhà thể thao quần vợt.

Cấu trúc của hai cuốn khá giống nhau, những trang cuối cùng giống nhau từng câu, từng đoạn. Chúng dùng để ngợi ca chiến thắng của anh hùng theo lối đầy khoa trương của sử thi với hàng người diễu qua chào mừng cùng với cái kết mở ra một tương lai sáng ngời:

-         “[Bà Walter] gầy đi. Mái tóc bạc làm lộ rõ khuôn mặt hốc hác” (tr. 477).

“[cô Suzanne] tới, đầu cúi, nhưng chẳng hề rụt rè, lộ rõ xúc động, khả ái, ra dáng một phu nhân” (tr. 476).

“Thế là bắt đầu đoàn diễu bất tận của những kẻ trợ thủ. George thì phát điên vì vui sướng, thấy mình như ông vua được thần dân tung hô. Anh ta xiết chặt tay, ấp úng những lời vô nghĩa đáp lại những lời chào mừng: “Ông thật lịch lãm”” (tr. 479).

“Anh ta trở thành một trong những ông chủ đất, vốn xuất thân là con nông dân” (tr. 478).

“Hình như anh ta nhảy một bước từ cổng Madeleine tới cổng điện Bourbon” (tr. 480).

-  “Triều đình Huế và Chính phủ Vọng Các lại có cái mỹ ý dành cho hai ngài hai thứ huy chương để hai ngài, nếu muốn có thể xin được ngay cho thân nhân. Ấy là một cái Long bội tinh và một cái Tiết hạnh Khả phong Xiêm La. Lại nữa, quan Giám đốc chính trị Ðông Pháp có ý mời hai ngài đến tối hôm nay lên xơi cơm với ngài cho rằng nếu được chuyện trò thân mật với hai ngài thì ngài sẽ vui vẻ lắm” (tr. 240).

“Nhìn thấy mặt bà Phó Ðoan sưng sỉa như một vị quả phụ thủ tiết bị bạc tình […]” (tr. 241).

“Tuyết đã bất đắc dĩ chạy vào ngồi sau một tấm bình phong để làm ra vẻ hổ thẹn về sự hôn nhân một cách thành thực” (tr. 242).

“Nhưng người ngồi đấy chưa ai kịp chúc mừng câu nào thì đã lại thấy một chuỗi người nữa bước vào, ai cũng vui vẻ lắm […] Sự chúc tụng tuy có vui tai thật, […]” (tr. 242 - 243).

Qua thời gian, mối quan hệ giữa hai tiểu thuyết trở nên phức tạp và cũng tinh tế. Sự tương đồng chẳng dễ phát lộ. Đó không đơn thuần là việc sao chép lại mẫu hình của một cuốn tiểu thuyết phương Tây, là việc dịch hay phóng tác, mà là một sự biến hình đầy bất ngờ chưa hề có từ thế giới này sang thế giới khác. Nhà văn Việt Nam biết rõ truyền thống và văn chương Pháp đã tìm được những điểm tương đồng để lấy cảm hứng từ Maupassant phát huy trong thể loại mới được nhập tịch vào văn học Việt Nam đương thời: tiểu thuyết tự nhiên chủ nghĩa. Ông hướng đến loại tiểu thuyết phong tục, để lại ở hậu cảnh số phận cá nhân và những cốt truyện luyến ái nhằm tới những đòi hỏi tập trung vào yếu tố quyền của người phụ nữ - vốn không thật rõ nét ở Maupassant - liên quan đến vai trò họ trong xã hội cũng như việc giải phóng phụ nữ ở một xã hội gia trưởng. Theo hướng đó, tác giả Việt Nam đã đi xa hơn trong việc đổi mới văn chương cũng như trong sự táo bạo của ngôn từ.

Làm cho tiểu thuyết của Maupassant phù hợp với thị hiếu thời đại bằng cách gắn sát với vấn đề thời sự của thuộc địa, quan tâm tới tính hiện đại, tới cách mạng xã hội và tinh thần bằng một ý thức có tính tổng hợp và sáng tạo trộn lẫn tính tiểu thuyết với tính sân khấu của hý kịch (vaudeville), bớt đi những miêu tả kiểu chủ nghĩa tự nhiên, thêm nhiều đối thoại chát chúa, một sàn trưng bày những mẫu người theo kiểu hài kịch như trên sàn diễn Người bệnh tưởng của Molière, như khi Xuân “trở thành sinh viên trường thuốc”. Tinh thần châm biếm dữ dội này, và cũng đầy hài hước hướng tới chính quyền, tiền bạc và cả đại diện tôn giáo. Đó thực sự là một người kế tục sự nghiệp của Maupassant chứ không đơn thuần chỉ là người phóng tác nhợt nhạt dựa trên thói ưa xứ lạ và những khuôn mẫu. Cho nên công việc “tân biên” độc đáo này là một sự cấy ghép, một sự đồng hóa chứ chẳng phải là một biểu hiện của thói thuộc địa hóa văn chương.

 

Chú thích :

(1) Vũ Trọng Phung, Số đỏ, Tp Hồ Chí Minh, 1999. Bản dịch tiếng Pháp Le Fabuleux destin de Xuân le Rouquin, của Phan Thế Hồng và Janine Gillon, Hanoi, Nxb. Thế Giới, 1994. Réédition, Paris, tái bản L’Aube, 2007. Mọi trích dẫn là theo bản in này. Bản Anh bạn điển trai của Gallimard, «Bibliothèque de la Pléiade», [1987] 1991.

(2) Tr. 225, cuối tiểu thuyết Việt Nam. Đây cũng là phụ danh của bà Walter, một nhân vật nữ của Anh bạn điển trai.

(3) Tiểu thuyết giáo dục (Bildungsroman) là một tiểu loại được coi xuất hiện ở Đức vào thế kỷ Ánh sáng XVIII thoạt tiên nhằm kể lại quá trình phát triển của nhân vật chính trong quan hệ với môi trường chung quanh, sau đó nhắm đến việc « giáo dục» người đọc. Những năm tháng học tập của Wilhelm Meister (Goethe), Candide (Voltaire), Vỡ mộng (Balzac) hay Giáo dục tình cảm (Flaubert) là những tác phẩm tiêu biểu đánh dấu những chặng phát triển chính của tiểu loại này trong thế kỷ XVIII-XIX. Anh bạn điển trai của Maupassant cũng được coi thuộc tiểu loại này (BT).

(4) Đây là một thuật ngữ nghiên cứu văn học dân gian chỉ những câu chuyện cổ tích có yếu tố thần kỳ, phép thuật trợ giúp cho nhân vật cổ tích để đổi đời như trong Sọ dừa, Cây khế. V. Propp từ việc phân loại truyện cổ tích thần kỳ đã đề xuất mô hình 32 chức năng trong truyện cổ tích thần kỳ. Lý thuyết ký hiệu học thịnh hành những năm sáu mươi coi mô hình của V. Propp như một trong những  công trình tiên phong (BT).

(5) Một thành phố nhỏ phía tây bắc Pháp, sát Lille, khá gần quê của Maupassant. Cái tên này cũng có gốc gác liên quan đến tiếng sói tru (BT).

(6) Tác giả phân tích cách chơi chữ khó dịch tương đương được sang tiếng Việt: “mẹ kế” hay “mẹ vợ, mẹ chồng” trong tiếng Pháp là “belle-mère” vốn gồm chữ “mẹ” và tính từ “belle” (đẹp). Cách chơi chữ này có liên quan đến mối quan hệ khá rắc rối trong tiểu thuyết của Maupassant: Nhân vật Duroy cưới cô gái mà mẹ cô ta từng là nhân tình của anh ta. Phụ danh của nhân vật này trong tiếng Pháp là kẻ điển trai (bel-ami) cũng có chữ “đẹp” (bel) và có quan hệ với cả một loạt chữ “đẹp” vừa được nói ở trên (BT) .

(7) Cũng một cách chơi chữ: «bon, tendre ami» có thể thành “petit ami” vừa có nghĩa “amant” (người tình), vừa có nghĩa bạn thân (BT).

(8) Nhà ký hiệu học Pháp gốc Lituania A. J. Greimas xuất phát từ mô hình giao tiếp của R. Jakobson, từ gợi ý của V. Propp và Lévi-Strauss để nêu ra mô hình ba phạm trù quan hệ chính trong truyện kể với các tác tử (actant) : kẻ hành động (destinateur) - kẻ chịu tác động (destinataire), kẻ trợ giúp (adjuvant) - kẻ ngăn trở (opposant), chủ thể (sujet) - đối tượng (objet). Mô hình trừu xuất này bỏ qua yếu tố thời gian truyện kể mà C. Bremond hay G. Genette sẽ quan tâm tới sau này (BT).

(9) “Bản hội được thiên hạ đồn rằng quan lớn hay nói theo ngôn ngữ bình dân lắm, đại khái như mẹ khiếp, nước mẹ gì… Cho nên ngoài việc lại mời quan lớn vào hội, tôi phải xin phỏng vấn quan lớn để xin phép quan lớn ưng thuận cho những tiếng như thế được ghi vào bộ tự điển đương soạn nữa đấy ạ” (Số đỏ).

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 10/2013

Các tin đã đưa ngày: