Biểu tượng trong hệ thống văn hóa (20/03/2013)

Là cơ chế quan trọng của ký ức văn hóa các biểu tượng lưu truyền các văn bản, các sơ đồ chuyện kể, và các cấu tạo kí hiệu khác, từ lớp văn hóa này sang lớp văn hóa khác. Các bộ biểu tượng bất biến xuyên suốt lịch đại văn hóa trên mức độ lớn thực hiện chức năng của các cơ chế thống nhất văn hóa: trong khi thực hiện chức năng kí ức văn hóa về chính mình chúng không để cho văn hóa tan rã thành các lớp đồng đại rời rạc. Sự thống nhất của bộ biểu tượng cơ bản chiếm ưu thế và tính lâu dài của đời sống văn hóa của chúng trên mức độ lớn đã quy định các ranh giới dân tộc và phi thực tại của các nền văn hóa.

Liên văn bản – sự xuất hiện của khái niệm về lịch sử và lý thuyết của vấn đề (20/03/2013)

Quan niệm LVB gắn với sự giảm trừ không chỉ vai trò của tác giả, mà còn vai trò của độc giả, và của con người nói chung. Thế giới của văn bản tồn tại theo các quy luật tự trị, và con người chỉ là một phần của nó, tức là tất cả đều là trường của trò chơi LVB. Khái niệm tác giả bị thay bằng khái niệm người ghi (R. Barthes), thủ thư (J. Faules, H.L. Borges) mà quyền hành của họ chỉ là hòa trộn các kiểu viết khác nhau. Véctơ ý thức tác giả thay đổi: tác giả hiểu được tính chức năng của mình đối với văn bản. Ranh giới giữa “của mình” và “của người khác” biến mất: cái của mình được hiểu như là cái của người khác phản chiếu lên nhiều lần.

Biểu tượng – “Gène của truyện kể” (26/10/2012)

Biểu tượng bao giờ cũng giữa vai trò như là cương lĩnh cô đọng của quá trình sáng tạo. Sự phát triển về sau của truyện kể chỉ là sự triển khai một số tiềm năng được dấu kín trong đó. Đó là tổ chức mã hoá ở chiều sâu, là cái “gène văn bản” độc đáo.

Chấn thương, tự sự và hai hình thức của cái chết (26/10/2012)

Bằng động thái viết, nạn nhân đã cố gắng “đóng khung” chính mình trong vùng chấn thương để không rơi vào một trong hai hình thức tồi tệ hơn rất nhiều – nơi mối quan hệ biện chứng giữa đời sống và cái chết bị dừng lại vì “cái chết do cái biểu đạt gây ra” và “cái chết tượng trưng” – cả hai hình thức này đều do kẻ sát nhân áp đặt nhằm hư vô hoá nạn nhân trước khi giết anh ta hay chị ta.

Sử thi học Trung Quốc - từ nghiên cứu trường hợp đối với nghệ nhân P.Arimpil (16/10/2012)

Đưa trường hợp P. Arimpil – một nghệ nhân được hai thế hệ học giả sử thi theo đuổi nghiên cứu – vào tiến trình phát triển của sử thi học để định vị, chúng ta sẽ phát hiện rằng chỉ trong hơn 10 năm vừa qua đây thôi, “nghiên cứu P. Arimpil” đã bắc một nhịp cầu trọng yếu cho sự chuyển đổi hệ hình trong lịch sử nghiên cứu giữa hai thế hệ học giả...
Các tin đã đưa ngày: