Sử thi học Trung Quốc - từ nghiên cứu trường hợp đối với nghệ nhân P.Arimpil

16/10/2012

Đưa trường hợp P. Arimpil – một nghệ nhân được hai thế hệ học giả sử thi theo đuổi nghiên cứu – vào tiến trình phát triển của sử thi học để định vị, chúng ta sẽ phát hiện rằng chỉ trong hơn 10 năm vừa qua đây thôi, “nghiên cứu P. Arimpil” đã bắc một nhịp cầu trọng yếu cho sự chuyển đổi hệ hình trong lịch sử nghiên cứu giữa hai thế hệ học giả...

Sử thi học Trung Quốc - từ nghiên cứu trường hợp đối với nghệ nhân P.Arimpil

 

Triều Qua Kim

 

1. Những tiền đề của sử thi học Trung Quốc

Từ “sử thi” trong tiếng Anh epic là vay mượn trực tiếp từ epikos trong tiếng Hy Lạp và epicus trong tiếng La tinh, xét về mặt từ nguyên, nó có liên quan đến epos trong tiếng Hy Lạp, nghĩa gốc của nó lànóilời nói, sau này có nghĩa dẫn thân là giai đoạn ban đầu của thơ tự sự truyền miệng hay là những phiến đoạn của sử thi truyền miệng. Khái niệm “sử thi” được du nhập vào Trung Quốc vào cuối thế kỷ XIX. Năm 1879, đại thần nhà Thanh là Quách Tung Đào đi sứ sang Anh đã ghi lại trong nhật k í của mình về cuộc chiến tranh Tơ roa của Sử thi Hô me , song căn cứ vào những tư liệu mà bản thân tác giả [Triều Qua Kim] được biết thì thuật ngữ “sử thi” được sử dụng sớm nhất tại Trung Quốc đại khái là từ Chương Thái Viêm (Bính Lân). Trong cuốn Chính danh tạp nghĩa của mình ông đã trực tiếp sử dụng từ “sử thi”. Ông cho rằng, “Vận văn hoàn bị mà có bút ngữ, sử thi hoàn thiện mà sau có vũ thi”, sử thi bao gồm đại sử thi của dân tộc, truyền thuyết, truyện kể, các ca khúc ngắn, các khúc ca lịch sử. Bài viết này của ông được đưa vào trước tác Cừu thư. Đính văn (bản in lại) [1] . Sau đó Hồ Thích cũng từng dịch epic thành “truyện thơ”. Năm 1918, Chu Tác Nhân trong Lịch sử văn học châu Âu đã giới thiệu văn học cổ Hy Lạp; năm 1922, Trịnh Chấn Đạc trên Tiểu thuyết nguyệt báo đã dành một chuyên mục để giới thiệu Sử thiHô me, cho rằng Sử thiHô me thể hiện được sự chất phác và tươi mới của dân tộc Hy Lạp cổ đại trong buổi bình minh của nó; năm 1929, Phó Đông Hoa đã dịch ra văn vần toàn bộ Ôđixê. Đồng thời với việc độc giả Trung Quốc bắt đầu được tìm hiểu một cách hoàn chỉnh về Sử thiHô me, rất nhiều nhà nghiên cứu cũng bắt đầu triển khai các tranh luận xung quanh vấn đề: rốt cuộc lịch sử văn học Trung Quốc có sử thi hay không?

Từ những năm 50 của thế kỷ trước đến nay, đặc biệt là từ sau những năm 80, việc phát hiện, sưu tập, ghi chép, chỉnh l í và xuất bản sử thi các dân tộc thiểu số của Trung Quốc không những đã phản bác phán đoán nổi tiếng của Hê ghen về việc Trung Quốc không có sử thi, đồng thời cũng trả lời cho “vấn đề đau đầu” từng xuất hiện trong giới nghiên cứu Trung Quốc từ sau Ngũ Tứ: “Chúng ta cũng từng có sử thi hay không?” (Văn Nhất Đa: Ca và thi). Ngày nay chúng ta biết rằng, trong rất nhiều dân tộc của Trung Quốc đã và đang lưu truyền hàng nghìn sử thi, trải rộng khắp các khu vực dân tộc từ miền Bắc cho tới miền Nam Trung Quốc [2] . Trong đó, Cách Tát (Tư) Nhĩ của dân tộc Tạng và dân tộc Mông Cổ, Giang Cách Nhĩ của dân tộc Mông Cổ và Mã Nạp Tư của dân tộc Kirgiz đã trở thành “ba bộ sử thi anh hùng vĩ đại của Trung Quốc” nổi tiếng trên toàn thế giới. Ngoài ra, trong các dân tộc thuộc ngữ hệ Altai của miền Bắc Trung Quốc, đến nay vẫn còn lưu truyền hàng trăm bộ sử thi anh hùng; ở rất nhiều dân tộc miền Nam cũng lưu truyền sử thi sáng thế, sử thi thiên di và sử thi anh hùng với phong cách vô cùng cổ sơ. Những bộ sử thi truyền miệng mà các dân tộc anh em vẫn lưu truyền từ đời nọ đến đời kia này đã kết chồng thành điệp trùng những đỉnh cao của truyền thống truyền miệng, trở thành một cảnh quan hoành tráng hiếm thấy trong lịch sử văn hóa thế giới đồng thời cũng là một di sản tinh thần rất đỗi tự hào của dân tộc Trung Hoa.

Song, nhìn lại lịch trình nghiên cứu sử thi của Trung Quốc, chúng ta không khó nhận ra một điều là: những người triển khai hoạt động nghiên cứu sử thi một cách khoa học đầu tiên, đại đa số lại là những nhà nghiên cứu nước ngoài, thời gian có thể ngược dòng lên đến tận thế kỷ XVIII. Người đầu tiên giới thiệu sử thi Cách Tát Nhĩ là nhà du lịch người Nga P. S. Palls: Cuộc du hành ở một nơi kỳ dị của nước Nga (1776) [3] . Trong hai trăm năm của thế kỷ XIX và thế kỷ XX, với tư cách là một phân ngành của nghiên cứu Đông phương học, sử thi các dân tộc Trung Quốc từng bước thu hút sự chú ý của các học giả nước ngoài, trong đó thành quả tương đối nổi bật phải kể đến David Neel và R. A. Stein của Pháp, I. J. Schmidt, W. Heissig, K. Sagaster, K. Reichl của Đức và F. W. Radloff (người gốc Đức, cư trú lâu dài tại Nga); có G. N. Potanin, S. A. Kozin, A. Rudnev, Zhamcarano, B. Ya. Vladimirtsov, V. Zhirmunsky, S. J. Nekljudov của Nga Xô và N. Poppe (người Nga, sau di cư sang Mĩ); có G. J. Ramstedt của Phần Lan, có C. R. Bawden và Nora K. Chadwick của Anh. Có hai sự kiện cần phải nhắc đến ở đây, một là khoảng từ năm 1851, nghiên cứu sử thi Mông Tạng trỗi dậy ở Tây Âu, những chuyên luận của rất nhiều học giả trong đó có W. Schott đã liên tục được đăng tải trên Tạp chí Viện Khoa học Berlin [4] ; hai là bản dịch ngoại văn đầu tiên của sử thi Cách Tát Nhĩ đã ra đời vào năm 1839, dịch giả là I. J. Schmidt, tiêu đề là Sự tích của vị thánh thần Cách Tát Nhĩ [5] (tiếng Đức, dịch từ bản khắc gỗ Cách Tát Nhĩ năm 1716 bằng chữ Mông Cổ của Bắc Kinh). Sau đó lại có rất nhiều bản dịch Cách Tát Nhĩ ra đời, trong đó khá nổi tiếng còn có Một bản kể Truyện Cách Tát Nhĩ củavùng Ladakhi hạ [6] . Tóm lại, chúng ta có thể khái quát giai đoạn này là tự sự của “người khác”.

Thật vậy, “đầu mối” của nghiên cứu sử thi Trung Quốc có thể ngược dòng về mấy trăm năm trước. Năm 1779, cao tăng Thanh Hải tên là Tùng Ba. Ích Hỷ Ảo Giác Nhĩ (1704 – 1788) [một cao tăng, Phật sống ở Thanh Hải – Tây Tạng] trong quá trình trao đổi thư từ với Ban Thiền Bạch Đan Y Hỷ đời thứ sáu (1737- 1780) đã đàm luận đến những vấn đề có liên quan đến Cách Tát Nhĩ [7] . Một hiện tượng thú vị là, về vấn đề Tùng Ba là người dân tộc nào, từ trước đến nay vẫn tồn tại hai thuyết, một thuyết cho là dân tộc Tạng, một thuyết cho là dân tộc Mông, khó có thể đi đến kết luận cuối cùng. Cũng giống như sử thi Cách Tát (Tư) Nhĩ, hầu hết đều cho là nguồn chung dòng riêng, ở cả dân tộc Mông Cổ và dân tộc Tạng đều lưu truyền rộng rãi. Vì khu vực lưu truyền không giống nhau cho nên không chỉ về mặt nội dung có những khác biệt lớn mà ngay cả tên của sử thi cũng có những khác biệt về mặt phát âm. Dân tộc Tạng gọi là Cách Tát Nhĩ, dân tộc Mông Cổ gọi là Cách Tư Nhĩ. Bộ sử thi lớn này sau này còn được truyền bá đến các dân tộc khác, ví dụ, ngày nay có thể thấy các văn bản của dân tộc Thổ: Cách Tái Nhĩ, dân tộc Tuva: Khắc Tư Nhĩ, đồng thời một bộ phận các dân tộc Pumi, Naxi, Lisu ở Vân Nam, do tạp cư và giao lưu mật thiết với dân tộc Tạng cho nên cũng có lưu truyền các bản truyền miệng, các bản chép tay cùng một số ít các bản khắc gỗ của sử thi này [8] . Hiện tượng văn hóa đa dân tộc trên rất đặc biệt.

Nếu xét về các bài viết có tính giới thiệu về sử thi dân tộc thiểu số được đăng trên các tạp chí trong nước bằng chữ Hán thì sớm nhất phải kể đến tác giả Nhậm Nãi Cường. Ông đã khảo sát khu vực Tây Khang của dân tộc Tạng vào năm 1929, thời gian kéo dài 1 năm; trên phụ san của Tứ Xuyên nhật báo tháng 12 năm 1930, ông đã liên tục đăng hai bài Tạng Tam quốc [Tam quốc của người Tạng]và Tạng Tam quốc cử liệt [Giới thiệu về Tam quốc của người Tạng có nêu các ví dụ minh họa], cho rằng, “những sách ghi chép về sự tích Lâm Cách Tát, người Hán gọi là Tạng Tam quốc, tiếng Tạng viết là Cách Tát Lang Đặc, dịch nghĩa là Truyện Cách Tát, hoặc là Sử bằng thơ về Cách Tát, bởi vì toàn bộ đều dùng thơ ca để kể cho nên nó giống với đàn từ, tuyên quyển [tức tuyên giảng bảo quyển, một hình thức thuyết xướng mà văn bản diễn xướng của nó chính là bảo quyển] của nước ta vậy [9] . Hiện tượng dùng nhãn quan lịch sử để đánh giá văn bản sử thi như Nhậm Nãi Cường cũng thường xảy ra ở các nhà nghiên cứu sau này khi bình luận về cái mà ngày nay chúng ta gọi là “truyền thống sử thi”.

Công tác sưu tập và chỉnh lý sử thi ở quy mô rộng ở Trung Quốc được bắt đầu từ những năm 50 của thế kỷ XX với nhiều phen chìm nổi, về cơ bản đã quét được những văn bản chủ yếu của sử thi các dân tộc và tình hình truyền bá của nó. Công việc nghiên cứu sử thi một cách tương đối hệ thống phải đến những năm 80 mới bắt đầu có quy mô, hình thành các công trình hệ thống một cách toàn diện về tư liệu và các công trình nghiên cứu đạt đến chiều sâu nhất định, trong đó phải kể đến bộ tùng thư Nghiên cứu sử thi Trung Quốc do Viện Nghiên cứu Văn học dân tộc thiểu số (nay là Viện Nghiên cứu văn học dân tộc) – Viện KHXH Trung Quốc chủ biên [10] , thể hiện một cách tập trung nhất trình độ tổng thể của nghiên cứu sử thi giai đoạn này. Những thành quả nghiên cứu tiêu biểu có: nghiên cứu về sử thi Giang Cách Nhĩ của Nhân Khâm Đạo Nhĩ Cát, nghiên cứu sử thi Mã Nạp Tư của Lang Anh, nghiên cứu sử thi Cách Tát Nhĩcủa Giáng Biên Gia Thố và Dương Ân Hồng, nghiên cứu về sử thi miền Nam của Lưu Á Hổ... Các chuyên luận này đã thể hiện một cách tương đối toàn diện và hệ thống diện mạo tổng thể, văn bản sử thi trọng điểm và các nghệ nhân diễn xướng quan trọng của sử thi Trung Quốc cùng một số vấn đề chủ yếu của nghiên cứu sử thi đồng thời một lần nữa đề xuất mục tiêu công tác là xây dựng hệ thống lý luận của sử thi Trung Quốc. Có thể nói, bước chuyển từ tự sự của “người khác” sang “tự thân” nghiên cứu đến đây đã bắt đầu bộc lộ những đầu mối của nó. Thể hiện quan trọng nhất là: về mặt giới định thể loại đã thoát khỏi khung khái niệm của lý luận sử thi phương Tây, từ “sử thi anh hùng” mở rộng ra “sử thi sáng thế” và “sử thi thiên di”, làm phong phú kho tàng sử thi thế giới; về hình thái truyền bá, đột phá khỏi sự trói buộc của tác phẩm kinh điển hay nói cách khác là văn bản sử thi viết, hướng tầm nhìn đến truyền thống sử thi hình thái sống bắt rễ từ đời sống văn hóa dân tục của Trung Quốc; về việc phân loại nghệ nhân đã khảo sát việc học nghệ và phương thức trao truyền của nghệ nhân trong ngữ cảnh văn hóa xã hội đặc định của bản thổ, chỉ riêng đối với nghệ nhân sử thi dân tộc Tạng đã có thể phân ra được ít nhất là 5 loại hình [11] nghệ nhân.

2. Từ nghiên cứu trường hợp đối với nghệ nhân P. Arimpil đến sự thay đổi bố cục của sử thi học Trung Quốc

Trở lại với sợi chỉ đỏ là nghệ nhân [sử thi quốc tế - những trường hợp tiêu biểu] để soi chiếu trường hợp P. Arimpil (1923 – 1994), hoàn toàn có thể xếp ông vào hàng ngũ những nghệ nhân sử thi vĩ đại nhất của thời đại hôm nay[12] . Nếu không tính trường hợp Giang Cách Nhĩ Kỳ [tên gọi chung cho nghệ nhân dân gian diễn xướng sử thi Giang Cách Nhĩ của người Mông Cổ] xuất hiện trong truyền thuyết thì P. Arimpil chính là nghệ nhân mù chữ biết hát nhiều chương Giang Cách Nhĩ nhất mà chúng ta được biết một cách xác thực. Công tác sưu tầm ghi chép theo nghĩa khoa học hiện đại lần đầu tiên được tiến hành với ông là vào năm 1980. Giáo sư, nhà ngôn ngữ học Xác Tinh Trác Bố đến Hebukesai'er, người mà ông phỏng vấn đầu tiên chính là P. Arimpil. Tiếp đó, việc sưu tập và lưu giữ những bản kể truyền miệng của P. Arimpil đồng thời triển khai nghiên cứu chúng của người cháu gọi ông bằng cậu là Tiến sĩ Tháp Á cũng phát huy vai trò quan trọng. Sau đó, [công trình của bản thân tác giả Triều Qua Kim] xuất phát từ lập trường của thi pháp truyền miệng, xoay quanh nghiên cứu trường hợp đối với P. Arimpil, giải thích văn bản và tái hiện cấu trúc truyền thống của nó [13] đã cùng với nghiên cứu thực chứng của một số học giả khác tạo nên một bức tranh mới của sử thi học Trung Quốc, từ đó trở thành cột mốc cho việc chuyển đổi hệ hình của nghiên cứu sử thi Trung Quốc. Về vấn đề này, Chung Kính Văn tiên sinh đã chỉ ra: “Cái gọi là chuyển đổi hệ hình, tôi cho rằng quan trọng nhất là, trước những văn bản sử thi đã sưu tập được, từ việc sưu tập tư liệu một cách căn bản chuyển sang nghiên cứu khoa học một cách thực chứng đối với văn bản, cũng tức là từ việc điều tra trên diện rộng, chiếm hữu tư liệu một cách chủ quan sang hoàn nguyên và nghiên cứu đối với truyền thống sử thi trong lịch sử một cách khách quan” [14] . Cũng tức là nói, nghiên cứu mang tính phục nguyên đối với diễn xướng truyền miệng của P. Arimpil, phỏng vấn dân tộc chí đối với ông và phân tích trình thức cú pháp trong bản kể của ông đã có một hàm nghĩa dẫn đường nào đó, có tác dụng chỉ đường cho việc “tự thân” nghiên cứu cũng như tính tự giác về phương pháp luận đối với các nhà khoa học Trung Quốc đương đại.

Do đó, ở đây chúng tôi đưa trường hợp P. Arimpil – một nghệ nhân được hai thế hệ học giả sử thi theo đuổi nghiên cứu – vào tiến trình phát triển của sử thi học để định vị, chúng ta sẽ phát hiện rằng chỉ trong hơn 10 năm vừa qua đây thôi, “nghiên cứu P. Arimpil” với tư cách là trường hợp đặc định của việc chuyển đổi hệ hình nghiên cứu của văn nghệ học dân gian Trung Quốc từ hệ hình văn học viết sang hệ hình truyền miệng quả thực đã bắc một nhịp cầu trọng yếu cho sự chuyển đổi hệ hình trong lịch sử nghiên cứu giữa hai thế hệ học giả. Trước kia nghiên cứu sử thi của chúng ta có một khoảng cách khá xa đối với truyền thống truyền miệng dân gian, chú trọng nghiên cứu sử thi với tư cách là văn bản văn học mà không hề coi sử thi là một truyền thống tự sự ở hình thái truyền miệng, không xét đến khía cạnh sử thi đồng thời cũng là một hiện tượng đời sống dân tục, một loại hành vi ngôn ngữ ở trạng thái động và một văn hóa biểu đạt truyền miệng. Đây chính là hạn chế của nghiên cứu trước kia. Và việc đào sâu vào mối quan hệ giữa “tính truyền miệng” và “tính văn bản”, phát hiện cơ chế đặc thù của trao truyền sử thi, đặc biệt là căn cứ vào bản kể của P. Arimpil tiến hành phân tích trình thức cú pháp của nó đã gợi mở cho chúng ta rất nhiều. Về mặt nhận thức luận, thi ca truyền miệng và thi ca của văn nhân có sự khác biệt rất lớn, tuyệt đối không thể áp dụng một cách giản đơn phương pháp nghiên cứu tác phẩm văn học viết của các văn nhân để giải thích các văn bản sáng tác truyền miệng và truyền bá truyền miệng này. Đồng thời, dùng quy tắc của thi pháp văn học viết để giải thích các đặc điểm của sử thi truyền miệng cũng làm ảnh hưởng đến tính chính xác trong việc đánh giá của độc giả và các phán đoán khoa học của giới nghiên cứu. Do đó, việc lấy ý thức vấn đề làm đường lối, lấy việc uốn nắn những cách “đọc sai” về truyền thống sử thi làm xuất phát điểm, từ đó tiến hành tái nhận thức đối với lịch sử của sử thi học, đối thoại giữa hai thế hệ học giả trên ý nghĩa phê bình khoa học một cách tích cực cũng thúc đẩy ý thức tự giác trên phương diện phương pháp luận của giới nghiên cứu sử thi Trung Quốc. [15]

Từ cuối thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, bố cục của nghiên cứu sử thi Trung Quốc quả thực đã có những thay đổi mới. Khái quát một cách giản đơn thì đó là đã xuất hiện các chuyển hướng học thuật như sau: từ văn bản chuyển sang điền dã, từ truyền thống chuyển sang trao truyền, từ tính tập thể chuyển sang tài nghệ cá nhân, từ nghệ nhân chuyển sang người tham dự (khán thính giả), từ “người khác quan sát” sang “tự quan sát”, từ nghiên cứu bằng mắt sang nghiên cứu bằng tai.

Cái gọi là từ văn bản chuyển sang điền dã có nghĩa là loại bỏ phương pháp nghiên cứu “văn học” chiếm địa vị chi phối một thời, giải thích về thẩm mỹ và lịch sử xã hội đối với văn bản sử thi từng bước nhường chỗ cho việc khảo sát sử thi với tư cách là truyền thống tự sự dân gian và văn hóa biểu đạt truyền miệng; phát hiện ý nghĩa của sử thi trong văn học sử từng bước nhường chỗ cho việc quan sát giao lưu truyền miệng và chức năng đối với ký ức cộng đồng của sử thi trong một quần thể đặc định. Công bằng mà nói, hàng loạt những trao đổi đương đại trong lĩnh vực văn nghệ học dân gian của Trung Quốc những năm gần đây chính là được triển khai xung quanh vấn đề sự chuyển đối sâu sắc về bố cục nghiên cứu của sử thi học Trung Quốc, mà sự biến đổi đó chủ yếu lại là tái nhận thức và chuyển đổi “giữa văn bản và điền dã” [16] . Còn như từ truyền thống chuyển sang trao truyền thì chủ yếu là quan tâm đến sự trao truyền và mở rộng của truyền thống diễn xướng, chú ý đến quỹ đạo phát triển miên viễn theo chiều lịch đại của sử thi. Trong nhiều truyền thống khác nhau, diễn xướng sử thi cũng được tiến hành kết hợp với các hoạt động nghi thức khác, ví dụ thông qua quan sát điền dã trường kỳ và thể nghiệm đời sống dân tục, học giả của chúng tôi đã phát hiện ra diễn xướng sử thi của ngữ hệ Nặc Tô dân tộc Di từ xưa đến nay luôn là một bộ phận hữu cơ của khẩu chiến dân gian, thường diễn ra trong hôn lễ, tang lễ và nghi thức tống linh tế tổ [17] . Nói đến từ tính tập thể chuyển sang tài nghệ của cá nhân thì đây chính là một “bổ chính” đối với những đặc trưng đã trở thành định luật của văn nghệ học dân gian trước đây – “tính tập thể, tính nặc danh” của tự sự dân gian. Một cá nhân có thiên phú sẽ có một vai trò đặc biệt đối với sự phát triển của truyền thống. Trong truyền thống diễn xướng sử thi hình thái sống của Trung Quốc hôm nay không thiếu những cá nhân vĩ đại như vậy, ví dụ như Trát Ba, Tang Châu của dân tộc Tạng, nghệ nhân Ma Ma Yi của dân tộc Kirgiz, nghệ nhân Ba Kiệt, Kim Ba Trát Mộc Tô, Chu Nãi và P. Arimpil của dân tộc Mông Cổ, nghệ nhân Khúc Mạc Y Nặc của dân tộc Di... Tất cả họ đều bằng cá tính và phong cách biểu diễn vô cùng độc đáo của mình góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy sự phát triển của truyền thống truyền miệng. Những nhà nghiên cứu nhạy bén cũng đều nô nức chuyển sang điền dã, chuyển sang thể nghiệm thực tiễn đời sống dân tục, chuyển sang nghiên cứu bám sát những nghệ nhân sử thi trọng điểm [18] . Từ nghệ nhân chuyển sang người tham dự (khán thính giả) nhấn mạnh việc coi diễn xướng sử thi là một chỉnh thể, nhấn mạnh định hướng quan sát biểu diễn như một quá trình truyền và nhận thông tin. Vai trò của người tham dự (khán thính giả) hoàn toàn không phải bị động như một “cái máy tiếp nhận” có tai mà tham dự một cách năng động vào quá trình biểu diễn, cùng nghệ nhân tạo ra “ý nghĩa” của tác phẩm, tức một mắt xích không thể thiếu trong việc sinh thành và truyền đi thông tin. Từ “người khác quan sát” sang “tự mình quan sát” lại có liên quan mật thiết với lập trường và xuất phát điểm của chủ thể nghiên cứu, có liên quan đến ý thức tự ngã và tự giác văn hóa của học giả bản thổ. Ví dụ, những phát hiện từ trong tiếng mẹ đẻ và bản thể văn hóa của dân tộc mình đã khiến các học giả nắm được nhiều loại hình sử thi phức tạp hơn, ngoài những cách phân loại thông thường của giới nghiên cứu ra, còn có rất nhiều hệ thống phân loại thuộc về hệ thống tri thức bản thổ, ví dụ, văn bản phục Tạng [19] [tức bảo vật của Phật giáo Tây Tạng được thần linh cất dấu, xem thêm chú thích (11) về nghệ nhân quật Tạng] của dân tộc Tạng, văn bản đực / cái và tự sự đen / trắng của dân tộc Di [20] và nhiều hơn thế nữa. Khảo sát đối với một truyền thống nếu như có thể vừa tiến hành từ bên ngoài vừa tiến hành từ bên trong thì chúng ta có thể có một độ tin tưởng nhất định đối với chiều sâu của khảo sát ấy. Cuối cùng, khi chúng tôi nói rằng nghiên cứu bằng mắt và nghiên cứu bằng tai, hoàn toàn không phải là nhấn mạnh việc “đọc” tự sự dân gian đã chuyển từ việc đọc các bản ghi chép bằng văn tự sang việc lắng nghe ở hiện trường, hoàn toàn không đơn giản như vậy, mà là nhấn mạnh phải nỗ lực trong việc xây dựng một quy tắc thi pháp truyền miệng [21] , khiến cho mọi người nhận thức được một điều rằng, một lượng lớn các hiện tượng văn học truyền miệng kỳ thực cần phải có một cách giải thích văn hóa khác và một quy tắc phê bình mới để thưởng thức chúng.

Tất nhiên, quá trình tự xây dựng của sử thi học cũng từng bước hòa nhập vào trong quá trình đối thoại khoa học quốc tế, điều này có liên quan mật thiết với một lớp các nhà sử thi học dân tộc có nội lực thâm hậu, tầm nhìn khoáng đạt, có thực lực nghiên cứu liên ngôn ngữ, cũng liên quan mật thiết với thực tiễn khoa học mang tính sáng tạo và tính mở của họ. Hơn 10 năm nay, việc dịch và giới thiệu một cách hệ thống những thành quả lý luận của thi pháp truyền miệng phương Tây, “ba trào lưu lớn” của Folklore [22] cũng như việc xây dựng lý luận thi pháp sử thi, tái nhận thức và phê bình khoa học dựa trên thực tiễn bản thổ hóa của Trung Quốc đã phát huy vai trò không thể xem nhẹ. Những nghiền ngẫm lý luận sử thi học của lớp học giả bản thổ này được xây dựng trên cơ sở tái nhận thức khoa học và ở rất nhiều khâu đã đạt được những thành tích đáng kinh ngạc. Ví dụ, việc sáng tạo và áp dụng mô hình phân tích cú pháp sử thi, việc xây dựng mô hình công tác điền dã “tái chứng thực” đối với văn bản vốn có [23] , tiến hành nhìn nhận lại đối với những hạn chế trong quá trình chế tác văn bản văn học dân gian, tiến tới từ trong nghiên cứu điền dã tổng kết ra khung thao tác điền dã “5 tại chỗ” [24] , từ việc vận dụng lý luận truyền thống truyền miệng nhìn lại kinh điển cổ đại, từ đó phát hiện ra cách đọc và giải thích mới, đồng thời vận dụng phương pháp và thành tựu của cổ điển học để nhìn lại nội hàm và ý nghĩa của biểu diễn truyền thống truyền miệng hình thái sống [25] , theo sát trường kỳ và miêu tả chi tiết đối với nghệ nhân hoặc quần thể nghệ nhân cùng với việc có những chế độ đặc biệt đằng sau họ [26] , thiết kế và tổng kết mô hình công tác tập thể và mô hình công tác cá nhân [27] , trên phương diện chỉnh lý, sưu tập các hồ sơ âm thanh và xử lý số hóa đã xây dựng được kho tư liệu và kho số liệu phù hợp với trình độ kỹ thuật và lý luận khoa học mới [28], ... Đặc biệt đáng kể đến là, trên phương diện xây dựng tư liệu học, ví dụ xuất bản và hiệu chú văn bản sử thi một cách khoa học đã đạt được những thành tích lớn, rất nhiều bản tư liệu đã được giới nghiên cứu sử thi trong nước và quốc đế phổ biến khen ngợi và tôn trọng [29] . Tóm lại, những thực tiễn học thuật lấy truyền thống làm gốc này đã tạo ra những ảnh hưởng tốt trong giới sử thi học quốc tế.

Tổng kết lại những điều đã trình bày trên đây có thể thấy, một loạt những thành quả nghiên cứu truyền thống sử thi lấy nghiên cứu trường hợp dân tục học làm lộ tuyến kỹ thuật, lấy lý luận thi pháp truyền miệng làm khung tham chiếu đã nối nhau ra đời [30] , điều đó cho thấy lớp lang nội tại của bố cục sử thi học Trung Quốc đang ngày càng trở nên rõ nét hơn. Đặc biệt là đã đề xướng việc nghiên cứu thực chứng được triển khai giữa điền dã và văn bản, đồng thời hầu hết những nghiên cứu đó đều bằng việc miêu tả sâu về văn hóa và giải thích thi pháp truyền miệng tinh tế của mình để nhận rõ quá trình trao truyền của sử thi và việc truyền bá truyền miệng của nó ở các dân tộc thiểu số Trung Quốc trong thời kỳ chuyển đổi xã hội, trong khảo sát tương tác mang tính đa chiều ở truyền thống tự sự của dân tộc, thực tiễn đời sống dân tục và hiện trạng sinh tồn của quần thể những nghệ nhân đã xây dựng được nền tảng khoa học bản thổ hóa: 1) Tìm hiểu được dân tục học phương Tây đương đại làm thế nào để thông qua tác nghiệp điền dã và thuyết minh dân tộc chí để nghiên cứu sâu đặc trưng chế độ văn hóa của truyền thống tự sự truyền miệng, mạch hiện thực và quỹ đạo biến thiên của nó; 2) Thành thạo những khái niệm công cụ và bối cảnh lý luận mà giới sử thi học phương Tây sử dụng trong các nghiên cứu về vấn đề sử thi Trung Quốc, tìm hiểu được những động thái mới của nghiên cứu sử thi hải ngoại, ví dụ nghiên cứu trường hợp điển hình, nghiên cứu liên ngành và nguyên tắc luận chứng, logic tư duy phân tích thi pháp truyền miệng của họ. 3) Ý thức được “chỉ có đồng thời với việc chuyển sang điền dã, lấy việc lý giải văn bản truyền miệng dân gian làm trung tâm, thực hiện chuyển đổi từ hệ hình Viết, hệ hình điền dã sang hệ hình Truyền miệng, mới có thể thực sự xác lập địa vị độc lập khoa học cho văn nghệ dân gian và dân tục học” [31] . Loạt thành quả nghiên cứu sử thi này có thể nói là đã thực hiện được sự chuyển đổi hệ hình khoa học trên mấy phương diện sau: 1) Lấy việc ý thức về vấn đề: “tính truyền miệng” và “tính văn bản” là gì làm định hướng để đột phá ra khỏi hệ hình nghiên cứu văn học lấy văn bản Viết làm khung tham chiếu; 2) Lấy “Truyền thống sử thi” chứ không phải là “một bộ sử thi” làm lập trường cơ bản để nghiên cứu tự sự truyền miệng, đột phá khỏi hệ hình nghiên cứu lịch sử chịu ảnh hưởng của văn nghệ dân gian Liên Xô cũ; 3) Lấy thi pháp truyền miệng và phân tích trình thức cú pháp làm khung giải thích để đột phá khỏi phương pháp vẫn luôn được ưa chuộng của các học giả sử thi phương Tây trong khi phân tích văn bản sử thi Trung Quốc là nghiên cứu chức năng hay nghiên cứu cấu trúc tự sự học; 4) Lấy lộ trình khoa học “từ dưới lên trên”, từ “tự sự đầu tiên” của nghệ nhân, người tham dự (khán thính giả), làng xóm cho đến gia tộc nghệ nhân cùng với kinh nghiệm trực tiếp từ điền dã của người nghiên cứu để rút ra ý nghĩa mang tính nguyên lý, sửa đổi hàng loạt những thiên lệch trước đây trong tác nghiệp điền dã như quá chú trọng đến việc sưu tập văn bản mà xem nhẹ việc thuyết minh ngữ cảnh và bối cảnh xã hội, thúc đẩy việc đổi mới quan niệm từ tác nghiệp điền dã đến nghiên cứu điền dã. Điều đáng nói nhất ở đây là, sự nỗ lực của các học giả bản thổ đã khiến cho việc khối cộng đồng chung của cả giới khoa học Trung Quốc chuyển từ “người tiêu thụ” lý luận phương Tây thành “người sản xuất” của lý luận bản thổ trở nên có tính khả thi. Ví dụ, từ lý luận nghiên cứu điền dã đến quy trình kỹ thuật của việc chế tác văn bản, học giả của chúng ta đã từ trong thực tiễn bản thổ hóa nảy sinh tự giác khoa học. Một mặt, thông qua việc phiên dịch và chuyển đổi các khái niệm cơ bản của thi pháp truyền miệng phương Tây, kết hợp với hệ thống phân loại của tri thức truyền miệng bản thổ và các đơn nguyên biểu đạt truyền thống của từ vựng tự sự dân gian, nâng cấp thành những khái niệm công cụ cho hệ thống thuật ngữ của nghiên cứu sử thi Trung Quốc cho khớp với yêu cầu song phương của việc đối thoại học thuật quốc tế và giải thích tự sự dân tộc chí [32] ; mặt khác, trên phương diện phương pháp luận điền dã tổng kết được được khung thao tác mang tính lý luận: từ lập trường nghiên cứu điền dã yêu cầu chúng ta phải từ hai chiều điền dã và văn bản chú ý một cách cao độ đến việc “cung cấp chứng cứ” (documentation) theo nghĩa dân tục học, cũng tức là phải từ chuỗi mắt xích của nghiên cứu điền dã, ví dụ tác nghiệp điền dã (fieldwork), phỏng vấn (interview), bút ký điền dã (fieldnotes), sao chép điền dã (transcribing), báo cáo điền dã (reporting), phiên dịch điền dã (translating), văn bản hóa điền dã (textulizing) đến cuối cùng hình thành một hồ sơ điền dã (archiving) hệ thống. Giới dân tục học quốc tế vô cùng coi trọng quá trình hình thành “hồ sơ” này, cũng tức là toàn bộ quá trình cung cấp chứng cứ bao gồm các khâu như biện biệt tài liệu điền dã, nghiệm thu, xử lý, bảo tồn và truyền bá... Như vậy mới có thể cuối cùng hỗ trợ được văn bản được giải thích, mà trong điền dã sử thi chỉ có trải qua một lộ trình nghiên cứu điền dã hoàn chỉnh, có trình tự, đầy chi tiết như vậy mới có thể cuối cùng cung cấp và hỗ trợ một văn bản dân tộc học và lộ trình chế tác văn bản hóa lấy biểu diễn làm trung tâm đồng thời có thể phản ánh bản chất truyền thống sử thi truyền miệng. Việc chế tác văn bản [sử thi truyền miệng] cần phải lấy “lần biểu diễn này” làm xuất phát điểm, đồng thời dựa vào sự thay đổi của môi trường biểu diễn để miêu tả sự kiện biểu diễn cụ thể và quá trình của nó, báo cáo  (report) biểu diễn hình thành từ đó phải quan trọng ngang hàng với ghi chép (record) biểu diễn, như vậy sẽ giúp ích cho việc hoàn thiện lộ trình chế tác văn bản dân tục học. Cũng tức là, văn bản biểu diễn sử thi (a text of epic performance) cuối cùng mà chúng ta có được phải là thuyết minh khoa học có kết cấu văn bản song trùng do ghi chép biểu diễn sử thi (a record of epic performance) và báo cáo biểu diễn sử thi (a report of epic performance) hợp thành, ghi chép biểu diễn sử thi là việc sang băng văn bản (text) của bản thân biểu diễn, tiếng Anh gọi là transcription, và tốt nhất là phải được xử lý theo kiểu “không thay một chữ” cộng thêm việc chú giải tỉ mỉ xác thực; báo cáo biểu diễn sử thi lại là việc miêu tả sâu (thick description) ngữ cảnh (context) và tình huống (situation) của truyền thống biểu diễn; không còn nghi ngờ gì nữa, những nhận thức khoa học này đã được phát hiện từ việc ứng dụng quy phạm khoa học của thi pháp truyền miệng phương Tây và quá trình tương tác khoa học bản thổ hóa đồng thời cùng với quá trình quảng canh và thâm canh của sử thi học, những nhận thức này sẽ thu được ý nghĩa giải thích phổ biến rộng khắp hơn đồng thời tiếp tục gây ra những ảnh hưởng này khác đối với các khoa học lân cận với nó.

3. Sử thi học Trung Quốc hướng tới thế kỷ XXI

Vùng Bảo Mộc Ba của Giang Cách Nhĩ

Là một thiên đường trần gian hạnh phúc

Nơi đó, con người trẻ mãi

Mãi mãi tuổi hai lăm

Sẽ không già nua, sẽ không thể chết...

(Tựa Sử thi Mông Cổ Giang Cách Nhĩ)

Sự phong phú về số lượng tàng trữ, sự đa dạng về chủng loại, phức tạp về hình thức và sự lâu đời của quá trình truyền tụng của sử thi Trung Quốc đều thuộc loại hiếm trên thế giới ngày nay. Nghệ nhân diễn xướng sử thi là người kế thừa và truyền bá sử thi truyền miệng, đồng thời cũng là người sáng tác và lưu giữ sử thi. Nhưng do sự hạn chế về nhân tài vật lực, do sự mất mát về thời gian không thể nào vãn hồi mà chúng ta đã không thể không bỏ lỡ mất rất nhiều những ca sĩ vĩ đại và những nghệ nhân kiệt xuất của truyền thống truyền miệng và không còn biết lắng nghe từ đâu những di sản văn hóa truyền miệng dân gian đã được truyền xướng từ hàng trăm ngàn năm nay đó nữa. Cùng với việc đẩy nhanh tốc độ của tiến trình hiện đại hóa của Trung Quốc nói chung, tiến trình khai phá miền Tây nói riêng, sử thi truyền miệng đã phải đối mặt với những thử thách to lớn, số lượng những nghệ nhân diễn xướng sử thi cũng đang suy giảm một cách nghiêm trọng. Trước mắt, những nghệ nhân có thể diễn xướng ba bộ sử thi vĩ đại của Trung Quốc hầu hết đều đã tuổi cao sức yếu và đứng trước nguy cơ “nhân vong ca tức” [người mất tiếng hát tắt]. Trong dân gian vẫn còn rất nhiều nghệ nhân nắm giữ sử thi tài hoa xuất chúng mà do những nguyên nhân khác nhau, những bộ sử thi do họ diễn xướng chưa được ghi lại, trong đó một số nghệ nhân đã mất, sự trao truyền sử thi cũng đang đứng trước nguy cơ thất truyền, nếu không kịp thời cấp cứu, rất nhiều bộ sử thi của dân tộc được lưu truyền hàng trăm nghìn năm sẽ vĩnh viễn theo họ ra đi, gây ra những tổn thất không thể bù đắp cho văn hóa của dân tộc. Do đó, việc bảo vệ truyền thống sử thi, việc hỗ trợ các nghệ nhân sử thi, việc cấp cứu văn bản sử thi và việc thúc đẩy nghiên cứu sử thi đều vô cùng cấp bách.

Sử thi luôn là vật dẫn của tinh thần một dân tộc, là mạch nguồn không bao giờ cạn của văn học dân tộc. Bộ Bách khoa toàn thư sử thi truyền thống xuất bản năm 1994 tại Mĩ đã thu thập được ngót 1500 sử thi trên phạm vi toàn thế giới[33] . Theo tôi, đây là một thống kê rất bảo thủ và không toàn diện. Được biết chỉ riêng nước láng giềng Việt Nam thì số bộ sử thi được sưu tầm đã khá là khả quan song chưa mấy được biết đến trên thế giới. Nghiên cứu về truyền thống sử thi châu Phi cũng chỉ giới hạn trong phạm vi mấy khu vực. Công tác điều tra sưu tầm sử thi của Trung Quốc cũng chưa kết thúc, đợi đến khi tư liệu được sưu tập hoàn chỉnh ắt hẳn mọi người sẽ phải vô cùng thán phục trước sự phong phú về số lượng của nó. Song, đúng như Chung Kính Văn tiên sinh đã chỉ ra vào lúc giao thời giữa hai thế kỷ rằng: “Tính cho đến nay, quả thực chúng ta đã có những tích lũy nhất định trên phương diện tư liệu học và một số nghiên cứu chuyên đề, song mặt khác trên phương diện tìm tòi nghiên cứu về chỉnh thể l ý luận lại chưa đủ hệ thống và có chiều sâu, trong khi chính tại đây, chúng ta có thể có những thành tựu tiếp tục. Đặc biệt là trong vòng hai ba mươi năm trở lại đây, chúng ta chủ yếu dồn trọng tâm công việc vào các khâu cơ bản như sưu tập, ghi chép, chỉnh lý và xuất bản, công việc nghiên cứu cũng đa phần tập trung vào cấp độ tác phẩm cụ thể, vẫn còn thiếu các liên hệ lịch đại và đồng đại cùng các nhận thức vĩ mô, điều này sẽ hạn chế tầm nhìn của nghiên cứu lý luận, dẫn đến thiếu sót ‘thấy cây không thấy rừng’ trong cảm quan của chúng ta đối với sử thi Trung Quốc. Hiện trạng này nếu không được thay đổi sẽ dẫn đến việc trì trệ trong tiến trình xây dựng của cả ngành sử thi học Trung Quốc ” [34] .

Phải thừa nhận rằng, sự phát triển của sự nghiệp sử thi học trong những năm gần đây không phải đã hoàn toàn mỹ mãn, nhất là nếu xem xét từ bố cục khoa học của sử thi học quốc tế sẽ thấy các vấn đề tồn tại của Trung Quốc vẫn còn không ít. Khái quát lại, bao gồm mấy phương diện sau: về phương diện nghệ nhân, việc khảo sát hiện trạng về các nghệ nhân sử thi trên phạm vi toàn quốc vẫn chưa hoàn thành; đối với loại hình, phả hệ và tình trạng phân bố của nghệ nhân vẫn chưa hình thành được một sự miêu tả và phân tích hệ thống và sâu sắc; số lượng nghệ nhân được định hướng theo sát và việc xây dựng hồ sơ vẫn còn một khoảng cách khá xa so với yêu cầu khoa học. Trên phương diện văn bản, các khâu như hiệu chỉnh, phiên dịch, bảo quản, xuất bản và giải thích đối với các văn bản đã có vẫn còn rất nhiều đất để tiếp tục cải tiến; việc sưu tập, sang băng và ghi chép văn bản truyền miệng cần phải tích lũy kinh nghiệm và tái nhận thức tự giác hơn trên các phương diện như nghiên cứu điền dã, quan niệm chế tác văn bản dân tục học và mô hình công việc của nó. Trên phương diện xây dựng lý luận, những nghiên cứu tìm tòi mang tính quy luật, những trình bày và phát huy nguyên lý của chúng ta vẫn còn chưa tương xứng với tính đa dạng của truyền thống sử thi Trung Quốc; việc miêu tả và giải thích liên văn hóa, đa hình thái của chúng ta còn xa mới đạt yêu cầu; đối với ba loại hình lớn của sử thi Trung Quốc và các loại hình con của nó (ví dụ sử thi hồng thủy là loại hình con của sử thi sáng thế), chúng ta vẫn chưa tiến hành giới định lý luận và giải thích loại hình một cách khoa học; các khái niệm công cụ, hệ thống thuật ngữ, phương pháp luận lý luận và việc lần ra đầu mối các hệ hình nghiên cứu và nâng nó lên trình độ hệ thống hóa vẫn còn chưa đủ. Trên phương diện bố cục khoa học, việc phân bố lực lượng nghiên cứu sử thi miền Nam vẫn chưa đều, xu thế phát triển của nghiên cứu trường hợp vượt xa những thâu tóm vĩ mô mang tính tổng hợp, toàn cục; việc xây dựng đội ngũ khoa học sử thi và việc đào tạo bồi dưỡng các nhân tài chuyên nghiệp liên ngôn ngữ của chúng ta còn cách xa so với mục tiêu mà chúng ta đặt ra. Trên phương diện xây dựng chế độ hóa khoa học, trên các cấp độ như khu căn cứ điền dã, xây dựng hồ sơ số hóa, chia sẻ thông tin, tổng hợp tư liệu, cơ chế hợp tác, đào tạo học vị, giao lưu quốc tế... vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Sự hình thành của khối cộng đồng sử thi học còn cần phải phá bỏ rất nhiều thành lũy, thúc đẩy việc đối thoại và giao lưu giữa các ngành dân tục học, văn nghệ học dân gian, văn học dân tộc và cổ điển học, ngôn ngữ học, nhân loại học... mới có thể mở rộng tầm nhìn, thâu tóm hết tất cả, thực sự thực hiện được sự chuyển đổi về hệ hình của sử thi học.

Tất nhiên, việc xây dựng sử thi học Trung Quốc là một công trình hệ thống trường kỳ và phải đối mặt với rất nhiều thử thách. Trong bố cục của sử thi học quốc tế, làm thế nào để có thể có thêm nhiều tiếng nói của giới sử thi học Trung Quốc, làm thế nào để có thể duy trì và tiếp tục được nhiều hơn những nghệ nhân của các dân tộc trong hệ thống sinh thái văn hóa của truyền thống sử thi, để cho phức điệu mang tính đa dạng của sử thi Trung Quốc “sẽ không già đi, sẽ không thể chết”, chúng ta quả thực cần phải “truy vấn” nhiều hơn nữa, và cũng phải tích cực “trả lời” cho những truy vấn đó.

Bùi Thiên Thai dịch

 

 


Chú thích:

Bài viết này trích từ tham luận:“Từ Hô me đến P. Arimpil: Tái nhận thức về sự chuyển đổi hệ hình của sử thi học quốc tế” của Triều Qua Kim tại hội thảo liên ngành về sử thi học và nghiên cứu truyền thống truyền miệng lấy tên là Lớp huấn luyện về sử thi học và nghiên cứu truyền thống truyền miệng quốc tế IEL (IEL International Seminar Series on Epic Studies and Oral Tradition Research, gọi tắt là Lớp huấn luyện truyền miệng quốc tế IEL), từ 9-12/6/2009. Tham luận đã chọn ra 6 vị nghệ nhân sử thi nổi tiếng xuất hiện trong lịch sử khoa học, thông qua các “vấn đề” tập trung xoay quanh họ, từ đó mô tả những bước ngoặt mang tính cột mốc trong diễn tiến của sử thi học quốc tế. Sáu nghệ nhân sử thi đó là Hô me của cổ Hy Lạp, Avdo Medjedović của nam Tư, Lönnrot của Phần Lan, Vyasa của Cổ Ấn Độ, Ossian của Ai Len và P. Arimpil của Trung Quốc đương đại. Tác giả muốn từ những đầu mối lớn, những điểm then chốt để bàn rộng về dòng mạch kéo dài mấy nghìn năm của nghiên cứu sử thi quốc tế. Đây là cách làm lấy điể m để nói diện nhằm thoát khỏi cách làm thường thấy là kiểm kê lại các tài liệu và quan điểm theo tuyến thời gian. Ở đây chúng tôi chọn dịch phần thứ 6 của bài viết. Tên đề và các tiểu mục của bài viết do chúng tôi đặt

Tác giả Triều Qua Kim ( 朝戈金 ): GS.TS, Viện trưởng Viện Nghiên cứu văn học dân tộc - Viện KHXH Trung Quốc, Chủ nhiệm Trung tâm Nghiên cứu Truyền thống truyền miệng, Phó Chủ tịch Hội Dân tục học Trung Quốc (China Folklore Society, CFS), Phó Chủ tịch Hội Triết học và Khoa học Nhân văn quốc tế, Unessco (International Council for Philosophy and Humanistic Studies, UNESCO).

 

 

 

[1] . Cừu thư được biên soạn năm 1899, do Lương Khải Siêu đề tên sách, in mộc bản; năm   1902 in lại có sửa chữa, do Trâu Dung đề tên sách;  năm 1904 xuất bản tại Nhật, bản in tipô.

[2] . Con số cụ thể vẫn chưa có thống kê chi tiết. Nếu xét đến quan điểm cho rằng các dân tộc Đột Quyết có đến mấy trăm bộ sử thi và sử thi Mông Cổ ít nhất có đến 550 bộ, cộng thêm truyền thống sử thi của các dân tộc miền Nam thì con số hơn một nghìn sử thi vẫn còn là một thống kê tương đối bảo thủ.

[3] . P. S. Palls, Reisen durch verchiedene Provinzen des urssischen Reiches, St. Petersburg, 1771-1776.

[4] Abhandlungen der Berliner Akademie, năm 1851 và sau đó.

[5] Die Thaten Bogda Gesser chan’s, St. Petersburg, 1839.

[6] A Lower Ladakhi Version of the Kesar Saga, Calcutta, 1905.

[7] . Sau đó Tùng Ba đã gộp lại thành sách, lấy tên là Hỏi đáp về Cách Tát Nhĩ, được đưa vào bộVấn đáp trong Toàn tập Tùng Ba lưu giữ tại chùa Lạp Bốc Lăng, Cam Túc (Tr.11 – 16), xem:Cách Tát Nhĩ học tập thành, Quyển 1, Lan Châu, Nxb. Dân tộc Cam Túc, 1990, Tr 286-290.

[8] . Như trên, Tr 299-306

[9] . Nhậm Nãi Cường: “Giới thiệu bước đầu về Tam quốc của người Tạng”, Công luận vùng biên, Quyển 4, in gộp số 4, 5, 6, năm 1944; Xem thêm: Giáng Biên Gia Thố và các tác giả khác biên soạn: Các bài nghiên cứu về Truyện vua Cách Tát Nhĩ, Thành Đô, Nxb. Dân tộc Tứ Xuyên, 1986.

[10] . Bộ tùng thư này nằm trong chương trình của Nxb. Đại học Nội Mông Cổ, bao gồm Nhân Khâm Đạo Nhĩ Cát: Bàn về Giang Cách Nhĩ (1994); Cội nguồn của sử thi anh hùng Mông Cổ (2001); Lang Anh: Bàn về Mã Nạp Tư (1999); Giáng Biên Gia Thố: Bàn về Cách Tát Nhĩ; Lưu Á Hổ: Bàn về sử thi miền Nam (1999); Tư Khâm Ba Đồ: Giang Cách Nhĩ và văn hóa tôn giáo dân tộc Mông Cổ (1999). Do khuôn khổ có hạn, những phần có liên quan đến bố cục của nghiên cứu sử thi Trung Quốc và các thành quả lý luận có liên quan sẽ chủ yếu lấy thực tiễn khoa học của Viện Nghiên cứu văn học dân tộc – Viện KHXH Trung Quốc làm trục chính.

[11] . Về cơ bản có các loại như: Nghệ nhân được thần thác mộng [chỉ qua một giấc mơ mà biết hát kể sử thi, trong khi không hề biết chữ, không đọc được Tạng văn], nghệ nhân nghe biết [tức nghệ nhân nghe người khác hát kể hoặc đọc văn bản rồi sau đó mới biết hát kể], nghệ nhân ngâm tụng [cầm trong tay một văn bản sử thi để ngâm, đọc], nghệ nhân viên quang [dùng phù chú để có thể nhìn thấy từ trong gương những gì mà người thường không thể nhìn được, ví dụ những hàng thơ của sử thi Cách Tát Nhĩ], nghệ nhân quật Tạng [tức những nghệ nhân có thể khai quật những bảo vật của Phật giáo Tây Tạng, trong đó có kinh điển Truyện Cách Tát Nhĩ. Những bảo vật của Phật giáo Tây Tạng vào những thời điểm gian nguy đã được thần linh cất giữ trong sâu thẳm ký ức của một người nào đó, đến khi Phật giáo có cơ hội tái truyền, chỉ cần một khải thị của thần, nghệ nhân này sẽ hát kể làu làu hoặc ghi chép lại thành văn bản các kinh điển mà họ được thần truyền thụ]. Xem Giáng Biên Gia Thố: Cách Tát Nhĩ và văn hóa dân tộc  Tạng, Huhehaote, Nxb. Đại học Nội Mông Cổ, 1994; Dương Ân Hồng: Thần thơ dân gian – Nghiên cứu nghệ nhân Cách Tát Nhĩ, Bắc Kinh, Nxb. Tạng học Trung Quốc 1995.

[12] . Chi tiết xin xem: “Tiểu truyện P. Arimpil” (đăng trong Cách Tát Nhĩ III), Văn phòng chỉnh lý thư tịch cổ Nội Mông, Hiệp hội các nhà văn nghệ dân gian Tân Cương hợp tác biên soạn, Cách Nhật Lặc Đồ viết và chú thích, Huhehaote, Nxb. Khoa học Kĩ thuật Nội Mông Cổ, 1996, Tr 319-320; Nhân Khâm Đạo Nhĩ Cát: Bàn về Giang Cách Nhĩ, Huhehaote, Nxb. Đại học Nội Mông Cổ, 1999, Tr 41- 42; Giả Mộc Tra: Tìm hiểu cội nguồn của sử thi Giang Cách Nhĩ, Wulumuqi, Nxb. Nhân dân Tân Cương, 1996; Tháp Á sưu tầm và chú thích: Giang Cách Nhĩ của nghệ nhân P. Arimpil, Nxb. Đại học Chiba Nhật Bản, 1999; tài liệu kể miệng của Tháp Á.

[13] . Triều Qua Kim: Thi pháp sử thi truyền miệng: nghiên cứu trình thức cú pháp Giang Cách Nhĩ của P. Arimpil, Nam Ninh, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 2000.

[14] . Dẫn theo bài Tựa của giáo sư Chung Kính Văn viết cho Thi pháp sử thi truyền miệng: nghiên cứu trình thức cú pháp Giang Cách Nhĩ của P. Arimpil, Nam Ninh, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 2000, Tr 5. Ngoài ra trong bài phỏng vấn “Truyền thống sử thi miền Nam và việc xây dựng ngành sử thi học Trung Quốc”, ông đã đưa ra những ý kiến nhìn xa trông rộng của mình đối với việc nghiên cứu sử thi Nam – Bắc Trung Quốc cũng như bố cục của nó. Xem Nghệ thuật dân tộc, số 4 năm 2002

[15] . Những thông tin liên quan, xin xem: “Việc “đọc sai” sử thi truyền miệng – phỏng vấn Triều Qua Kim”, Nghệ thuật dân tộc, số 1, 1999.

[16] . Những biện luận liên quan xin xem Trần Vịnh Siêu chủ biên: Quan chiếu lịch sử ngành văn hóa dân gian Trung Quốc (Tập tham luận hội nghị lần thứ nhất diễn đàn văn hóa dân gian thanh niên), Nxb. Nhân dân Hắc Long Giang, 2004.

[17] . Ba Mạc: “Ngữ cảnh tự sự và môi trường biểu diễn – qua trường hợp truyền thống sử thi và khẩu chiến của dân tộc Di ngữ hệ Nặc Tô” Bình luận văn học, số 1, 2004, Tr 147-155.

[18] . Các công trình nghiên cứu điền dã có liên quan đến nghệ nhân và quần thể của họ có: Dương Ân Hồng: Thần thơ dân gian – Nghiên cứu nghệ nhân Cách Tát Nhĩ, Bắc Kinh, Nxb. Tạng học Trung Quốc 1995; Trên đường du lịch – Ghi chép tản mạn từ những thăm hỏi đối với các nghệ dân thuyết xướng Truyện vua Cách Tát Nhĩ của dân tộc Tạng, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 2007; Adili Jumatuerdi và Tuohan Yishake: Truyện ký về Hô me đương đại – Ju su pu Ma ma yi - bậc thầy diễn xướng Mã Nạp Tư, Nxb. Đại học Nội Mông Cổ, 2002; Triều Qua Kim: Anh hùng ca tuyệt xướng ngàn năm – ghi chép điền dã tản mạn về truyền thống sử thi của dân tộc người Vê Lát Mông Cổ, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 2004; ngoài ra gần đây còn có hệ thống bài viết về người biểu diễn sử thi và nhà khẩu chiến dân tộc Di của Ba Mạc.

[19] . Nặc Bố Vượng Đan: “Bước đầu bàn về “phục Tạng” Cách Tát Nhĩ”, Tập san nghiên cứu Cách Tát Nhĩ, Tập 6, Bắc Kinh, Nxb. Dân tộc, 2003

[20] . Ba Mạc: “Cấu trúc tự sự - Giới hạn văn bản – Ranh giới tự sự: Sự phát hiện tính tham chiếu truyền thống”, Nghiên cứu dân tục, Số 3/2004

[21] . Triều Qua Kim: “Về nghiên cứu thi ca truyền xướng truyền miệng – Vấn đề thi pháp truyền miệng”, Nghiên cứu văn nghệ, số 4/2002. Xem thêm: Triều Qua Kim, John Miles Foley [Mĩ]: “Năm vấn đề của thi pháp truyền miệng: Nghiên cứu so sánh 4 truyền thống lớn”, Tập san nghiên cứu văn học phương Đông, Trường Sa, Nxb. Văn nghệ Hồ Nam, 2003, Tr 33 – 97.

[22] . Vào những năm 80 của thế kỷ trước, Viện Nghiên cứu văn học dân tộc thiểu số - Viện KHXH Trung Quốc đã biên soạn một cách hệ thống hai tập tư liệu phiên dịch nội bộ lấy nghiên cứu sử thi làm trọng tâm lấy tên là: Bộ tùng thư về văn học dân tộc; sau đó còn có các công trình dịch khác như: Nekljudov [Nga], Từ Thành Hàn, Cao Văn Phong, Trương Tích Trí dịch: Sử thi anh hùng của nhân dân Mông Cổ (Nxb. Đại học Nội Mông Cổ, 1991); Rolf Alfred Stein [Pháp], Cảnh Thăng dịch: Nghiên cứu sử thi Tây Tạng và nghệ nhân thuyết xướng, Nxb. Nhân dân Tây Tạng, 1993;John Miles Foley [Mĩ], Triều Qua Kim dịch: Thi pháp truyền miệng: Lý luận Parry – Lord , Nxb.Văn hiến Khoa học Xã hội, 2000; Albert B. Lord [Mĩ], Doãn Hổ Bân dịchNgười diễn xướng truyện, Trung Hoa thư cục, 2003; Gregory Nagy [Hung], Ba Mạc dịchCác vấn đề về Hô me, Nxb. Đại học Sư phạm Quảng Tây, Quế Lâm, 2008. Đồng thời với việc các cá nhân liên tiếp công bố các công trình dịch một cách có hệ thống, chuyên đề Nghiên cứu truyền thống truyền miệng Bắc Mĩ do Viện Nghiên cứu Văn học Dân tộc (thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc) tổ chức phiên dịch (Nghiên cứu văn học dân tộc, số phụ san đặc biệt năm 2000) cũng phát huy vai trò quan trọng trong nghiên cứu và giảng dạy.

[23] . Triều Qua Kim: Thi pháp sử thi truyền miệng: nghiên cứu trình thức cú pháp Giang Cách Nhĩ của P. Arimpil, Nam Ninh, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 2000

[24] . Khung thao tác “5 tại chỗ” này là mô hình nghiên cứu và đúc rút lý luận có ý nghĩa kiểu mẫu được rút ra từ trong nghiên cứu điền dã trường hợp cụ thể, khung thao tác này bao gồm: sự có mặt tại chỗ của truyền thống sử thi, của sự kiện biểu diễn, của người biểu diễn, của người tham dự (khán thính giả) và sự có mặt tại chỗ của người nghiên cứu; đặc biệt nó yêu cầu 5 yếu tố có chức năng trọng yếu này phải “đồng thời có mặt tại chỗ”, nhằm xác lập một tầm nhìn cho nghiên cứu tương tác giữa “ngữ cảnh tự sự - tình huống biểu diễn”, từ mối quan hệ giữa đối tượng nghiên cứu và người nghiên cứu thiết lập một mô hình làm việc mang tính thao tác. Xem thêm: Liêu Minh Quân, Ba Mạc: “Khung 5 tại chỗ của nghiên cứu điền dã”, mục Phỏng vấn khoa học, Nghệ thuật dân tộc, số 3/ 2 004.

[25] . Xem: Doãn Hổ Bân: Kinh điển cổ đại và truyền thống truyền miệng, Nxb. Khoa học Xã hội, 2002 và các bài nghiên cứu khác về sử thi của tác giả .

[26] . Viện Nghiên cứu văn học dân tộc – Viện KHXH Trung Quốc đã xây dựng 10 căn cứ địa nghiên cứu điền dã truyền thống truyền miệng tại khu vực các dân tộc miền Tây, phần lớn định vị ở nghiên cứu theo sát và quan sát định điểm truyền thống sử thi.

[27] . Viện Nghiên cứu văn học dân tộc – Viện KHXH Trung Quốc đã thực hiện đề tài do Unessco ủy thác khẩn cấp vào tháng 9 năm 2003, kết quả của đề tài nghiên cứu điều tra này xin xem: Triều Qua Kim (chủ biên): Tính đa dạng văn hóa và đồng thuận tộc người của miền Tây Trung Quốc: Báo cáo về hiện trạng của truyền thống truyền miệng các dân tộc thiểu số dọc con đường tơ lụa, Bắc Kinh, Nxb. Văn hiến Khoa học Xã hội, 2008 .

[28] . Xem bút đàm (nhiều tác giả): “Cấu trúc con đường sinh mệnh của di sản văn hóa dân tộc thiểu số Trung Quốc”, Báo Dân tộc Trung Quốc, ngày 11/4/2006.

[29] . Ví dụ: Tư Khâm Mạnh Hòa chủ trì: Cách Tát Nhĩ toàn thư, Quyển 1-5, Nxb. Dân tộc, 2002 – 2008; Đan Bố Nhĩ Gia Phủ: Khả Nhĩ Mai Khắc (Giang Cách Nhĩ: bản hiệu chú), Nxb. Dân tộc, 2002; Hãn Cáp Nhiễm Quý──Sử thi anh hùng của người Vê Lát [tên gọi của bộ tộc Ngõa Thích vào đời Thanh]: văn bản và hiệu chú (Nxb. Dân tộc, 2006); Lang Anh, Thứ Vượng Tuấn Mỹ, Dương Ân Hồng chủ trì: Các bản thuyết xướng “Cách Tát Nhĩ” của nghệ nhân Tang Châu (trọn bộ hơn 40 quyển, đã xuất bản được gần một nửa), Nxb. Cổ tịch Tạng văn Tây Tạng, 2001-; Giáng Biên Gia Thố chủ trì: Tinh tuyển Cách Tát Nhĩ (gồm 40 quyển trong kế hoạch, đã xuất bản 10 quyển, Nxb. Dân tộc, 2002-; Nhân Khâm Đạo Nhĩ Cát và Sơn Đan chủ trì: Châu Cái Mễ Cát Đức / Hồ Đức Nhĩ A Nhĩ Thái Hãn, Nxb. Dân tộc, 2007 và Na Nhân Hãn Hồ Bố Ân, Nxb. Dân tộc, 2007; Nhân Khâm Đạo Nhĩ Cát, Triều Qua Kim, Tư Khâm Ba Đồ, Đan Bố Nhĩ Gia Phủ chủ trì: Đại hệ sử thi anh hùng Mông Cổ, 4 quyển, đã xuất bản Quyển 1, 2007, Quyển 2, 2008...

[30] . Ở đây chỉ lấy ví dụ từ những thành quả nghiên cứu sử thi của các học giả trẻ thuộc Viện Văn học dân tộc thiểu số - Viện KHXH Trung Quốc nhằm giúp độc giả hình dung về sự hình thành của đội ngũ khoa học này cũng như phương hướng nghiên cứu hiện nay của nó: Triều Qua Kim: Thi pháp sử thi truyền miệng: nghiên cứu trình thức cú pháp Giang Cách Nhĩ của P. Arimpil, Nam Ninh, Nxb. Nhân dân Quảng Tây, 2000; Doãn Hổ Bân: Kinh điển cổ đại và truyền thống truyền miệng, Nxb. Khoa học Xã hội, 20002; Tư Khâm Ba Đồ: Sử thi Mông Cổ: Từ trình thức đến ẩn dụ (Nxb. Dân tộc, 2006); Adili Jumatuerdi: Nghiên cứu nghệ nhân sử thi ‘Mã Nạp Tư’, Nxb. Dân tộc, 2006; Đan Bố Nhĩ Gia Phủ: Nghiên cứu truyện kể anh hùng Vê Lát, Nxb. Dân tộc, 2006; Hoàng Trung Tường: Sử thi anh hùng Ca-dắc-xtan và văn hóa thảo nguyên , Nxb. Biên dịch Trung ương, 2007; Ngoài ra còn có các công trình sắp xuất bản của Ba Mạc: Truyền thống sử thi và nghiên cứu điền dã; Lý Liên Vinh: Lịch sử vấn đề của sử thi dân tộc Tạng ‘Cách Tát Nhĩ’. Ngoài ra, những nghiên cứu chuyên đề về sử thi Mông Cổ được đăng tải trong những năm gần đây của TS Tháp Á ở Nội Mông Cổ và những nghiên cứu hệ thống về truyện dân gian Mãng Cổ Tư và nghệ thuật thuyết thư của vùng Đông Mông Cổ của TS Trần Cương Long của Đại học Bắc Kinh đều rất phù hợp với phương hướng nghiên cứu này. Công trình Tự sự truyền miệng và truyền thuyết làng mạc – Nghiên cứu về truyền thuyết công chúa và xã hội, phong tục tín ngưỡng của làng Chu Lạp Tẩm, Nxb. Dân tộc, 2004 cũng có thể coi là một thành quả nghiên cứu chịu ảnh hưởng của xu thế mới là sử thi học và truyền thống truyền miệng, mặc dù đề tài mà công trình này thảo luận không có liên quan trực tiếp gì với sử thi.

[31] . Lưu Tông Địch: “Từ hệ hình Viết đến hệ hình Truyền miệng: Bàn về sự chuyển đổi hệ hình và sự độc lập khoa học của văn nghệ học dân gian”, Nghiên cứu văn học dân tộc, số 2/2004

[32] . Như: Triều Qua Kim tham khảo khung khái niệm chung của “ba trào lưu lớn” của Folklore, kết hợp với biểu đạt truyền thống của sử thi dân tộc Mông Cổ quy nạp ra Giản thích thuật ngữ sử thi và loại hình văn bản sử thi; Doãn Hổ Bân tham khảo sâu các thuật ngữ sử thi phương Tây và suy xét đa chiều đối với thực tiễn truyền thống truyền miệng của Trung Quốc; Ba Mạc đề xuất các khái niệm “cách thức hóa”, người biểu diễn, quy trình và tình huống, ngữ cảnh tự sự, cấu trúc hình thức, đặc biệt là khái niệm “5 tại chỗ”...; hầu hết tất cả đều đến từ hệ thống tri thức bản thổ và hội nhập học thuật trên phương diện ngữ nghĩa học và ngữ dụng học cùng với tầm nhìn kết nối Đông Tây trên phương diện xây dựng lý luận sử thi học.

[33] . Guida M. Jackson, Encyclopedia of Traditional Epics. New York: Reed Business Information, Inc. 1994.

[34] . Dẫn theo bài Tựa của giáo sư Chung Kính Văn viết cho Thi pháp sử thi truyền miệng: nghiên cứu trình thức cú pháp Giang Cách Nhĩ của P. Arimpil, Nam Ninh, Nxb. Nhân dân Quả ng Tây, 2000, Tr 7.

 

Các tin đã đưa ngày: