Số đỏ - Từ cái nhìn nghịch dụ Oxymoron

10/02/2014

...trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã rất có ý thức đối sánh cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên, định mệnh và tính cách, thật và giả... Nhà văn đặt Xuân vào trong những trang sách của mình để vừa đưa ra cách nhìn, cách đánh giá xã hội, vừa bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc về vị trí, thân phận con người trong xã hội ấy. Dưới cái nhìn sắc sảo của nhà văn, với khả năng sử dụng những kết hợp ngôn ngữ điêu luyện, Vũ Trọng Phụng đã chứng minh quyền năng vô hạn của kí hiệu ngôn ngữ và thủ pháp ngôn ngữ trong sáng tạo. Và Số đỏ xứng đáng là minh chứng mẫu mực cho quyền năng ấy.

Số đỏ - Từ cái nhìn nghịch dụ Oxymoron

Đỗ Thị Hường

 

Ra mắt báo giới và bạn đọc từ ngày 7 tháng 10 năm 1936 trên Hà Nội báo nhưng phải đến hai năm sau Số đỏ mới chính thức xuất hiện trên văn đàn văn học Việt Nam với tư cách là một cuốn tiểu thuyết độc lập. Từ đó đến nay, ngót nghét 70 năm, trải qua biết bao thăng trầm biến động, có lúc được tôn vinh, cũng có lúc bị vùi dập nhưng Số đỏ vẫn sống, một cuộc sống vô cùng sung sức và dẻo dai. Càng ngày, Số đỏ càng khẳng định vị trí “cuốn sách ghê gớm có thể làm vinh dự cho mọi nền văn học” (Nguyễn Khải) của nó. Điều gì làm cho Số đỏ có một sức sống tự nhiên mãnh liệt đến như vậy? Rất nhiều nhà nghiên cứu, phê bình đã đi tìm những câu trả lời cho riêng mình. Nhưng chắc hẳn, những câu trả lời ấy không thể thỏa mãn với tất cả mọi người, bởi Số đỏ vẫn có một sức hút bí ẩn phi thường...

Không thể phủ nhận một trong những điểm hấp dẫn nhất của Số đỏ chính là nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ bậc thầy của Vũ Trọng Phụng. Dưới ngòi bút của nhà văn, những con chữ như nhảy múa, biến hóa để kẻ vẽ nên đủ thứ biển hiệu, đủ thứ nhân vật, đủ thứ câu chữ độc đáo, ngộ nghĩnh mà cho đến nay, ở thế kỷ XXI, mỗi người chúng ta khi đọc lại vẫn không khỏi ngạc nhiên và thích thú. Bằng tài năng của mình, nhà văn đã điều khiển các kí hiệu ngôn ngữ theo một cách riêng để tạo ra những “nghĩa” đặc biệt cho văn bản. Số đỏ pha trộn trong nó chất hài và chất bi, chất hiện thực và chất “hoang tưởng” (Đỗ Đức Hiểu), chất “bình dân” và chất “bác học”... Chúng tôi gọi sự kết hợp những thứ khó kết hợp trên một cách ăn ý trong Số đỏ bằng một thủ pháp vừa lạ vừa quen – thủ pháp nghịch dụ oxymoron (tiếng Hy Lạp: oxumōron, tiếng Pháp: oxymore, tiếng Nga оксюморон (1)).

Về bản chất oxymoron là “sự kết hợp liền nhau, gần nhau của hàng loạt những đơn vị ngữ nghĩa và ngữ pháp trong một chuỗi câu, trái với cách nói, cách hiểu thông thường, gây ra những bất ngờ trong diễn đạt”(2). Đây là một thuật ngữ có nguồn gốc Hy Lạp, xuất hiện vào giữa thế kỷ XVII, là sự kết hợp của từ oxus - “sharp” (thông minh) và mōron - “foolish” (ngu ngốc), thường được sử dụng trong thơ ca và các thể loại văn học khác(3). Tuy nhiên, cấp độ sử dụng của nghịch dụ sơ khai chỉ dừng ở “sự kết hợp của những tổ hợp từ (thường là hai từ hoặc cụm từ) khó kết hợp” trong câu thơ, đoạn thơ, câu văn, đoạn văn. Shakespeare trong Romeo và Juliet đã dùng những kết hợp từ độc đáo “loving hate” (sự căm thù thương mến), “heavy lightness” (sự nhẹ nhàng nặng nề), “serious vanity” (sự hư ảo nghiêm trang), “cold fire” (ngọn lửa lạnh lẽo), “sick health” (sức khỏe ốm yếu)… để miêu tả tâm trạng tương tư của Romeo(4). Sau này, cách thức và phạm vi sử dụng của nghịch dụ đã được mở rộng, vượt ra ngoài phạm vi cặp đối lập ngôn ngữ thông thường. Nhà nghiên cứu Đào Tuấn Ảnh khẳng định sự sử dụng trên “quy mô tổng thể” thủ pháp này trong thơ Akhmatova và đặc biệt trong thơ Brodsky: “Đồ vật không đứng. Và không/ chuyển động. Điều đó nhảm nhí./ Nó là không gian; không thể/ có đồ vật ngoài không gian.// Nó có thể bị đập tan/ đốt cháy, ném, nghiền, bẻ, xé./ Dù vậy, đồ vật vẫn sẽ/ Không chửi: “Đù má tụi mày!” - (Tĩnh vật - Huyền Anh dịch). Ở đây, ngôn ngữ cao cả đầy khái quát triết lý lẫn với ngôn ngữ dung tục hè đường(5)”. Ở nước ta, theo các nhà ngôn ngữ và các nhà thi pháp học, ban đầu, nghịch dụ thường xuất hiện trong khẩu ngữ, trong ca dao nhằm gây hiệu quả diễn đạt bất ngờ (“Thật thà cũng thể lái trâu/ Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng”; “Đàn ông nông nổi giếng thơi/ Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”); càng ngày, nghịch dụ càng xuất hiện nhiều hơn trong các tác phẩm văn chương khi các nhà văn, nhà thơ phát hiện giá trị biểu đạt và biểu cảm to lớn của chúng. Chính Vũ Trọng Phụng trong Cơm thầy cơm cô cũng sử dụng thủ pháp này: “Các ngài chỉ cần biết rằng một hàng cơm cũng như nghìn vạn hàng cơm khác, nghĩa là khi ta mới bước chân vào thì bổn phận ta là thấy lập tức buồn nôn. Nào là mùi cá mè, mùi thịt trâu…”.

Về cơ bản, nghịch dụ được sử dụng như một sự hài hước, một sự mỉa mai, châm biếm hay sự chế nhạo, thậm chí những tuyên bố chính trị(6). Với Số đỏ, sự xuất hiện của những nghịch dụ ngôn từ trong bóng dáng của những cặp bình diện đối lập, trước hết và trên hết đã góp phần tạo nên hiệu quả gây cười và tính chất trào phúng cho tác phẩm bởi “Cách nhìn hài kịch về con người là cách nhìn con người ở hai bình diện lủng củng, xung khắc nhau: con và người, bản năng thân xác và trí tuệ lí trí, nói và làm, thực sự sống như thế nào và lẽ ra phải sống như thế nào(7)”. Dạng thức xuất hiện của nghịch dụ trong tác phẩm này cũng khá đa dạng, có lúc là nghịch dụ cổ điển, tức là sự kết hợp của những từ mang ý nghĩa đối lập nhau trong một tổ hợp từ định danh hay miêu tả, bình giá; có lúc là sự đối chọi của những nét tính cách đối lập nhau trong một con người; có lúc nghịch dụ được mở rộng và sáng tạo trong những “đối thoại” về nền tảng tư tưởng, hiện thực. Từ đó, những lớp nghĩa mới, những cách hiểu mới về Số đỏ càng ngày càng được bồi đắp.

 

Vũ Trọng Phụng có khả năng gắn mác định danh cho nhân vật. Với bất kỳ nhân vật nào, nhà văn cũng tìm ra được những “nickname” rất độc đáo và chính xác gắn với bản chất của nhân vật ấy. Nhà văn gọi bà Phó Đoan – một góa phụ thủ tiết với hai đời chồng là “một me Tây chân chính”. Đặt trong khung tham chiếu thời đại ngày nay, một người phụ nữ thủ tiết với hai đời chồng có thể khiến độc giả tò mò, thậm chí cười mỉm, nhưng để hình dung chân dung của một “me Tây chân chính”, cần phải đọc trang văn Vũ Trọng Phụng miêu tả nhân vật này và khi ấy, cái cười của độc giả mới thực sự là một cái cười có ý nghĩa. Lần xuất hiện đầu tiên trong tiểu thuyết của bà Phó Đoan là khi bà bước xuống từ một chiếc xe ô tô, và Vũ Trọng Phụng đã rất ấn tượng với vẻ ngoài của bà: “Một bà trạc ngoài tứ tuần mà y phục còn trai lơ hơn của các thiếu nữ, mặt bự ra những son và phấn, tóc đen lay láy nhưng mà quăn, cả người nặng ít ra cũng bảy mươi cân, nhưng cái khăn vành dây đúng mốt hết sức thì lại nhỏ xíu và ngắn ngủn có một mẩu, một tay cầm một cái dù thật tí hon và một cái ví da khổng lồ, tay ôm một con chó bé trông kì dị như một con kỳ lân, bước xuống đất một cách nặng nề vất vả(8)”. Phẩm chất nổi bật nhất ở bà Phó Đoan là sự lẳng lơ và sự chung tình. Cái lẳng lơ của bà đã đưa bà đi từ “cuộc hiếp trái phép” đến “cuộc hiếp đúng luật” để lần lượt trở thành vợ của một ông Tây Đoan rồi vợ của một người chồng “nội hóa”. Và cũng nhờ cái “lẳng lơ theo đúng nghĩa lý sách vở của thánh hiền” cộng với sự chung tình với 2 người chồng đã khuất, bà Phó Đoan được phong bảng Tiết hạnh khả phong Xiêm La. Trong con mắt của người đương thời thuở ấy, bà Phó Đoan là “linh hồn nước Việt Nam trên đường tiến hóa và giải phóng”. Cái cười bật ra sảng khoái khi hình dáng và tính cách bà Phó Đoan hiện ra rõ nét. Những người phụ nữ tân thời khác trong tác phẩm, đại diện cho xã hội thời ấy, cũng được ký họa chân dung bằng thủ pháp nghịch dụ ngôn từ: Tuyết – “một trang bán sử nữ - demi vierge – còn tân một nửa”, Hoàng Hôn – “người đàn bà đức hạnh” với quan điểm “không giữ trinh tiết với chồng và nhân tình không phải đàn bà…”

Với nhân vật TYPN, Vũ Trọng Phụng lại khẳng định đó là một nhà mỹ thuật, một ông thợ may “hăng hái cải cách xã hội và bảo thủ nghiệt ngã gia đình”. Yêu phụ nữ nhưng trong suy nghĩ của TYPN và những bậc trí thức bạn bè của ông ta (nhà viết báo) “phụ nữ nghĩa là vợ con chị em người khác, chứ không phải vợ con chị em của ta”. Vì thế TYPN và những nhà cải cách xã hội thi nhau cổ vũ cho công cuộc tân thời, Âu hóa, lãng mạn ngoài xã hội, còn với vợ ở nhà thì cấm tiệt: “Gia đình tôi thì cứ phải theo cổ, không được có hạng đàn bà tân thời khiêu vũ, mai chợ phiên, rồi về nhà chửi lại mẹ chồng bằng những lí thuyết bình quyền với giải phóng!”. Độ chênh trong lời nói và cách hành xử của ông TYPN là điểm cộng của nhà văn họ Vũ khi ông xây dựng chân dung lố bịch và hài hước của những nhà cải cách xã hội.

Đại diện của giới tăng lữ là sư cụ Tăng Phú, một “vị sư tân thời và chân tu”, bản tính rất “phong tình” với đời sống tinh thần phong phú và đời sống kinh tế vô cùng thực tế. Cái “chân tu” của sư cụ được chính sư cụ khẳng định: “Bẩm ngài đi hát cô đầu cũng chỉ là di dưỡng tinh thần, vì đó là thuộc kinh trong tứ thư ngũ kinh của đức Khổng”, “Chúng tôi buôn bán đứng đắn chứ không thèm giở những thói cạnh tranh bất chính như hội Phật giáo ạ”. Còn đây là bằng chứng cho tư tưởng “tân thời” của sư cụ: “Thời buổi tối tân này, Phật mà không biết tiến hóa theo văn minh thì cũng chết nhăn răng ra”. Lí lẽ của sư cụ khi gặp suy nghĩ của Xuân tóc đỏ thì quả thật là một sự mỉa mai đáng kinh ngạc: “Trong óc nó (Xuân tóc đỏ - ĐTH) có sẵn thành kiến là cái gì nhố nhăng thì mới là tân thời”. Và chắc hẳn, bản chất của “Phật giáo tân thời” cũng đã được độc giả hình dung phần nào. Rõ ràng, xét từ góc độ văn hóa truyền thống, cách nghĩ và cách làm của sư cụ Tăng Phú đã cho thấy sự tha hóa của tín ngưỡng và những người phụng sự tín ngưỡng dân tộc. Cái hài ở đây vượt ra khỏi khuôn khổ hài hước thông thường để đi sang thái cực trào phúng, phê phán. Ngôn ngữ dưới bàn tay nhào nặn, sắp xếp của Vũ Trọng Phụng đã có sức biểu đạt ghê gớm. Các nhân vật, với đầy đủ bản chất của nó hiện ra một cách đầy ấn tượng. Tiếng cười có thể bật ra ngay khi người đọc va đập với lớp vỏ ngôn từ trong những dòng miêu tả hay “định danh” nhân vật, nhưng đằng sau tiếng cười là sự mỉa mai, châm biếm sâu cay Vũ Trọng Phụng dành cho các thế hệ bạn đọc suy ngẫm.

 

Nói đến Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, nhiều nhà nghiên cứu chú ý tới tính chất “rởm”, “bịp” của các phong trào văn minh âu hóa cũng như năng lực thật sự của những người trực tiếp gánh trọng trách âu hóa, văn minh hóa xã hội. Cái rởm trong tác phẩm dường như mạnh mẽ hơn, lấn át cái thực. Thùng rỗng kêu to, trí tuệ dân gian tổng kết từ ngàn đời quả không sai. Cái rởm, cái bịp thường đi đôi với thói ba hoa lắm lời. Trong Số đỏ, không mấy khó khăn để tìm ra những câu văn như vậy: các nhân vật tự quảng cáo về mình hoặc quảng cáo cho nhau. Xuân tóc đỏ đã tưởng mình ngủ mê khi thấy ông phán mọc sừng lần đầu tiên gặp mặt đã tự quảng cáo về mình một cách bí mật trong dáng vẻ nho nhã của một thầy ký kiết: “Kính chào ngài! Thưa ngài, tôi, tôi là một người mọc sừng”. Tiếng cười cũng bật ra khi người đọc thấy Xuân ưỡn ngực, vênh váo ra oai khi đụng độ với hai viên cảnh sát tại sở thể thao: “Me sừ Xuân, giáo sư quần vợt, cái hi vọng của Bắc kỳ!”. Sau một vài giây sợ hãi, các thầy cảnh sát cũng tự tin “ưỡn ngực vênh váo” tự giới thiệu về mình: “Me sừ Min Đơ! Lính cảnh sát hạng tư, chiến công bội tinh, giải nhất Hà Nội – Hà Đông, giải nhì Hà Nội – Đồ Sơn, một cái tương lai của cảnh sát giới”; “Me sừ Min Toa, cảnh sát hạng năm, giải nhất vòng quanh Hà Nội, cúp Boy Landry, cúp Mélia Jaune, một vẻ vang của sở Cẩm Hà Nội, một cái hi vọng của Đông Dương!”. Sau cuộc đụng độ, họ nhận nhau là bạn đồng chí, và theo đề nghị của Xuân tóc đỏ, họ nhận nhiệm vụ “giúp đỡ lẫn nhau, quảng cáo cho nhau”. Từ đó, trong tác phẩm, mỗi khi Xuân tóc đỏ gặp mặt hai thầy cảnh binh của ty cảnh sát số 18 – những người nhờ chăm chỉ đi tuần mà trở thành niềm hi vọng của thể thao nước nhà, người đọc sẽ được nghe những lời nói to tát với dáng vẻ nghiêm trang về những cái hi vọng của Đông Dương, hi vọng của cảnh sát giới… Ngôn ngữ trong tay Vũ Trọng Phụng quả thật đã trở thành công cụ vô cùng đắc lực trong việc tạo ra tiếng cười hài hước hết sức hồn nhiên và sảng khoái. Ẩn sau những cái hồn nhiên, sảng khoái tự nó của tiếng cười, người đọc, tùy từng mức độ, có thể dẫn dụ tới những vấn đề của xã hội hiện đại, thậm chí, xã hội đương đại. Người ta thường nói với nhau về những lời lẽ phóng đại, xa sự thật trong những đoạn quảng cáo. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến cho rằng đó là hiện tượng phổ biến trong những xã hội đi vào con đường Âu hóa mà trình độ dân trí còn thấp: “Trong những xã hội như vậy, quần chúng lại dễ dàng cả tin vào lời lẽ ba hoa của cái rởm(9)”. Có lẽ, đoạn quảng cáo ấn tượng nhất trong tác phẩm, để lại dấu ấn sâu sắc nhất trong tác phẩm là đoạn quảng cáo về nhân vật Văn Minh chồng.

 “Bậc son phấn mày râu” của giới thượng lưu trí thức Văn Minh được khắc họa là một “chàng thiếu niên cao ngẳng, gầy đét, lộ hầu, hai mắt như ốc nhồi, tóc cũng uốn quăn, âu phục lối du lịch”. Cũng giống như đồng nghiệp TYPN, có những lúc ông suy nghĩ, hành động, nói năng “như một người hủ lậu”, “muốn quay về bảo thủ”. Cái tên Văn Minh của ông xuất phát từ tâm lí bảo thủ của những người chồng sợ vợ: “tên của vợ ông là Văn, của ông là Minh thì ông đặt ngay là Văn Minh, tên vợ ông ở trên tên ông, tên ông đội dưới cho có vẻ nịnh đầm” chứ không cải cách quốc gia, cũng chẳng quốc tế chi chi cả. Để cái tên của mình không vô nghĩa, ông chủ trương Âu hóa bằng tinh thần sốt sắng cổ động cho thể thao dù ông không tập thể thao bao giờ. Vũ Trọng Phụng đã hoàn tất đoạn quảng cáo về nhân vật này bằng dòng tổng kết tâm lí đặc trưng “ghét văn bằng” của những du học sinh quay về Tổ quốc mà không có một mảnh văn bằng nào cả”. Lí luận của Văn Minh là: “Học thức không ở văn bằng. Những người như Phạm Quỳnh hay Nguyễn Văn Vĩnh, mà khảo đến bằng, thì thành ra vô học hay sao?”. Văn Minh đã tự nâng cao địa vị của mình trong xã hội, đưa bản thân mình chính thức trở thành một “nhà cách mệnh trong vòng pháp luật”. Không phải ngẫu nhiên Vũ Trọng Phụng đặt Văn Minh bên cạnh những nhân vật nổi tiếng Tây học và đổi mới bấy giờ là Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh. Rõ ràng, ở thời điểm Vũ Trọng Phụng sống, Phạm Quỳnh và Nguyễn Văn Vĩnh là những cái tên có tầm ảnh hưởng to lớn bởi họ đều là những nhà văn, nhà tư tưởng lỗi lạc. Đặt Văn Minh chồng trong thế đối lập, tương phản với Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh phải chăng Vũ Trọng Phụng càng muốn nhấn mạnh hơn cái rởm, cái lố bịch, cái đáng buồn cười của nhà cải cách xã hội Văn Minh? Lối văn quảng cáo và tự quảng cáo cũng chính là một nghịch dụ ngôn ngữ độc đáo của nhà văn Vũ Trọng Phụng. Qua đó, người đọc không chỉ cười, mà còn suy ngẫm về lẽ thật – giả trong xã hội thị trường vốn thật giả lẫn lộn.

 

Với Số đỏ, không chỉ tạo ra những bức chân dung “nghịch dụ”, trong cách miêu tả thiên nhiên, miêu tả không gian, Vũ Trọng Phụng cũng tiếp tục nhào nặn ngôn ngữ để tạo nên những câu, những hình ảnh vô cùng độc đáo, mang đậm dấu ấn trào phúng của riêng ông.

Bước vào trại giam của ty cảnh sát số 18 của thành phố, theo chân Xuân tóc đỏ người đọc sẽ được chứng kiến cảnh tượng rất yên bình, nên thơ tưởng chỉ có thể gặp bên ngoài nhà tù: “ba người của cái gia đình hành khất thì bắt chấy rận cho nhau một cách nên thơ”, trong khi thằng ma cà bông “nằm dài dưới gạch ngáy như kéo gỗ” tại một gian phòng được chiếu “một thứ ánh sáng tối tăm”. Thằng ma cà bông chỉ thích được nằm trong nhà tù để nghỉ ngơi bởi “Đương ngủ ngon ngoài đường thì bắt vào bóp, đương ngủ ở bóp thì gọi dậy bảo ra đi”. Nhìn thấy cảnh nhà giam như thế, Xuân Tóc đỏ phải ngán ngẩm mà rằng: “- Nước mẹ gì! Bóp với chả bóp! Phòng giam thì bằng cái lỗ mũi”. Trong con mắt Xuân, phòng giam của nhà nước phải là phòng giam có “hàng trăm đội xếp dùi sơn trắng, cầm những xích to tướng, mà đề bô (10) thì cửa gióng sắt như chuồng hổ, tinh những muỗi với rệp, giam được hàng vài trăm người”. Thế mà ở đây, tại nhà giam này, Xuân đang được nghỉ ngơi, an dưỡng, lấy lại sức sau sự cố công việc vừa qua (Xuân bị đuổi việc vì bị phát hiện nhìn trộm một cô đầm thay quần áo và bị bắt vì tội gây sự đánh nhau với ông thầy số). Sự tương phản giữa cái phải có với cái hiện có của nhà giam đô thị thời thuộc Pháp vẽ ra một khung cảnh sinh hoạt yên ổn, thanh bình. Có cảm giác xã hội thành thị Việt Nam “bằng lòng” với những gì đang có. Vũ Trọng Phụng đang “cười” bộ máy hành pháp của nhà nước thuộc Pháp hay đang “quảng cáo” cho “cái rởm, cái bịp” đang được sử dụng để che đậy cho cái thực mà nhà văn không nói đến?

Công cuộc Âu hóa đến cũng kéo theo những thay đổi đáng kể trong bộ mặt của đô thị. Những cuộc tự do yêu đương đã biến đổi vị thế của hồ Tây, hồ Trúc Bạch và tạo công ăn việc làm cho biết bao bác phu xe ế khách, những kẻ trai tráng biết bơi mà thất nghiệp... Đó là bởi vì các đôi trai gái thường bày tỏ tình yêu tự do bằng cách nhảy xuống hai cái hồ ấy. Và cũng bởi vì “hồ Tây sâu lắm, những kẻ tự tử chẳng mấy ai thoát chết cả, thành thử người ta bảo nhau nhảy xuống cái hồ bên cạnh là hồ Trúc Bạch nông hơn”. Lẽ thường thì nếu thật sự muốn quyên sinh, người ta thường chọn nơi nào chắc chắn hơn, như thế giữa hồ Tây và hồ Trúc Bạch chắc chắn họ phải chọn hồ Tây. Nhưng trong tác phẩm, những đôi nam thanh nữ tú chọn hồ Trúc Bạch. Một cái nghịch lí đầy mỉa mai về tình yêu tự do thời âu hóa. Lí do thứ hai khiến các thanh niên chọn hồ Tây là vì “nhà nước cũng khôn, đã cho trồng mấy cái bảng lớn “Cấm ngặt đổ rác xuống hồ Tây” nên hồ Trúc Bạch lại càng đắt khách”. Đây lại là một ẩn dụ thú vị của nhà văn họ Vũ về thế hệ của những con người mới đang giữ vai trò chủ nhân tương lai của đất nước. Phải chăng thứ rác đổ xuống hồ Tây và hồ Trúc Bạch còn được hiểu theo một nghĩa khác?

 

Biệt tài sử dụng ngôn ngữ của Vũ Trọng Phụng đã cho thấy khả năng vô hạn của yếu tố kí hiệu này trong việc biểu đạt và biểu cảm. Nhà văn có thể kín đáo hay trực tiếp bày tỏ thái độ, cách nhìn cũng như định hướng cho người đọc. Rõ ràng, ngôn ngữ giữ vai trò quan trọng, là “cương lĩnh của quá trình sáng tạo”(11). Vì thế, ngôn ngữ không chỉ đắc dụng trong việc định danh, phơi bày những cái “nghịch” tai gai mắt để từ đó một mặt gây cười, mặt khác ám “dụ” tới những thâm ý mang màu sắc phê phán, ngôn ngữ còn đắc dụng trong việc tạo ra thế đối sánh của các tư tưởng, các quan điểm trừu tượng – những yếu tố vốn vô hình.

Bằng kinh nghiệm và tri thức của một nhà mỹ thuật tiếp thu nền nghệ thuật Pháp, nhà tay lơ(12) TYPN đã đưa ra những quan điểm về cái đẹp rất đáng chú ý: “mỹ thuật càng khó hiểu bao nhiêu thì càng có giá trị bấy nhiêu”, “y phục tiến bộ đến cực điểm đi đến tận thiện tận mỹ, thì nghĩa là y phục không còn...che đậy cái gì của người đàn bà nữa”, “sự đắc thắng hoàn toàn của nghệ thuật” là khi sáng tạo ra những kiểu chữ tối tân đến mức“giới trí thức cũng không đọc nổi nữa”. Mong muốn của nhà mỹ thuật TYPN là “được – bị bỏ tù” như những danh họa nổi tiếng thế giới bị Mussolini và Hitler bỏ tù. Quan điểm về cái đẹp của TYPN được Văn Minh và những người bạn tích cực hưởng ứng, tuy những kẻ bình dân như Xuân cảm thấy có chút bất bình. Rõ ràng, ranh giới cái đẹp – cái xấu, cái mới – cái cũ đã là một vấn đề làm rối loạn xã hội đương thời (điều này còn được thể hiện rõ hơn nữa trong chương XIV – Một đám ma gương mẫu).

Có một điểm đặc biệt quan trọng trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng ấy là việc nhà văn rất coi trọng “số” của nhân vật. Ở các tác phẩm lớn của mình, nhân vật, dù vô tình hay chủ động, đều được xem tướng số rất cẩn thận. Xuân tóc đỏ cũng không phải ngoại lệ. Ngay đầu tác phẩm, trong khi chờ đợi các tiểu thư đến chơi quần vợt, Xuân đã kịp được một ông thầy số có tiếng là “Gia Cát tân thời” xem vận mệnh cho. Số mệnh của Xuân theo như lời thầy phán thì “danh phận cũng to”, thêm nữa lại rất phong lưu. Danh phận ấy đến với Xuân cũng xuất phát từ cái số và cả cái tính đào hoa của hắn. Nhờ bị đuổi vì nhìn trộm một cô tây thay đồ, Xuân được bà Phó Đoan cứu giúp, từ đó, số mệnh cứ ngẫu nhiên đem đến cho nó những danh vọng mà nó không ngờ đến. Đã có lúc tác giả phải thốt lên rằng: “Là vì sự tình cờ đã xô đẩy Xuân vào cái gia đình trưởng giả của Văn Minh... Thanh thế nó mỗi ngày một to tướng mãi. Ảnh hưởng của nó cũng vậy. Nó cứ tự nhiên tham dự vào những việc rất can hệ cho xã hội mà nó không biết... Nó chỉ còn chờ... Nó biết rõ điều ấy lắm. Nó chờ số phận lôi nó lên cao chót vót.” Cũng có lúc Xuân đề cập đến số mệnh khi ai đó khen ngợi hay động viên nó: “Còn phải nhờ ở số mệnh nữa mới được”. Ông thầy số thì rất tự hào khi Xuân đạt được đỉnh cao danh vọng: “Bẩm như số ông Xuân chúng tôi thì cách đây năm tháng, chúng tôi đoán trước, cũng rất đúng như những sự bây giờ. Thật là tài cao, chí cả, dưới gầm giời danh tiếng xa...”

Với Xuân, về cơ bản, tất cả đến quả đúng là ngẫu nhiên, dưới sự điều khiển của số mệnh. Xuân chỉ việc vận dụng tất cả những gì nó có từ trước: tài thổi loa thuốc lậu cho nó khả năng hùng biện, cũng nhờ thổi loa thuốc lậu nó được gắn cái mác sinh viên trường thuốc, nhờ nhặt bóng trong sân quần mà nó có cơ hội đánh quần rồi trở thành quán quân quần vợt, anh hùng cứu quốc. Không thể phủ nhận cái tài quần vợt của Xuân. Với cái tài tất yếu đó, bước đường của Xuân đã thực sự thênh thang. Ông thầy số đã từng tiếc cái tóc của Xuân không được đen, nhưng có lẽ, tóc đỏ cũng là một sáng tạo tất yếu mà Vũ Trọng Phụng muốn gắn cho số phận của nhân vật, bởi nó tạo ra vẻ sang trọng, quyền uy cho Xuân(13). Với Xuân, Vũ Trọng Phụng cho thấy sức mạnh của số mệnh, của cái vận may ngẫu nhiên trong cuộc đời con người. Vận may khi Xuân gặp được Văn Minh và được Văn Minh “dìu dắt”. Tuy nhiên, thật thú vị khi cuối tác phẩm, Vũ Trọng Phụng để cho Xuân tóc đỏ được thể hiện quyền uy của kẻ bề trên: “Xuân tóc đỏ thỉnh thoảng lại vỗ vai Văn Minh một cách thân mật mà rằng: - Rồi tôi cũng cất nhắc anh lên đường công danh… Tôi quyết rằng vì tôi, anh sẽ được thiên hạ biết đến tên tuổi”. Rõ ràng, Vũ Trọng Phụng đang mỉm cười mỉa mai: Ai là người gặp may? Ai là người gặp số đỏ: Xuân tóc đỏ hay Văn Minh?

Trong một tác phẩm khác của mình, Vũ Trọng Phụng cũng đề cập đến số đỏ của nhân vật chính. Đó là cuộc đổi đời của anh chàng Phúc từ khi trúng số độc đắc. Trước khi trúng số, cũng có người đã từng nhìn tướng anh ta và nói: “Cái tai của cậu ấy à? Cái mũi của cậu ấy à? Cậu mà không có bạc vạn trong tay thì cậu cứ chém cổ con đi(14)”. Rõ ràng, thuyết định mệnh và cái ngẫu nhiên có ảnh hưởng quan trọng tới số phận của các nhân vật. Điều đó cho thấy, Vũ Trọng Phụng, dù là một người thấm nhuần học vấn phương Tây, vẫn chịu ảnh hưởng sâu sắc của quan điểm, triết lý phương Đông. Điều này phần nào chi phối thế giới quan, nhân sinh quan và cách nhìn hiện thực của ông. Nhà văn không nhìn hiện thực bằng cái nhìn phân tích, mổ xẻ, ông cảm nhận hiện thực bằng tất cả cái vốn mà mình có, kể cả cái bất an lo lắng trước những gì trái khoáy đang diễn ra. Điều đáng buồn là, nếu đó đã là số mệnh, thì không ai có thể thay đổi được. Ở điểm này, rõ ràng Số đỏ của Vũ Trọng Phụng đã tạo nên một điểm khác biệt lớn so với những tác phẩm nổi tiếng thế giới khác mà nó được đem ra so sánh (như Miếng da lừa của Banzac, Đường công danh của Nikodem Đuyzma của nhà văn Ba Lan T.D.Moxtovich). Đặt cả ba tác phẩm trên cùng một mặt phẳng để so sánh, có lẽ Số đỏ gần với Miếng da lừa hơn. Cả hai nhà văn đều đề cập đến vai trò của cái ngẫu nhiên định mệnh đến số phận nhân vật. Ở Miếng da lừa, Banzac dùng miếng da lừa có phép thuật để giúp chàng quý tộc nghèo nghiên cứu Đông phương học Raphaen đơ Valangtanh tiến thân, bù lại anh ta phải trả bớt số năm sống trên mặt đất cho vị thần số mệnh. Còn trong Số đỏ hay Trúng số độc đắc, nhân vật không hề nhận được sự giúp đỡ từ bất kỳ một yếu tố kỳ ảo nào, chỉ có số mệnh đã an bài cho họ và họ cứ đi trên con đường ấy. Nikodem Đuyzma trong Đường công danh của Nikodem Đuyzma lại gần với Victor Ban của Vũ Trọng Phụng hơn ở con đường làm giàu. Victor Ban đã từng là ông chủ của Xuân tóc đỏ hồi nhân vật này vẫn còn là một thằng bé thổi loa thuốc lậu. Đi lên nhờ bán thuốc lậu và sau này là chủ khách sạn Bồng Lai, Victor Ban được ca ngợi là người “thương yêu chủng tộc”, “cứu nhân độ thế” khi vừa giúp dân Nam hưởng thụ thú vui thể xác lẫn tinh thần vừa giúp xoa dịu căn bệnh xuất phát từ thú vui thể xác đó. Còn Nikodem của Ba Lan lại khác, anh ta thủ đoạn hơn, tàn độc hơn khi sẵn sàng từ bỏ tất cả những người đã có ơn với mình, thậm chí từ bỏ cả tính người trong mình để đạt được mục đích. Sự đam mê quyền lực, giàu sang kết hợp với sự phụ trợ của số mệnh, Nikodem cũng đã đạt đến đỉnh cao danh vọng. Trong sự đổi đời của Nikodem, rõ ràng yếu tố số mệnh đã bị lu mờ trước những thủ đoạn tư bản của con người.

 

Như vậy, trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã rất có ý thức đối sánh cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên, định mệnh và tính cách, thật và giả... Nhà văn đặt Xuân vào trong những trang sách của mình để vừa đưa ra cách nhìn, cách đánh giá xã hội, vừa bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc về vị trí, thân phận con người trong xã hội ấy. Dưới cái nhìn sắc sảo của nhà văn, với khả năng sử dụng những kết hợp ngôn ngữ điêu luyện, Vũ Trọng Phụng đã chứng minh quyền năng vô hạn của kí hiệu ngôn ngữ và thủ pháp ngôn ngữ trong sáng tạo. Và Số đỏ xứng đáng là minh chứng mẫu mực cho quyền năng ấy.

 

Chú thích:

 (1)Vương Toàn (chủ biên), Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Xuân Thơm, Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học (Việt-Anh-Pháp-Nga), Nxb Từ điển Bách khoa, H., 2003, tr. 886.

 (2)Nguyễn Thái Hòa trong Từ điển tu từ - phong cách – thi pháp học giải thích: “nghịch dụ là một biến thể của phản ngữ, trong đó cốt ở việc kết hợp liền nhau hay gần nhau những đơn vị ngữ nghĩa và ngữ pháp trong một chuỗi câu, trái với cách nói, cách hiểu thông thường. Ví dụ: đẹp kinh khủng, lo muốn chết, hiền như quỷ, ngon dễ sợ…”, Nxb GD, H., 2006, tr. 415 – 416.

 (3)Theo Encarta Dictionaries; Encylopedia Britanica và M.H. Abrams (Cornell University), A Glossary of literary terms, Harcourt Brace College Publishers// Conceit - p. 32, Paradox - p. 140, Sensibility, Literature of - p. 190), Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội. 

 (4)Theo Encylopedia Britanica, mục từ Oxymoron.

 (5)Đào Tuấn Ảnh, Thơ Brodsky – cuộc đối thoại giữa các nền văn hóa, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, Số 9-10/ 2006.

 (6)Theo Wikiproject Linguitics.

 (7)Hoàng Ngọc Hiến, Những ngả đường vào văn học// Ghi chép về hài kịch, hài hước, Nxb GD, H., 2006, tr. 191.

 (8)Vũ Trọng Phụng, Số đỏ, Nxb Thanh niên, H., 2003. Từ sau chú thích này, tất cả những dẫn chứng lấy từ tác phẩm chúng tôi không đánh số.

 (9)Hoàng Ngọc Hiến, Những ngả đường vào văn học// Một ít lí thuyết về trào phúng, Sđd, tr. 129.

 (10)Phòng giam.

 (11)Iu. Lotman, Biểu tượng Gène của truyện kể, Lã Nguyên dịch, phebinhvanhoc.com.vn.

 (12)Thợ may.

 (13)J. Chevalier, A. Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (màu đỏ), Nxb Đà Nẵng-Trường viết văn Nguyễn Du, 2002, tr. 303-306, (Phạm Vĩnh Cư chủ biên dịch).

 (14)Tôn Thảo Miên (biên soạn), Vũ Trọng Phụng toàn tập, tập IV/ Trúng số độc đắc, Nxb Văn học, H., 2004, tr. 186.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 10/2013.

Các tin đã đưa ngày: