Điều kiện thực tại và văn hóa của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin

17/04/2014

Dựa trên sự phân tích hai cơ sở chính yếu là điều kiện thực tại kì diệu và cơ sở văn hóa hỗn chủng, bài viết đi sâu phân tích đặc tính phản ánh hiện thực của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin. Với một thiên nhiên rộng lớn đầy hoang vu hùng vĩ, rừng rậm bao phủ và những sông ngòi, bờ biển kéo dài, kết hợp với thực trạng chính trị đầy bạo lực và biến động, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin đã được viết nên từ sự phản ánh một “thực tại kì diệu” (lo real maravilloso) đặc thù mang tính bản địa.

Điều kiện thực tại và văn hóa của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin

Phan Tuấn Anh

 

“Nhờ đọc những văn bản này, chúng tôi, trong số những người châu Mỹ bản địa, đã có thể khẳng định được rằng lịch sử chúng tôi có nhiều chất tiểu thuyết hơn lịch sử. Đó là những truyện kể mà trong đó hiện thực bị hòa tan trong những ngụ ngôn, huyền thoại và những thứ trang trí bên ngoài của cái đẹp, còn trí tưởng tượng, trong khi mải mê mô tả hiện thực, lại tạo ra một hiện thực khác mà ta có thể gọi là siêu thực”.  (M.Asturias)


 

Tiểu luận này được viết chỉ nhằm trả lời cho một nghi vấn duy nhất, cái huyền ảo (magical) trong văn học Mỹ Latin, mà đỉnh cao và kết tinh của nó là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magical realism, realismo maravilloso), là một hiện tượng tiếp thu từ bên ngoài (chủ yếu là từ châu Âu), hay là một hiện tượng văn học hoàn toàn mang tính bản địa? Nói cách khác, cái huyền ảo và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là một hiện tượng quốc tế, hay một hiện tượng có tính khu vực đặc thù? Nếu có du nhập, thì các nhà hiện thực huyền ảo Mỹ Latin đã học hỏi những gì từ văn học thế giới? Nếu lấy văn hóa bản địa làm trung tâm, thì giá trị nào chứng minh cho tính tự trị của văn học Mỹ Latin? Giả sử, có một câu trả lời nước đôi, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin vừa ảnh hưởng từ bên ngoài, vừa dựa trên cơ sở văn hóa, hiện thực bản địa Mỹ Latin, thì quá trình diễn ấy ra như thế nào, mang đặc trưng gì, giá trị nào được kế thừa và giá trị nào mang tính bản địa? Đó là một câu trả lời không dễ dàng, bởi nền lý luận văn học thế giới nhiều thập niên qua đã tranh cãi liên miên, đôi khi đến gay gắt, nhưng vẫn không có hồi kết về việc chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin xuất phát từ đâu. Những nhà nghiên cứu như Schulman thừa nhận chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin đã kế thừa các tác phẩm của các nhà văn hiện đại châu Âu như F.Kafka, A.Camus, W.Faulkner, T.Mann, E.Hemingway, R.Grillet… và rõ ràng ý kiến của ông đã được chia sẻ bởi những người như Gonzales (xem tiểu thuyết Mỹ Latin ảnh hưởng từ Tiểu thuyết mới), Kofman và Langoski (từ chủ nghĩa Siêu thực Pháp), Ocampo (từ Phân tâm học của Jung), A.Flores (trực tiếp từ F.Kafka). Trong tự truyện và những bài trả lời phỏng vấn, G.G.Marquez cũng thừa nhận ông đã đọc rất nhiều các tác gia phương Tây, trong đó ảnh hưởng ba người lớn nhất là F.Kafka, W.Faulkner và E.Hemingway, trong đó, người trực tiếp mở cánh cửa nghệ thuật đi theo chủ nghĩa hiện thực huyền ảo cho Marquez chính là Kafka.

Ngược lại, những nhà nghiên cứu xem chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin là một hiện tượng hoàn toàn bản địa cũng đông đảo không kém, và bởi vì dựa vào một truyền thống khác, một “lịch sử khác”, nên quan điểm lấy mốc ban đầu hoặc người khai mở cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin của họ cũng khác. Có thể kể đến Luis Leal (chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin bắt đầu từ Arturo Uslan Pietri – nhà văn người Venezuela), F.Alegria, L.Ospovat, J.Cortazar (từ Asturias – nhà văn người Guatemala), C.Rincon (từ A.Carpentier – nhà văn người Cuba), E.Williamson (từ M.Andrade trong tiểu thuyết Macunaima – nhà văn người Brazil); A.Carpentier, Joyce, Trigo (đặc tính baroque mới), R.Bastos, R.Retamar (văn học Mỹ Latin nằm ngoài thang giá trị châu Âu)… Bản thân Marquez dù thừa nhận chịu ảnh hưởng lớn từ kĩ thuật viết của các nhà văn châu Âu, nhưng trong diễn từ Nobel Nỗi cô đơn của châu Mỹ Latin lại luôn chống lại quan điểm lấy các tiêu chí và văn hóa châu Âu vào để hiểu và phân tích văn học/hóa châu Mỹ Latin. Cuộc tranh luận phức tạp và kéo dài trong lịch sử nghiên cứu văn học Âu – Mỹ này chúng tôi sẽ dành cho một tiểu luận khác, nhưng trước tiên cần một số thống nhất cơ bản như sau:

- Thuật ngữ chủ nghĩa hiện thực huyền ảo rõ ràng không ra đời tại Mỹ Latin, nhưng văn học Mỹ Latin đã biến thuật ngữ này thành một trào lưu văn học lớn được thừa nhận ở tầm vóc thế giới. Xem lại lịch sử, ta có thể thấy ngay từ 1925, một nhà phê bình người Đức tên Franz Roh đã đưa ra thuật ngữ này trong tiểu luận Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo: Hậu chủ nghĩa ấn tượng [3,25]. Theo Lê Huy Bắc, từ những năm thuộc thập niên 40 của thế kỉ XX, thuật ngữ này trở nên phổ biến tại Hoa Kì. Cuối thập niên 40, nhà văn Áo Saiko xuất bản cuốn sách viết theo phong cách này, và năm 1952 ông đưa ra tuyên ngôn của mình về chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Trong khi đó, theo A.F.Kofman trong Vẻ đẹp đặc thù nghệ thuật của tiểu thuyết Mỹ Latin qua sự đánh giá của giới phê bình văn học, ông cũng thừa nhận chính F.Roh là người khai sinh ra thuật ngữ. Ở Mỹ Latin, theo Kofman, phải đến năm 1948 thuật ngữ này mới được sử dụng bởi nhà phê bình A.Uslar Pietri (người Venezuela), người chính thức luận thuyết cho thuật ngữ này phải đến A.Carpentier trong “Lời nói đầu” của cuốn tiểu thuyết Vương quốc trần gian (1949), khi ông đưa ra quan điểm về “cái thực tại kì diệu” (lo real maravilloso). Mặc dù có thể chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là một thuật ngữ du nhập từ châu Âu, nhưng những nhà văn Mỹ Latin lại là người tạo dựng các thành tựu lớn nhất, cũng như xây dựng được một trào lưu thống nhất mang bản sắc địa phương. Có thể thấy trong năm giải Nobel văn chương đã trao cho châu lục này, thì có đến ba giải đã thuộc về các nhà hiện thực huyền ảo: Asturias, Marquez và Llosa. Trong đó, cuốn Trăm năm cô đơn (Marquez) không chỉ được xem là tác phẩm lớn nhất văn học Mỹ Latin thế kỷ XX, mà còn là thành tựu lớn nhất của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thế giới.

- Cũng cần phải thống nhất thêm rằng, văn học Mỹ Latin hậu hiện đại không chỉ có chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (chủ yếu viết bằng thể loại tiểu thuyết), mà còn rất nhiều trào lưu nghệ thuật khác nhau. Ở đây, chúng tôi lựa chọn “cái huyền ảo” trong văn học Mỹ Latin làm đối tượng khảo sát chính, với dụng ý ngoài chủ nghĩa hiện thực huyền ảo vốn lấy cái huyền ảo làm trung tâm thẩm mỹ, thì những trào lưu khác, thể loại khác (thơ, truyện ngắn, kịch) cũng có thể dùng làm tư liệu tham khảo thêm.

 

 

1.  Thực tại kì diệu

Không phải ngẫu nhiên, ngay trong lời mở đầu diễn từ Nobel với tựa đề Nỗi cô đơn của châu Mỹ Latin, G.G.Marquez đã dẫn ra hàng loạt hiện tượng kỳ diệu của tự nhiên tại Mỹ Latin. Hoặc chí ít, cái thực tại ở Mỹ Latin đã được nhà thám hiểm Antonio Pigafetta nói riêng và người châu Âu nói chung, phóng đại thành một thực tại đầy rẫy những kì dị, khác lạ, phi tự nhiên: “Trong đó ông kể rằng đã thấy những con lợn thiến có rốn ở đùi, những con chim không có móng vuốt, con mái đẻ trứng trên lưng con trống, và cả những con thú giống chim bồ nông, lưỡi không có, mỏ lại giống thìa. Ông đã kể thấy một con quái vật có đầu và tai la, mình lạc đà, chân hươu, tiếng hí như ngựa… Những biên niên sử về vùng đất của người Indian còn để lại cho ta vô vàn những thí dụ khác. Chẳng hạn như Eldorado, vùng đất huyễn tưởng mà chúng tôi đã háo hức đi tìm… Trong cuộc săn tìm suối nguồn trẻ mãi không già…” [5,707]. Như vậy, có thể thấy, cái huyền ảo trong văn học Mỹ Latin được ra đời, trước tiên dựa trên cơ sở hiện thực đầy những điều “kì lạ” và “kì diệu” đặc thù tại nơi này. Bản sắc Mỹ Latin của cái huyền ảo, trước tiên dựa vào cơ sở “phản ánh” cái hiện thực ấy. Do đặc trưng “phản ánh” hiện thực đặc thù này, nên văn học Mỹ Latin đã xây dựng được chủ nghĩa hiện thực huyền ảo mang bản sắc địa phương. Và sở dĩ chúng ta gọi trào lưu văn học lớn nhất của châu lục này là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (magical realism), chứ không phải là chủ nghĩa huyền ảo (magicalism) như đề xuất táo bạo của một số nhà nghiên cứu mới đây, là bởi, dù vận dụng nhiều thủ pháp có tính “huyền ảo hóa”, nhưng nền văn chương ấy vẫn gắn chặt với hiện thực, lấy hiện thực làm cơ sở để xây dựng nên cái kì diệu. Không phải ngẫu nhiên, mà A.Carpentier trong tuyên ngôn đầy thống thiết của mình cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, đã đưa ra thuật ngữ “cái thực tại kì diệu” (lo real maravilloso). Carpentier đã viết trong Vương quốc trần gian: “Thế giới của cái kì diệu chỉ trở thành hoàn toàn chân thật khi nó nảy sinh từ sự cải biến hiện thực một cách thần kỳ, từ sự lãnh hội sâu sắc hiện thực, từ sự soi sáng một cách khác thường hoặc đặc biệt có lợi của những kho tàng quý báu ẩn sâu trong hiện thực, từ sự khuyếch trương những phạm vi và những phạm trù của hiện thực…” [10,115].

Thực tại kì diệu tại Mỹ Latin – cơ sở đầu tiên tạo điều kiện cho sự ra đời của cái huyền ảo mang bản sắc địa phương có nhiều tầng nghĩa. Trước tiên, nó chỉ những đặc tính thiên nhiên phong phú, kì lạ, giàu tài nguyên tại mảnh đất này. Pablo Neruda trong diễn từ Nobel nổi tiếng của mình với tựa đề Hướng về thành phố huy hoàng, đã chỉ ra đó là một thực tại: “Mỗi người cảm thấy như bị cầm tù bởi chốn rừng sâu vô biên vô tận này… Tất thảy đó là thiên nhiên, lộng lẫy và bí ẩn, nhưng đằng sau nó ẩn náu sự đe dọa của giá rét, của tuyết, của sự truy đuổi. Tất cả ở đây nhằng nhịt vào nhau: rừng thâm u, sự nguy hiểm…” [5,567]. Chính sự uy nghiêm, âm u và trầm mặc đó của thiên nhiên đã thôi thúc nhà văn: “Chúng tôi cảm nhận được sự cần thiết phải lấp đầy các khoảng không của châu lục câm lặng bằng ngôn từ, và chúng tôi say mê công việc tạo nên những huyền thoại và đặt tên cho sự vật, hiện tượng” [5,574]. M.Asturias trong diễn từ Nobel với tựa đề Tiểu thuyết Mỹ Latin – chứng tích của một thời đại thì nhắc đến loài chim cenzontle có bốn trăm giọng hót khác nhau. Chính không gian thiên nhiên huyền ảo đó, đã được các nhà văn phản ánh vào trong tác phẩm. Hẳn chúng ta còn nhớ những cánh rừng nguyên sinh bạt ngàn mọc theo bờ sông Magdalena trong Tình yêu thời thổ tả (Marquez), nơi có những “con lợn biển với bộ vú khổng lồ của người mẹ đang cho các con bú và thường rên rỉ với tiếng khóc của người đàn bà đau khổ…” [Nxb Văn học, tr.511], cùng một bóng ma người đàn bà chết đuối vẫn thường hiện ra vẫy tàu đi vào những vũng nước xoáy nguy hiểm. Trong những truyện ngắn khác của Marquez, chúng ta có thể thấy sự kì diệu của thiên nhiên Mỹ Latin như biển tràn ngập mùi hương hoa hồng, dưới đáy biển có cả một làng gồm những ngôi nhà trắng trồng hàng triệu bông hồng (Biển của thời đã mất), những con tàu ma hiện ra trên bờ biển (Chuyến đi cuối cùng của con tàu ma), những cơn mưa tầm tã kéo dài đến sáu ngày làm vỡ những nấm mồ trong nghĩa địa đẩy những tử thi trôi lềnh bềnh trong nước (Độc thoại của Isabel ngắm mưa ở làng Macondo)… Trong những tác phẩm của Marquez, thường xuyên xuất hiện những nhân vật có tính huyền ảo, đó là những xác chết trôi lềnh bềnh trong nước, không phân hủy và dường như vẫn còn linh hồn. Xem lại tiểu sử của nhà văn, chúng ta có thể thấy những nơi ông sinh sống thời ấu thơ như Sucre, Aracataca đều là những vùng đất nhiều kênh rạch, sông nước. Không phải ngẫu nhiên, mà rừng và biển là hai không gian nghệ thuật đầy tính huyền ảo, thường được các nhà văn Mỹ Latin xây dựng trong tác phẩm, ứng với hai loại người và hai nền văn hóa là costenos (sống dọc bờ biển nhiệt đới, lai tạp, vui vẻ, mê tín, phóng khoáng) và cachacos (sống ở vùng trung nguyên và núi cao, thuần chủng, trang nghiêm). Chính điều kiện tự nhiên giáp biển, đầy rẫy kênh rạch và những cánh rừng nhiệt đới âm u, dãy Andes hùng vĩ và hiểm trở đã tạo điều kiện cho cái huyền ảo Mỹ Latin ra đời.

Mặc dù vậy, tính “kỳ diệu” của thiên nhiên Mỹ Latin hẳn nhiên là một diễn ngôn mang tính thực dân và hậu thực dân, bởi “cái khác”, sự “lạ” của thiên nhiên đó được nhìn dưới con mắt của người châu Âu, chứ không phải trong con mắt của người Indian bản địa. Sau khi khảo cứu nhiều tài liệu về sinh vật học, tự nhiên học, và đặc biệt là công trình xã hội học lịch sử nổi tiếng của Jared Diamond có tựa đề Súng, vi trùng và thép – Định mệnh của các xã hội loài người [4], chúng tôi đã giải mã được nhiều “hiện tượng huyền ảo” trong tự nhiên tại Mỹ Latin, cũng như chứng minh được sự “huyền ảo” ấy chẳng qua là bởi những đặc thù về thiên nhiên và động vật tại lục địa này nằm ngoài kinh nghiệm và sự hiểu biết của người châu Âu. Xem lại bài tường thuật của nhà thám hiểm người Italia A.Pigafetta (theo diễn từ Nobel của Marquez), chúng ta có thể thấy “những con lợn thiến có rốn ở đùi” rất có thể là loài lợn vòi Nam Mỹ, có tên khoa học là Tapirus terrestris – loài có cái mũi dài và có nhiều cá thể có vằn sọc chạy ngang cơ thể, tạo cảm giác như những cái rốn, đây là một trong những loài động vật hoang dã lớn nhất trong tự nhiên Mỹ Latin. Còn con quái vật “có đầu và tai la, mình lạc đà, chân hươu, tiếng hí như ngựa” đích xác là hai loài lạc đà không bướu Ilama và Alpaca. Theo Jared Diamond, hai loài lạc đà này có thể xem như gia súc lớn nhất mang tính bản địa tại Mỹ Latin, chúng là động vật thồ quan trọng tại nền văn minh Inca ở dãy Andes, chúng cho lông và sức kéo, nhưng lại sống gần như “bán hoang dã” xa nơi cư trú của con người [4,258]. Một hình tượng huyền ảo khác, cũng chỉ có thể ra đời trong thời hậu thực dân, đó là cái đuôi lợn loạn luân huyền thoại ám ảnh dòng họ Buendia trong Trăm năm cô đơn, và cuối cùng Aureliano thế hệ thứ bảy đã mang cái đuôi lợn ấy khi chào đời, kéo theo sự tuyệt diệt của cả thị trấn Macondo. Khảo cứu lại điều kiện tự nhiên Mỹ Latin, chúng ta thấy lợn (heo) có tên khoa học là Sus domesticus, không phải là một giống vật nuôi mang tính bản địa, giống như trường hợp loài ngựa tại đây, mặc dù hiện nay chúng rất phổ biến. Loài lợn vòi Nam Mỹ thì chưa được thuần hóa, mà chỉ sống hoang dã. Loài lợn (heo) theo J.Diamond vốn là vật nuôi được thuần hóa từ Trung Hoa và Tây Nam Á từ 8000 năm trước công nguyên, con đường loài lợn đến Mỹ Latin ắt hẳn theo chân những người thực dân châu Âu. Đọc lại lịch sử, theo Daniel Zohary, vùng “lưỡi liềm phì nhiêu” (Tây Nam Á) vốn là vùng thuần hóa được nhiều thực vật và động vật nhất, đã mở rộng các giống cây trồng và vật nuôi của nó đến Tây Ban Nha vào 5.200 năm trước công nguyên. Và hẳn rằng, loài lợn đã có một lịch sử phát triển lâu dài ở Tây Ban Nha nói riêng và châu Âu nói chung, và đã theo chân những nhà thực dân để đến Mỹ Latin. Do đó, cái đuôi lợn như một biểu tượng của sự tuyệt diệt giống nòi, sự loạn luân nhầm lẫn của những dòng họ, là một hình tượng huyền ảo vừa ám chỉ sự lạc hậu của những người bản địa, nhưng cũng là sự ám chỉ tai ương do những người thực dân mang đến trên mảnh đất Mỹ Latin. Huyền thoại về vùng đất hứa Eldorado – một thành phố hoàn toàn dát bằng vàng, về vùng đất có suối nguồn trẻ mãi không già, về những con gà mái mề chứa đầy vàng cám tại Cartanega… đều là những diễn ngôn huyền thoại do những người thực dân hư cấu nên về thiên nhiên Mỹ Latin, nhằm kích động lòng tham của những người thám hiểm, cũng như kêu gọi đầu tư tài chính cho các cuộc khai phá tại Tân thế giới từ phía vương triều Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Anh.

Tuy nhiên, thực tại kỳ diệu tại Mỹ Latin không đơn giản/thuần là điều kiện tự nhiên nhiều ưu đãi, hoang vu, mà nó còn đến từ hiện trạng chính trị, xã hội đầy bạo lực và bất công trên mảnh đất này. Một vùng đất mà diễn từ Nobel của Marquez đã đưa ra nhiều con số “ngoại cỡ” như: 20 triệu trẻ em bị chết trước khi đầy tuổi, nhiều hơn số trẻ em chào đời ở châu Âu từ 1970, 200.000 đã chết vì những toan tính cải cách trên toàn châu lục, một triệu người chạy khỏi Chile chiếm mười phần trăm dân số, cứ năm người Uruguay thì có một người bị lưu đày, hai mươi phút ở El Salvador có một người chạy tỵ nạn, tổng số người tỵ nạn và di cư tại Mỹ Latin nhiều hơn dân số Na Uy… Chính sự “khốc liệt đến tàn bạo” và phi lý đến cực điểm đó của tình hình chính trị, xã hội, đã tạo ra hình tượng những tên độc tài đầy huyền ảo trong văn học Mỹ Latin. Đó là đại tá Aurealino Buendia với tài tiên tri và tiếng khóc từ trong bụng mẹ (Trăm năm cô đơn – Maquez), là nhân vật huyền thoại Henri Christophe có thể hóa thân thành chim, thú dữ, côn trùng… và có thể tái sinh (Vương quốc của thế giới này – Carpentier)… Tất cả những tên độc tài đó, đều được xây dựng dựa trên những nguyên mẫu có thực, vốn là những kẻ nắm quyền bằng quyền lực quân sự và bàn tay sắt đẫm máu tại Mỹ Latin, những kẻ luôn bao phủ quanh mình những huyền thoại tội ác, cá tính kỳ dị và sự mê tín điên cuồng. Chúng ta có thể thấy hàng loạt ví dụ mà Marquez đã liệt kê ra trong diễn từ Nobel của ông: tướng A. Lopez de Santana – nhà độc tài ba lần cai trị Mexico từng tổ chức đám tang… cho cái chân phải bị cụt của chính mình; tướng M.Hernandez Martinez – kẻ từng giết ba mươi ngàn tá điền tại El Salvador, từng phát minh ra cách phát hiện thuốc độc bằng… con lắc, cũng như tạo ra phương pháp chống căn bệnh sốt tinh hồng nhiệt bằng cách… phủ giấy điều lên các bóng đèn đường; tướng G.G.Moreno – người cai trị như một vị vua tại Ecuador trong mười sáu năm, sau khi chết lại được diện quân phục với đầy đủ huân chương và cho thi thể… ngồi trên ghế… Hẳn những sự việc có thật đó cũng có tính kì dị, huyền ảo không thua những tác phẩm hư cấu. Và nếu như, một nhà văn nào đó đưa những sự kiện này vào tác phẩm, thì nói như Marquez: “là tất cả những sinh vật của cái hiện thực ngoài vòng cương tỏa ấy – chúng tôi chẳng cầu viện gì nhiều đến óc tưởng tượng” [5,701].

Hẳn chúng ta vẫn còn nhớ những sự kiện chính trị bi kịch diễn ra tại Colombia thế kỷ trước, như cuộc nội chiến Một ngàn ngày (1899 – 1902) giữa hai đảng Tự do và Bảo thủ, đã làm chết 100.000 người, vụ thảm sát hàng trăm công nhân đồn điền chuối được lịch sử gọi là Slaughter 28, do chính quyền đảng Bảo thủ chỉ đạo vào tháng 10 năm 1928 (quý vị muốn có thêm thông tin xin xem trực tiếp tiểu luận của J.L. Anderson [6], vụ ám sát chính trị gia đảng Tự do J. Eliécer Gaitan (4/1948) của đảng Bảo thủ, kéo theo cuộc bạo loạn có tên La Violencia, mà theo J. Lee Anderson trong The power of Gabriel Garcia Marquez, đã làm chết từ 200.000 đến 300.000 người [6]… Tất cả những sự kiện đó đã được Marquez đưa vào tác phẩm của mình và huyền ảo hóa chúng thành những huyền thoại của mảnh đất này. Trong Trăm năm cô đơn, cuộc nội chiến Một ngàn ngày thì gắn với hình tượng trung tâm là đại tá Aureliano Buenida có tài tiên tri, vụ thảm sát công nhân đồn điền chuối được “cường điệu” hóa thành ba ngàn công nhân bị giết và xác họ được chất đầy trong những toa tàu hỏa nhằm chạy ra bờ biển đổ phi tang, vụ ám sát người dân sau vụ biểu tình của công nhân đồn điền chuối được “huyền thoại hóa” bằng sự kiện mật vụ đảng Bảo thủ ra tay ám sát 17 người con trai ngoài giá thú của đại tá A.Buendia, những người có dấu thập tro không bao giờ phai ở trán, sau khi ngài tuyên bố sẽ một lần nữa khởi nghĩa cùng những người con trai. Do đó, cái huyền ảo trong văn học Mỹ Latin không đơn thuần là một thủ pháp nghệ thuật có tính thuần túy “vị nghệ thuật”, mà nói như M.Asturias, đó là một “vũ khí đấu tranh”, là “ngọn cờ yêu nước”, không chỉ bằng “những hồ sơ lạnh lùng”, mà chính là sự nghệ thuật hóa hiện thực thành những diễn ngôn “có khả năng gây ấn tượng và thuyết phục” [5,503-506,]. “Đó là thứ tiểu thuyết kiên định và trung thành với sự nghiệp tinh thần của con người, với nắm đấm của công nhân chúng tôi, với mồ hôi của nông dân chúng tôi, với cái đau của trẻ thiếu ăn của chúng tôi…” [5,509]. Ngoài ra, tính chất “ngoại cỡ” trên phương diện chính trị - xã hội tại Mỹ Latin còn được các nhà hiện thực huyền ảo xây dựng dựa trên nhiều cơ sở, đó là cuộc xung đột giữa nông thôn và thành thị, giữa nông thôn với tư bản xâm lược, sự hi sinh đời sống tinh thần vì nhu cầu vật chất (quan điểm của Edwin Williamson trong History of Latin America và của C.Fuentes trong Cái chết của Artemio Cruz), là một khuynh hướng “phê phán xã hội” mang đặc trưng dân tộc học của châu lục (quan điểm của C.Brotherston), là hiệu ứng tự do từ cuộc cách mạng Cuba (quan điểm của Marquez, R.Despestre)… Tất cả những cơ sở phong phú đó trong thực tiễn chính trị, xã hội Mỹ Latin đã quy định diện mạo và tính chất của cái huyền ảo trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, do đó, dù bay bổng và lãng mạn đến chừng nào, cái huyền ảo trong văn học Mỹ Latin vẫn luôn mang tính “chiến đấu”, gắn bó với những vấn đề thời sự, với đặc trưng thiên nhiên và số phận lịch sử của con người tại mảnh đất này.

2.  Những giấc mơ hỗn chủng

Cái huyền ảo trong văn học Mỹ Latin có cơ sở trực tiếp từ tự nhiên, hoàn cảnh chính trị, xã hội bản địa đặc thù, nhưng những đặc trưng văn hóa mới là điều kiện mang tính chiều sâu khẳng định giá trị và bản sắc đích thực cho chủ nghĩa hiện thực huyền ảo. Có ba phương diện văn hóa cơ bản đã kiến tạo diện mạo và mang lại cảm hứng cho các nhà văn sáng tạo nên cái huyền ảo tại Mỹ Latin, đó là văn hóa folklore, đặc trưng ngôn ngữ và sự hỗn chủng, lai tạp giữa các chủng người. Đầu tiên, cần khẳng định rằng, cái huyền ảo của văn học Mỹ Latin được xây dựng dựa trên phương thức tư duy mơ mộng kiểu da đỏ và nền tảng văn hóa folklore hết sức phong phú, đặc biệt của mảnh đất này. M.Asturias từng cho rằng, “cái hiện thực khác” trong chủ nghĩa hiện thực huyền ảo thực chất là hiện thực được “hòa tan” trong ngụ ngôn và huyền thoại, trong những bức vẽ và ngôn ngữ tượng hình của người Maya và Aztec, trong những câu chuyện kể truyền miệng của các “cuicanimes” (người kể chuyện hát rong)… tạo ra một lịch sử có “tính chất tiểu thuyết”. Carpentier cũng nhấn mạnh đến vai trò của những áng thần thoại như Macadan ở Haiti, Atuay ở Cuba… trong việc hình thành văn chương kỳ diệu tại Mỹ Latin. P.Neruda thì chú ý đến những nghi lễ và phong tục địa phương, như tục thả tiền và thức ăn vào một cái đầu bò đặt giữa rừng rồi nhảy múa quanh nó nhằm mục đích giúp cho những linh hồn và con người lạc lối giữa rừng sâu được cứu rỗi, một hình thức gần như hiến tế trong văn hóa dân gian Mỹ Latin. J.Cortazar xem “cái hiện thực” trong văn học Mỹ Latin là một “hiện thực ẩn tàng”, nơi chứng kiến tâm linh hòa quyện với hiện thực do sự ảnh hưởng mạnh mẽ của folklore lên quá trình sáng tạo cái huyền ảo. Nhà nghiên cứu Ortiz Aponte trong Cái siêu nhiên trong văn xuôi Mỹ Latin cũng từng xem cái huyền ảo được ra đời trực tiếp từ “tín ngưỡng cụ thể, những nghi lễ, huyền thoại, những cách thờ cúng còn giữ lại được cho đến ngày nay” [10,120]. Theo Phạm Quang Trung: “Nhiều nhà nghiên cứu Nga tìm thấy sự cách tân mỹ học của tiểu thuyết hiện đại Mỹ Latin ở chỗ, những nhà sáng tạo của nó đã hướng tới tư duy thần thoại” [9,93]. Chính lối tư duy thần thoại (mythical) này đã giúp nhân vật, người kể chuyện và qua đó, cả người đọc không có cảm giác sợ hãi và khiếp phục khi đối diện và ứng xử với cái huyền ảo. Chính vì thế, cái huyền ảo trong văn học Mỹ Latin gần gũi hơn với cái thần thoại, mà có một khoảng cách xa với cái kì ảo, trên phương diện tâm lý và thẩm mỹ.

Mặt khác, phương thức tư duy bằng hình ảnh mang tính mơ mộng của thổ dân da đỏ, luôn có xu hướng xem cái huyền ảo như cái bình thường, chính “thói quen xem cái hoang đường như cái thường nhật của cư dân bản địa” [3,28] cũng đã sáng tạo một thực tại kết hợp cả cái thực và cái ảo. Trong tiểu luận Về chủ nghĩa hiện thực thần kỳ của M.Asturias, nhà văn đã đưa ra những ví dụ điển hình cho lối tư duy này, người da đỏ không nhìn nhận việc một người không may ngã ngựa đập đầu vào đá, hoặc một thiếu phụ rớt xuống vực sâu trong khi đi lấy nước, là những sự kiện có tính hiện thực, mà họ nghĩ rằng cái vực nước đã chụp bắt người thiếu phụ và tảng đá đã réo gọi người đàn ông ngã ngựa [3,29]. Người Mỹ Latin thời hiện đại, không cần là người da đỏ bản địa, vẫn tư duy lối hình tượng tâm linh này. Aida – một người em gái của Marquez từng kể lại cho J.L.Anderson: “Nó sẽ hiện hữu nếu bạn có niềm tin”, Aida nói. Ligia (một người em gái khác của Marquez – PTA) sau đó nói với tôi rằng tất cả những điều này đã từng được nêu trong Kinh Thánh. Khi những kẻ đồng lõa với Satan bị bại trận, cô giải thích, chúng đã không còn sở hữu cơ thể của mình, nhưng linh hồn của chúng vẫn còn tồn tại. Một số kẻ trong số chúng bị biến trở thành lợn, nhưng những kẻ khác vẫn trôi nổi nhằm chờ chực sự sơ hở trong con người, khi chúng tìm thấy một con người yếu đuối, chúng sẽ mang họ ra đi... Gabo (Marquez – PTA) viết về thế giới đó, cái mà chúng ta gọi là chủ nghĩa hiện thực huyền ảo, thật ra tất cả đều là sự thực, chúng tôi sống trong lòng thế giới đó” [6]. Chính vì vậy, trong tiểu thuyết hiện thực huyền ảo Mỹ Latin, cái huyền ảo xuất hiện một cách bình thản, tự nhiên, không hề được dự báo trước, cũng không hề mang lại sự thay đổi giọng điệu của người trần thuật, sự thay đổi về cảm xúc và ý thức của những nhân vật xung quanh nó. Người kể chuyện mang giọng điệu của những người kể chuyện dân gian, luôn xem cái huyền ảo cũng “tự nhiên” và “bình thường” như mọi sự kiện thường nhật. Khi nàng Remedios – Người đẹp bay về trời cùng những chiếc chăn thô, khi dòng máu của Jose Arcadio Buendia trườn dài trên đường phố về nhà báo tin cái chết cho mẹ, khi bóng ma Melquiades ẩn hiện trong ngôi nhà của dòng họ Buendia, khi Aureliano thế hệ thứ bảy ra đời với cái đuôi lợn huyền thoại trong Trăm năm cô đơn, tất cả các nhân vật đều cảm thấy đó là một sự kiện tự nhiên, và người kể chuyện cũng không hề thay đổi giọng điệu hay trạng thái cảm xúc. Bởi vì, trong cuộc sống thường nhật, họ cũng thường xuyên mang lối tư duy đặc thù đầy hình ảnh như người da đỏ, tức nhìn nhận mỗi sự kiện bình thường dưới ý nghĩa và sự quy định của cái huyền ảo, hoặc ngược lại, cái huyền ảo chẳng qua là cái hiện thực được nhìn từ một góc độ khác mà thôi.

Thứ hai, chúng tôi muốn nói đến đặc trưng ngôn ngữ trong văn hóa Mỹ Latin. Sự đa dạng văn hóa tại Mỹ Latin vừa là tiền đề chủ yếu, lại vừa là hệ quả tất yếu của sự hợp lưu ngôn ngữ trên mảnh đất này. Asturias từng xem nhạc tính trong ngôn ngữ tiểu thuyết Mỹ Latin được ra đời dựa trên sự hòa quyện của nhiều thứ ngôn ngữ: “Cuộc phiêu lưu tiếp tục trong sự hợp lưu của các ngôn ngữ. Trong những ngôn ngữ mà người dân sử dụng, tiêu biểu là những ngôn ngữ da đỏ, có sự pha trộn của các ngôn ngữ của châu Âu và phương Đông do những người nhập cư mang đến châu Mỹ” [5,513]. Sự hợp lưu về ngôn ngữ ấy, đã quy định diện mạo hình thức văn xuôi chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin luôn đầy hình ảnh, dày đặc sự phóng khoáng, các thủ pháp liệt kê, sự lỏng lẻo về cú pháp và các quy định về mặt thể loại. Trong một nền ngôn ngữ mới mẻ, lai tạp và mang tính carnaval, nhà văn không bị câu nệ vào tính mực thước, niêm luật chặt chẽ, những khuôn sáo và quy phạm của thể loại, mà được phép tự do sáng tạo, tự do đổi mới, tự do lai ghép vô vàn những dạng thức ngôn ngữ khác nhau: từ xưng hô thường nhật, từ tục, tiếng lóng, ngoại ngữ, những cấu trúc câu và từ bất tương xứng, phi ngữ pháp… Bản thân một nhà văn tầm cỡ như Marquez thường xuyên viết sai chính tả, đó cũng là điểm mạnh nhưng cũng là sự ám ảnh của đời ông, câu văn và hành văn của M.V.Llosa, Borges thì mang tính mê lộ và dòng ý thức đậm nét, với những trường đoạn dài liên miên không cần chấm phẩy, sự chuyển dịch không – thời gian ngẫu nhiên, sự thay đổi chủ thể trần thuật không báo trước và hết sức đột ngột… Nhưng cấu trúc của ngôn ngữ Mỹ Latin là gì? Theo chúng tôi, trước tiên, đó là thứ ngôn ngữ có hình thức là tiếng Tây Ban Nha, nhưng bản chất tư duy lại mang đặc trưng của thứ ngôn ngữ Indian bản xứ, đầy mơ mộng và hình ảnh, lại được lai ghép với tính khẩu ngữ, phồn thực của ngôn ngữ người da đen, cộng với thứ ngôn ngữ đầy triết lý, mang chiều sâu tư tưởng của người châu Á. Nhà thơ Octavio Paz trong diễn từ Nobel của mình đã nhận định, đó là thứ “ngôn ngữ cấy”, tức “cấy” tiếng Tây Ban Nha lên mô hình tư duy ngôn ngữ bản địa. “Chúng (ngôn ngữ Tây Ban Nha – PTA) bám rễ tại những miền đất mới này và trong quá trình phát triển ở những xã hội châu Mỹ, chúng đã biến đổi. Đó cũng vừa là cái cây ấy song cũng lại vừa là một cái cây khác… mối quan hệ đặc biệt một lúc vừa gắn kết vừa cách ly chúng tôi khỏi truyền thống châu Âu” [5,859]. Paz cho rằng, nhờ có đặc trưng ngôn ngữ ấy, nên người Mỹ Latin vừa là người châu Âu, lại vừa không phải. Nói cách khác, đó là một ngôn ngữ châu Âu ngoài châu Âu, châu Âu ngoại biên, không chính thống. Một khi đã là ngoại biên và phi chính thống, thì tính vận động, đổi mới của ngôn ngữ lại càng có cơ hội phát triển. Và cũng nhờ sự tương hợp về mặt ngôn ngữ với châu Âu cựu lục địa, nên văn học Mỹ Latin có điều kiện tiếp thu và kế thừa một cách tự nhiên, thuận tiện những thành tựu văn học hiện đại, mà cụ thể là tiểu thuyết mới và chủ nghĩa siêu thực. Ngoài ra cần phải kể đến điều kiện thuận lợi do gần như cả Mỹ Latin đều dùng chung một ngôn ngữ (tiếng Tây Ban Nha), chỉ có Brasil dùng tiếng Bồ Đào Nha và Haiti dùng tiếng Pháp, nên việc hình thành một trào lưu, sự trao đổi về mặt đời sống và quan niệm sáng tạo của các nhà văn cũng hết sức dễ dàng. Do đó, có thể nhiều nhà văn có quốc tịch chính trị khác nhau, nhưng trong quan niệm sáng tạo và hình thức ngôn ngữ, họ đích thực là những người “đồng văn, đồng chủng”.

Nhưng thật ra, tiếng Tây Ban Nha của những người thực dân cũng là thứ tiếng lai ghép, mang tính ngoại biên ở châu Âu nếu so với tiếng Anh hay tiếng Latin cổ. O.Paz từng nhận định bán đảo Iberia (Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha) là vùng đất: “với nhiều nền văn minh khác nhau và những quá khứ khác nhau cùng tồn tại: một sự lạ đời hút dẫn những gì không giống mình” [5,861]. Một vùng đất vốn dĩ trong quá khứ là những tiểu vương quốc độc lập, có sự khác biệt về ngôn ngữ và văn hóa địa phương rất rõ nét. Vùng đất ấy cũng từng bị người Visigoth, người Arap, người Do Thái cai trị hoặc áp đặt tư tưởng. Cho đến nay, từng vùng tại Tây Ban Nha như xứ Catalan, xứ Adalucia, xứ Basque… đều có một nền tảng văn hóa và ngôn ngữ bản địa riêng biệt. Chính đặc tính lai ghép, lỏng lẻo, chấp nhận những “cái khác” đó của ngôn ngữ Tây Ban Nha (thực dân), nên ngôn ngữ Mỹ Latin (thuộc địa) lại càng có điều kiện sáng tạo, đổi mới và bay bổng. Thứ ngôn ngữ “vừa là” (châu Âu), “vừa là” (phi châu Âu) này thực ra đã có nhiều cách tân mạnh mẽ, tạo dựng những thành tựu (như thể loại truyền thuyết đen – black legend) có sự tác động trở lại văn học mẫu quốc. Đến nỗi trong thời thuộc địa, chính quyền thực dân từng ra sức cấm những truyện hư cấu, bởi tính địa phương và sức mạnh lan tỏa văn hóa mạnh mẽ của nó.

Thứ ba, cần nhắc đến tính hỗn chủng văn hóa, hay còn được gọi phổ biến là nền văn hóa lai tại Mỹ Latin. Như chúng ta đã biết, cư dân Mỹ Latin thời hậu thuộc địa là một thực thể hỗn chủng giữa người da trắng thực dân, người da đỏ bản địa, người da đen có nguồn gốc nô lệ và người da vàng nhập cư. Tất cả những chủng người này đa phần đã bị lai tạp trong quá trình sinh sống tại Mỹ Latin, tính “thuần chủng” biến mất để nhường chỗ cho tính “hỗn chủng”. Trong văn học Mỹ Latin, chúng ta có thể thấy quen thuộc hàng loạt từ nhằm chỉ những người lai (criollos), hoặc có thân phận “như người lai”: zambo – lai giữa người da đen và da đỏ, mestizo – lai giữa người da trắng và da đỏ, cholo – người da đỏ nhưng đã được đào tạo, creole – người da trắng nhưng sinh ra và sống tại châu Mỹ… Quá trình lai tạp chủng tộc này, tất yếu sẽ dẫn đến lai tạp văn hóa, tạo điều kiện cho cái huyền ảo ra đời. Kyto giáo của người da trắng, với tư cách một tôn giáo thực dân và là công cụ quản lý nô lệ thời thuộc địa, đã chiếm vai trò tôn giáo chính thống trong xã hội. Nhưng vai trò của Kyto giáo tại Mỹ Latin khác ở châu Âu, khi nó buộc phải thỏa hiệp với tín ngưỡng đa thần giáo của người da đỏ bản địa và người da đen nô lệ. Việc đa thần giáo bản địa cùng lối tư duy tâm linh của người da đỏ vẫn quy định thế giới nghệ thuật của tác phẩm, đã giúp cho văn học Mỹ Latin tự do sáng tạo ra hệ thống hình tượng huyền ảo vượt/ngoài khuôn khổ Kyto giáo. Những huyền thoại của người Maya trong tiểu thuyết Người ngô của Asturias là một ví dụ điển hình, ngoài ra có thể Những con chim không có tổ (C.M de Turner), Dân làngTrên đường phố của Jorge Icaza... Trong khi đó, trong Vương quốc trần gian của Carpentier, cùng những tác phẩm của J.Amado, văn hóa tâm linh của người da đen lại được khắc họa. Tư tưởng của O.Paz là một case điển hình cho sự lai tạp văn hóa và tư tưởng, đọc ông ta có thể thấy tư tưởng nhị nguyên của đạo Hindu cùng “chủ nghĩa thần bí phương Đông”, Thiền (châu Á), tư tưởng của chủ nghĩa Siêu thực (châu Âu), văn hóa dân gian của người da đỏ (châu Mỹ)… J.L.Borges lại là một trường hợp điển hình khác cho sự “hỗn chủng” văn hóa trong văn học Mỹ Latin. Borges là người chịu ảnh hưởng của triết học châu Âu, qua tư tưởng qua Hume, Nietzsche, Schopenhauer và Berkeley, nhưng ông là người am hiểu thiền và văn học phương Đông, gần gũi với văn hóa của người da đỏ bản địa, nhà văn có thể sử dụng tiếng Đức, Anh, Pháp, Tây Ban Nha. Ông là một hiện tượng văn học có tính toàn cầu, đặc trưng và là kết tinh điển hình nhất cho sự hỗn chủng về mặt văn hóa của các nhà văn tại châu Mỹ Latin.

Tuy đa dạng và có một lịch sử đấu tranh gay gắt, đến mức Asturias từng xem tiểu thuyết huyền ảo Mỹ Latin là sự thách thức tòa án dị giáo (đại diện cho văn hóa thực dân da trắng) nhằm thực hiện “giải phóng”, nhưng ngày nay, văn hóa “hỗn chủng” đã trở thành một thực thể thống nhất, hài hòa. Nơi mọi giá trị tâm linh thực hiện cuộc “lai phối” nhằm sinh hạ một nền tảng văn hóa đặc thù, vừa nhất thần vừa đa thần, vừa duy trí vừa biểu cảm, vừa phồn thực vừa nghiêm trang, vừa hài hước vừa lãng mạn, vừa bác học vừa dân gian. Theo Edwin Williamson trong Lịch sử châu Mỹ Latin, tính “đa nguyên văn hóa” (cultural pluralism) đã dần thay thế cho chế độ gia trưởng: “Mỹ Latin buộc phải thừa nhận nó dưới các hình thức pha trộn văn hóa khác nhau của nó và ngày nay, cuối cùng, nó trở nên không thể khước từ sự pha trộn văn hóa” [16,94]. Isabel Allende cũng đồng ý với quan điểm này với nhận định: “Những người này – người da đỏ, người châu Phi, châu Âu, châu Á – tất cả hợp chủng với nhau, cùng đổ mồ hôi, nước mắt, yêu thương, sinh ra dưới cùng một mặt trời và chết trên cùng một mặt đất. Cuối cùng họ đều trở thành những criollos, hòa hợp cả huyết thống và chủng tộc. Đối với tôn giáo cũng vậy, thế nên các thần thánh cũng cùng tồn tại với nhau; cuối cùng, thần Rắn Giắt Lông, thần Chim Đuôi Sao cũng lấy tên thánh La Mã, trong khi Đức mẹ Đồng Trinh thì đeo chuỗi hạt của người da đỏ và khoác áo choàng của người châu Phi…” [3,252]. Cái quá khứ thập tự chinh của Cơ đốc giáo đến tân thế giới đã nhường chỗ cho một nền văn hóa mở có tính lai ghép, nhưng là một thực thể hữu cơ có bản sắc riêng. Tất nhiên, mối quan tâm của từng nhà văn cụ thể đến một nền tảng văn hóa là có sự đậm – nhạt khác nhau. Chúng ta có thể thấy M.Asturias thường hướng về nền tảng văn hóa người da đỏ bản địa, J.Amado lại có mối quan tâm sâu sắc đến văn hóa người da đen, Borges và O.Paz thường hướng về văn hóa phương Đông, Marquez mặc dù thường tự nhận là người Costenos (theo đảng Tự do, sống ven bờ biển và có sự hỗn chủng văn hóa và huyết tộc) nhưng trong vô thức sáng tạo, thường để lộ trên văn bản là người lấy văn hóa da trắng làm trung tâm. Chúng tôi đã phân tích kỹ đặc trưng vô thức sáng tạo ấy trong tiểu thuyết Marquez ở một tiểu luận khác, xin xem [2]. Mặc dù vậy, sự hòa hợp, hỗn chủng về mặt văn hóa vẫn được biểu trưng ngay từng tác gia, từng tác phẩm, từng hình tượng, không ai có thể đứng riêng lẻ thuộc về một nền văn hóa. Đọc Trăm năm cô đơn, chúng ta có thể thấy hình ảnh Remedios bay về trời mang dấu ấn Kinh thánh, như một thiên thần quay về với thiên đàng, trong khi đó, hình tượng hồn ma người Digan Melquiades có tài tiên tri và viết bằng tiếng Phạn mang dấu ấn Đạo giáo và Balamon, sự kiện Aureliano Segundo càng làm tình nhiều với Petra Cotes thì gia súc càng sinh sôi lại gắn với tín ngưỡng phồn thực của người da đen, việc hồn ma P.Aguilar ẩn hiện, dòng máu Jose Arcadio Buendia trườn dài trên phố về nhà… lại mang đặc trưng tư duy hình tượng tâm linh của người da đỏ. Tất cả những yếu tố huyền ảo đó, dù có nhiều cội nguồn văn hóa khác nhau, nhưng đã được kết hợp hòa quyện trong thế giới nghệ thuật đầy đặc sắc của tác phẩm.

Từng có ý kiến cho rằng, cái huyền ảo trong văn học Mỹ Latin đại diện cho một thực trạng lạc hậu văn hóa, văn hóa lùn. Bởi cái huyền ảo đơn thuần là một sự mê tín, khi văn chương vẫn giữ nhiều hơn chức năng của chính nó trong xã hội, tức văn chương đồng thời đảm nhận những chức năng của các bộ môn khoa học xã hội khác như xã hội học, sử học, triết học, văn hóa học… Tất nhiên, gốc gác ra đời của các tác phẩm đầu tiên của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo (của Andrade, Pietri) nằm trùng vào thời điểm lịch sử nhìn chung văn hóa Mỹ Latin còn lạc hậu (khoảng thập niên 50 thế kỉ XX). Tuy nhiên, những thành tựu đỉnh cao của nó, qua các sáng tác của Borges, Marquez, Asturias, Carpentier, Llosa… lại là những đỉnh cao của văn học hiện đại và hậu hiện đại thế giới, cả trên phương diện tư tưởng, nội dung, và phương diện hình thức thi pháp. Những nhà văn như Borges, Asturias, O.Paz đồng thời là những nhà tư tưởng, trong khi đó, những người như Carpentier, Cortazar xứng đáng là những nhà lý thuyết văn học, còn những người như Marquez, C.Fuentes và Llosa lại là những bậc thầy văn chương nhân loại, những người cách tân thi pháp tiểu thuyết và sáng tạo nên những mô thức trần thuật mê lộ tân kỳ nhất trong thời đại của chúng ta. Chúng tôi sẽ làm rõ hơn những đặc trưng thi pháp và thủ pháp của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin trong phần sau. Một vấn đề tư tưởng khác liên quan đến nền tảng văn hóa tại Mỹ Latin với sự ra đời và vai trò tạo cảm hứng cho cái huyền ảo, đó là chủ nghĩa Marx. Đây là một vấn đề còn nhiều mâu thuẫn, khi một số nhà nghiên cứu xem sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là hệ quả trực tiếp từ chủ nghĩa Marx, thông qua hoạt động thực tiễn của các cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mà đặc biệt là cuộc cách mạng Cuba. Những nhà nghiên cứu như Perus, Poust, Despestre và những nhà văn như P.Neruda, G.Marquez, C.Fuentes… là những người tin theo hướng này. Perus với phát ngôn tiêu biểu: “Sự nở rộ của văn xuôi Mỹ Latin và nhất là sự thành công của nó ở châu Âu đã gắn bó mật thiết với thắng lợi của cách mạng Cuba..” [10,122]. Theo hướng ngược lại, một số nhà nghiên cứu xem sự ra đời của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo là sự khủng hoảng của chủ nghĩa Marx – một hệ hình triết học có ảnh hưởng lớn tại Mỹ Latin, nó thể hiện khủng hoảng tính thực tại (duy vật biện chứng) mà hệ triết học này đã nỗ lực xây dựng. Edwin Williamson trong Lịch sử Mỹ Latin viết: “Ngay cả như vậy, trong thập kỷ 80 chủ nghĩa Marx như một hệ tư tưởng đã bị khủng hoảng sâu sắc ở Mỹ Latin, như là ở một phần còn lại của thế giới… toàn bộ hệ thống kế hoạch hóa nhà nước này đang có vấn đề, và sự xem xét lại đã xảy ra ở hai nước Trung Quốc và Liên Xô…” [10,65-86]. Chúng ta cũng từng thấy qua tiểu sử của Marquez và O.Paz, sự nhiệt tình, tin tưởng vào chủ nghĩa Marx giai đoạn đầu, nhưng về cuối đời, họ tỏ ra mâu thuẫn, bi quan và thất vọng. Ở đây, theo quan điểm của chúng tôi, triết học Marx cũng giống như vai trò của Kyto giáo trong cơ cấu văn hóa Mỹ Latin, luôn có tính hai mặt. Nếu như Kyto từng là một tôn giáo có tính thực dân, là công cụ cai trị về mặt tinh thần của người da trắng, là sự cưỡng bức và đồng hóa tín ngưỡng mà người bản địa phải gánh chịu, thì đồng thời, tôn giáo này cũng giữ vai trò khai sáng văn hóa Mỹ Latin, các trường học đầu tiên trên mảnh đất này đều do đạo Kyto lập ra, và người bản địa đã được đạo Kyto hướng đến sự văn minh (chữ viết), khoa học (y tế) và những giá trị nhân đạo (bỏ các tục ăn thịt người). Cả hai đảng Tự do và Bảo thủ tại Colombia dù đấu tranh với nhau dựa trên hệ trục chống (Tự do) và ủng hộ (Bảo thủ) đối với Kyto giáo, nhưng thực chất, họ đều đi lễ nhà thờ và tặng nhau Kinh Thánh, một đặc điểm văn hóa trong Tình yêu thời thổ tảTrăm năm cô đơn (Marquez) từng khắc họa. Chúng tôi đã có một tiểu luận riêng về đặc trưng này, xin xem thêm [2]. Quay lại vai trò của chủ nghĩa Marx, theo chúng tôi, về mặt thực tiễn và cảm hứng sáng tạo, chủ nghĩa Marx tại Mỹ Latin đã tạo điều kiện cho sự ra đời của cái huyền ảo. Nếu ta xem cái huyền ảo của Mỹ Latin là một sản phẩm bản địa, xuất phát từ cội nguồn văn học folklor của người dân địa phương, chống lại tư tưởng “dĩ Âu vi trung” của những người quý tộc và (tân) thực dân, thì triết học Marx chính là nền tảng triết học chính cổ vũ cho phong trào giải phóng dân tộc, đề cao văn hóa dân gian, tạo cảm hứng cho những cách tân để tạo ra một thực tại kỳ diệu trong văn học. Tuy nhiên, bản thể triết học Marx lại mang tính duy lý, đề cao tính thực tại và thực tiễn, đi ngược lối quan niệm “duy tâm”, đa thần giáo đầy chất huyễn tưởng và mơ mộng của người Mỹ Latin bản xứ. Hơn nữa, sự thất bại của một số chính quyền cánh tả tại Mỹ Latin và thế giới cả trên phương diện gìn giữ sự lãnh đạo (thất bại của đảng Tự do sau cuộc chiến Một ngàn ngày tại Colombia, sự tan vỡ của Liên Xô, Đông Âu), và cả trên phương diện chưa tạo ra những bước nhảy vọt về kinh tế, khoa học, xã hội như kì vọng ban đầu (trường hợp Cuba), đã tạo ra sự hoang mang về mặt tư tưởng. Các nhà văn cảm thấy tính thực tại bị đánh mất, tất cả chỉ là một mê lộ, lịch sử là sự xoay vòng, và cái huyền ảo lại được bổ sung một chiều kích tư tưởng mới. Tuy nhiên, truy nguyên đến tận cùng trên phương diện bản thể triết học, cái huyền ảo trong văn học Mỹ Latin không đi ngược lại triết học Marx, sự thất vọng chỉ diễn ra ở sự áp dụng, hiệu quả thực hành triết học Marx trong thực tiễn chính trị tại Mỹ Latin và một vài nơi khác. Về cơ bản, cái huyền ảo thật ra chống lại triết học thực chứng – “lực lượng tri thức thống trị ở Mỹ Latin nửa cuối thế kỷ XIX” [10,241].

Octavio Paz – nhà tư tưởng sáng tác thi ca của văn học Mỹ Latin từng cho rằng, châu Mỹ là một sự cụ thể hóa giấc mộng của người châu Âu, một “tân thế giới” cho loài người với tư cách là một “miền đất hứa”. Vùng đất ấy trong bản chất đã là huyền ảo, vì nó thoát khỏi sức nặng và tính quy phạm của nền văn hóa châu Âu. Và châu Mỹ chỉ tồn tại nếu nó là một xứ không tưởng. “Người ta phải nói đến sự phát minh, hơn là sự khám phá ra châu Mỹ… Và cái mà người châu Âu khám phá khi họ chạm đến những miền đất này là giấc mộng lịch sử của chính họ…” [8,242]. Như vậy, bản chất của châu Mỹ nói chung và Mỹ Latin nói riêng, ngay từ khi chưa được tìm ra bởi người châu Âu, đã tồn tại với tư cách cái huyền ảo trong giấc mơ của loài người. Một thế giới mới, nơi chứng kiến sự phục sinh của con người tại một mảnh đất địa đàng đầy huyễn mộng. Nhưng, Mỹ Latin không đơn thuần là giấc mộng của châu Âu, nó “bây giờ đã thoát khỏi lịch sử châu Âu, thoát khỏi sức nặng của truyền thống” [8,243] nhằm tạo/xác lập một bản thể văn hóa riêng cho chính mình.

 

Tài liệu tham khảo

1.    Phan Tuấn Anh (2013), “Đặc trưng yếu tố huyền ảo hậu hiện đại trong văn xuôi G.G.Marquez”, in trong sách Văn học hậu hiện đại – Lý thuyết và thực tiễn, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội, tr.253 – 266.

2.    Phan Tuấn Anh (2013), “Cảm quan văn hóa và tôn giáo trong tiểu thuyết "Tình yêu thời thổ tả" của G.G.Marquez”, Tạp chí Khoa học Đại học Huế, Tập 72A, Số 3/2012, tr.7 - 18.

3.    Lê Huy Bắc (2009), Chủ nghĩa hiện thực huyền ảo & Gabriel Garcia Marquez, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

4.    Jared Diamond (2007), Súng, vi trùng và thép – Định mệnh của các xã hội loài người, Nxb Tri thức, Hà Nội.

5.    Đoàn Tử Huyến (Biên soạn) (2006), Các nhà văn giải Nobel, Nxb Giáo dục, Hà Nội.

6.    Anderson Jon Lee (1999), “The Power of Gabriel García Márquez”, The New Yorker Journal, 27/September/1999, New York, USA.

7.    G.G.Marquez (2007), Truyện ngắn tuyển chọn, Nxb Văn học, Hà Nội.

8.    Octavio Paz (1998), Thơ ca và tiểu luận, Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng.

9.    Phạm Quang Trung (2011), “Văn xuôi mới Mỹ Latin”, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 8/2011, tr.84 – 127.

10.  Viện thông tin khoa học xã hội (1999), Văn học Mỹ Latin, Thông tin khoa học xã hội, Hà Nội.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 3/2014

 

 

Các tin đã đưa ngày: