N.I. Konrad: giải thích văn bản và so sánh văn học

07/11/2013

Nhận thấy nhiều quan điểm và phương pháp nghiên cứu của Konrad vẫn có ý nghĩa thời sự đối với khoa học nhân văn của chúng ta hiện nay, và nhân cuốn Tuyển tập N.I. Konrad sắp ra mắt, chúng tôi muốn có một vài lời trình bày nhận thức hiện nay của mình về một số tư tưởng khoa học của ông để chia sẻ cùng bạn đọc.

N.I. Konrad: giải thích văn bản và so sánh văn học

 

Trịnh Bá Đĩnh

 

Cách đây chừng mười năm, bản dịch hai cuốn sách Phương Đông và phương TâyVăn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại(1) của Viện sĩ N.I. Konrad đã ra mắt độc giả nước ta, trong đó tập hợp một số khá lớn những công trình của ông. Những người làm văn học, nhất là những người quan tâm đến phương Đông học đã đón nhận chúng một cách nhiệt tình. Hiện nay, hai cuốn sách ấy với những quan điểm khoa học của Konrad vẫn được dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh tiến sĩ ở một số trường đại học. Mười năm qua, chúng tôi vẫn tiếp tục dịch thêm và suy nghĩ tiếp về các công trình của ông. Nhận thấy nhiều quan điểm và phương pháp nghiên cứu của Konrad vẫn có ý nghĩa thời sự đối với khoa học nhân văn của chúng ta hiện nay, và nhân cuốn Tuyển tập N.I. Konrad sắp ra mắt, chúng tôi muốn có một vài lời trình bày nhận thức hiện nay của mình về một số tư tưởng khoa học của ông để chia sẻ cùng bạn đọc.

N.I. Konrad (1891-1970) thuộc lứa những nhà khoa học nhân văn Nga tốt nghiệp các trường đại học thời Sa hoàng quãng chiến tranh thế giới lần thứ nhất và đi vào con đường hoạt động khoa học vào những năm 20 của thế kỷ XX. Thế hệ này với nhiều tên tuổi lớn đã đưa danh tiếng và ảnh hưởng của khoa học nhân văn Nga đến nhiều nơi trên thế giới: M. Bakhtin, R. Jakovson, V. Propp cùng các nhà hình thức luận khác, rồi các nhà phương Đông học: Viện sĩ, nhà nghiên cứu Phật giáo O. Rozenbert, nhà Kinh Dịch học Iu. Tschustki và nhiều tên tuổi khác nữa. Trong thập kỷ 20 và đầu thập kỷ 30 ở Nga, trọng tâm của khoa học ngữ văn là vấn đề giải thích văn bản. Nghiên cứu của các nhà hình thức chủ nghĩa tập trung giải thích sự đặc thù của văn bản thơ, tổ chức câu thơ (B. Tomashevski, B. Eikhenbaum) và văn bản văn xuôi (V. Sklovski), sự khác biệt giữa văn bản nghệ thuật với các loại văn bản khác (R. Jakovson). V. Propp viết Hình thái học truyện cổ tích, ngay cả M. Bakhtin viết Thi pháp của Dostoievski cũng theo tinh thần ấy. Các nhà phương Đông học Nga đầu thế kỷ XX chịu ảnh hưởng của xu hướng chung. Không giống với phương Đông học của các nước châu Âu khác như Pháp, Đức, phương Đông học Nga nổi bật ở tính chất ngữ văn học. Có thể nói, phương Đông học Nga là khoa học về ngữ văn phương Đông. Các nhà phương Đông học Nga cho rằng, ở phương Đông các tư tưởng triết học, lịch sử, tôn giáo, đạo đức… đều được biểu hiện bằng hình thức văn học, nghệ thuật - văn, sử, triết bất phân; trí thức phương Đông soạn sử, lập thuyết cũng tự xem là đang làm văn. Dĩ nhiên khái niệm văn học lúc ấy về nội hàm không hoàn toàn giống hiện nay. Cách xác định văn học của chúng ta hiện nay chủ yếu theo lối phương Tây, mà cũng không phải phương Tây nói chung mà là phương Tây từ thế kỉ XIX hoặc cùng lắm từ thời Phục hưng. Do vậy, khi nghiên cứu tôn giáo, triết học, đạo đức phương Đông không thể tách rời việc nghiên cứu quan niệm văn học, các thủ pháp sáng tạo nghệ thuật. Tư tưởng khoa học ấy rõ ràng là rất đúng đắn. Nghiên cứu ngữ văn là nghiên cứu ngôn ngữ của văn bản và cách tổ chức văn bản, hầu hết các nhà phương Đông học Nga bấy giờ đều nắm vững ngôn ngữ các dân tộc phương Đông, không phải thạo một mà thạo đến mấy ngôn ngữ. Konrad viết: Trong ngành ngữ văn học phương Đông ngay từ đầu đã hiện diện toàn bộ tổ hợp các khoa học nhân văn. Và chính là một tổ hợp, chứ không phải một tập hợp bình thường. Hiểu được công trình văn tự - nghĩa là trước hết phải hiểu được chữ viết và ngôn ngữ của nó, chữ viết và ngôn ngữ mà lúc đó nó được viết nên. Vì thế nhà nghiên cứu ngữ văn phương Đông học nhất thiết không chỉ phải biết thứ ngôn ngữ phương Đông đó và chữ viết của nó, mà còn phải biết chúng theo dòng lịch sử. Tiếp theo, hiểu được công trình văn tự - nghĩa là phải hiểu bản chất văn học của nó, bởi vì bất kỳ công trình văn tự nào, dù hình thức và nội dung của chúng có ra sao, thì cũng là một tác phẩm văn học. Dĩ nhiên, với điều kiện không tiếp nhận khái niệm “văn học” trong những khuôn khổ hữu hạn mà người ta đưa nó vào ở thế kỷ XIX, mà lấy nó ở ý nghĩa khởi thuỷ – như biểu thị về các tác phẩm chữ viết(2).

Konrad xuất hiện đầu tiên với tư cách một nhà nghiên cứu ngữ văn Nhật bản, chính ông là tác giả bộ Từ điển Nga - Nhật 2 tập đồ sộ hiện nay vẫn được sử dụng ở Nga. Sau một chuyến đi dài nhiều năm đến sống ở Nhật Bản để nghiên cứu truyền thống văn hóa tiền Phật giáo của Nhật Bản, khi về nước Konrad cho ra mắt hai công trình có giá trị là Sơ thảo thi pháp Nhật Bản (1924) và Khảo luận về Isé-monogatari (1925). Chính ở đây, Konrad thể hiện như một nhà giải thích văn bản uyên bác và tài năng. Công trình Thi pháp Nhật Bản rõ ràng được viết theo tinh thần của các nhà hình thức luận. Konrad đã phân tích chi tiết các thủ pháp, các nguyên tắc tổ chức câu thơ, khổ thơ, cấu trúc thể loại thơ, chức năng và ý nghĩa của chúng trong việc tạo nên vẻ đẹp của thi ca Nhật Bản. Đáng quan tâm đặc biệt là công trình thứ hai, về Isé-monogatari (Truyện chàng Isé). Ở đây, quan niệm về văn bản, cách phân tích cấu trúc văn bản của Konrad cho đến nay tỏ ra vẫn rất hiện đại, thậm chí ở một số mặt còn khả thủ hơn cả cách làm của các nhà cấu trúc ký hiệu học về sau. Thực tế thì Konrad cũng rất quan tâm đến các nghiên cứu cấu trúc ký hiệu học. Theo nhà ngôn ngữ học và ký hiệu học Nga nổi tiếng V. Ivanov, trong khi xem xét sự tương đương của các phương thức biểu hiện nghệ thuật (chữ viết tượng hình, ngôn ngữ) đối với cùng một tư tưởng giữa hai nền văn hóa Nhật Bản và Trung Quốc, Konrad đã tiến đến quan niệm xem ngôn ngữ như là các mã hiệu rất gần với quan điểm của các nhà ký hiệu học. Năm 1961, tại Hội nghị khoa học về việc áp dụng các phương pháp toán học vào nghiên cứu nghệ thuật được tổ chức tại thành phố Gorki, bên cạnh các nhà khoa học trẻ đến từ Moskva và Leningrat người ta thấy có sự tham gia của hai Viện sĩ N.I. Konrad và A.V. Konogorov. Cần biết rằng hội nghị đó là một trong những hoạt động khoa học của trường phái cấu trúc - ký hiệu học Moskva - Tartu nổi tiếng toàn thế giới.

Điều làm nên tính hiện đại trong công trình của Konrad về Isé-monogatari là ở chỗ khi giải thích cấu trúc văn bản, ông đã xem xét cả các cấu trúc hiện hữu lẫn các “cấu trúc vắng mặt” (chữ của Umberto Eco) trong văn bản, tức “phản ứng” của người đọc. Isé-monogatari nhìn qua có ấn tượng là một thi tuyển (cùng loại với Truyện Vương Tường của Việt Nam ở thế kỉ XV) gồm 125 “tiểu phẩm” (tiểu đoạn). Mỗi “tiểu phẩm” có phần thơ và phần văn xuôi, thơ là trọng tâm, văn xuôi như là sự đề dẫn, nhận xét, thuyết minh hoàn cảnh và lý do làm cho nó xuất hiện. Các “tiểu phẩm” (hay tiểu đoạn) dường như độc lập với nhau, vị trí của chúng trong “thi tuyển” dường như không có gì đặc biệt, nói chung là có thể đổi chỗ cho nhau. Konrad đã phân tích cấu trúc từng tiểu phẩm, các thủ pháp làm cho chúng độc lập với nhau về hình thái học, song ông cũng chỉ ra tính thống nhất của toàn bộ tác phẩm như một chỉnh thể, trong đó các yếu tố trữ tình phối hợp với nhau “làm nên dòng cảm xúc chảy suốt toàn bộ chỉnh thể, làm nền tảng cho tất cả các tiểu phẩm, chúng vận động tuần tự hoặc thăng tiến đến cao trào”, còn các yếu tố văn xuôi nhằm khởi động cho cảm xúc. Nói chung, yếu tố trữ tình hút vào mình các “tiểu phẩm” (tạo sự thống nhất), yếu tố văn xuôi “không hút vào mình toàn bộ các yếu tố cấu trúc của các tiểu phẩm mà dãn chúng ra” (tạo sự độc lập). Tác phẩm Isé-monogatari là sự cân bằng động giữa hai xu thế này. Tuy nhiên, điều lạ lùng nhất là ngay từ khi đó, Konrad đã nhận thấy vai trò của người đọc trong việc tổ chức tác phẩm. Konrad viết: “Mỗi tiểu phẩm của Isé-monogatari đều có vế đáp lại của mình nhưng không phải ở trong mà ở ngoài tác phẩm. Người đọc cần trả lời tác giả, tác giả cũng tin chắc như vậy. Chàng phong lưu công tử (nhân vật chính của tác phẩm) kết thúc bài thơ của mình, nhưng không chấm hết, không đóng kín mà chừa sẵn ra một chỗ. Cũng như vậy, tác giả của tác phẩm này không khép lại cánh cửa sáng tạo mà chờ đợi sự tương thông với “điểm hẹn” mà độc giả sẽ đến”(3). Nghiên cứu cấu trúc văn bản ở Konrad không tách khỏi việc nghiên cứu cấu trúc xã hội - tinh thần thời đại mà tác phẩm nảy sinh, nghiên cứu Isé-monogatari  không tách khỏi việc nghiên cứu chủ nghĩa duy mĩ trong lối sống thời đại Heian của Nhật Bản. Đối với Konrad, phía sau chữ (chí ít là chữ tượng hình), phía sau kí hiệu luôn là Tinh Thần. Trong Về khái niệm văn ở Trung Quốc - một tiểu luận viết xong từ năm 1942 nhưng mãi về sau mới được xuất bản, Konrad đã nhận thấy phía sau những phù hiệu của Kinh Dịch (Quẻ: 64 phù hiệu tượng trưng) là quan niệm của người Trung Quốc cổ về thế giới, giới tự nhiên và số phận con người. Theo ông, lúc đầu “văn bản” này không có lời văn (tức chỉ có phần Kinh), lời văn (phần truyện) chỉ được thêm vào khi cần phải giải thích văn bản để thi hành các hoạt động thực tiễn. Khi làm việc với các văn bản ngữ văn, Konrad không bao giờ chỉ dừng lại ở việc phân tích các thủ pháp tổ chức văn bản, các tổ chức ngôn ngữ mà luôn thấy ở các cấu trúc đó tinh thần của nhà văn, đặc thù của văn hoá thời đại. Nhà phân tích văn bản ở ông không bao giờ tách khỏi nhà nghiên cứu lịch sử văn hoá. Cách phân tích Tám bài thu hứng của Đỗ Phủ là một bằng chứng (nhiều độc giả Việt Nam biết rõ thi phẩm này của Đỗ Phủ). Sau khi phân tích kết cấu của văn bản và tư tưởng của cả tám bài, ông đã nhìn thấy giữa chúng có một sự thống nhất toàn vẹn.Tốt nhất ta hãy đọc trực tiếp một đoạn trong bài viết của ông:

Tám bài “Thu hứng” thật sự không thể làm vừa lòng những ai chủ trương rằng thơ ca phải rõ ràng về tư tưởng và biểu đạt bằng những từ ngữ chính xác, trong thơ không có quyền để những chỗ phải phỏng đoán. Trong “Thu hứng” của Đỗ Phủ không có cái “sáng sủa mỹ lệ” ấy.

Trong bài thơ trước hết có hai bình diện: bên trong và bên ngoài. Bình diện bên ngoài là những cái mà nhà thơ thấy trong thiên nhiên, bình diện bên trong là những cái xảy ra trong tâm hồn nhà thơ. Cả hai bình diện không tách rời nhau, nó nhịp vào nhau, quyện lấy nhau rất là kỳ lạ. Trên bề mặt tưởng  như có một dòng gì đấy đang chảy, nhìn ra rất xác định, nhưng bỗng nhiên một dòng khác đâu từ đáy sâu chảy ra và trên mặt lại xuất hiện một dòng khác, có khi dòng thứ nhất không biến mất mà dòng thứ hai nhập một với dòng này, nhập một nhưng không phải là hoà lẫn vào nhau. Có  một cái gì đó, chịu sự chi phối của cả hai dòng nhưng nó rất mờ ẩn, dấu kín đâu tận đáy sâu, không hề biểu  lộ ra bên ngoài.

Mỗi một trong hai bình diện cơ bản ấy lại có hai bình diện. Trên bình diện bên ngoài lẫn lộn cái nhà thơ thấy trực tiếp trước mắt tức là cảnh mùa thu ở Quỳ Châu với cái ông hình dung trong đầu về kinh thành Tràng An xa xôi. Cả hai trường hợp vừa có hiện tại vừa có tương lai. Nói cách khác, trước mắt ta là hai bình diện không phải chỉ về không gian mà cả thời gian.

Về bình diện bên trong kết hợp cả cái riêng và cái chung, xuất hiện những suy nghĩ về mình, về cuộc đời không may của mình và ngay cạnh đó là về nước nhà về tình cảnh đau thương của đất nước. Chỗ này và chỗ kia, hiện tại và quá khứ nhập làm một, một cách kỳ lạ.

Và cuối cùng, là một cặp hai bình diện khác: sự lẫn lộn hiện thực và ảo tưởng. Sự lẫn lộn như thế xảy ra cả ở bình diện bên trong và bên ngoài: vừa là những địa điểm hoàn toàn thực, những chi tiết của hoàn cảnh rất cụ thể vừa là  một thế giới kỳ ảo; vừa là lịch sử hoàn toàn chân thực với những chi tiết rất chính xác, vừa là lịch sử khoác cái áo thần thoại hoàn toàn, trong trường hợp sau dùng cái thực tại và cái tưởng tượng kết hợp với nhau rất kỳ lạ.

Thêm vào tất cả những điều trên đây là một quan điểm đặc biệt, hầu như đứng về phía cái chỉnh thể, cái toàn bộ(4).

Thật không có gì rõ ràng hơn để thấy Konrad như một nhà phân tích cấu trúc văn bản rất đặc biệt.

Chắc là việc nghiên cứu văn hoá, văn học Nhật Bản đã đưa Konrad đến việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Nhật Bản và Triều Tiên, và đặc biệt là với Trung Quốc về phương diện văn hoá. Nó cũng kích thích ông có những chuyến đi dài nhiều năm đến hai đất nước này. Tìm hiểu văn học Nhật Bản thời trung đại, không chỉ Konrad mà bất kì ai cũng thấy được văn học Nhật đã chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc như thế nào. Có thể dẫn ra nhiều ví dụ, chẳng hạn những truyện truyền kì nổi tiếng trong tập Otogi - soko (ra đời năm 1666) là sự phóng hoạ lại Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu  (cuối thế kỉ XIV), thơ về rượu của Omara Haiama là gần gũi với thơ của nhóm Trúc lâm thất hiền thế kỉ III, ví như với thơ Nguyễn Tịch. Khi nghiên cứu văn học thời Heian của Nhật Bản, Konrad tỏ ra rất tâm đắc với một chi tiết trong nhật kí của viên quan Fujiwara Takemori (sống ở thế kỉ IX) kể về việc Takemori bị thất sủng buộc phải đến trị nhậm tại một vùng xa xôi, làm thanh tra cửa khẩu tại cảng Kinsho, năm 838 trong một lần khám xét thuyền buôn của người Trung Quốc, ông ta thu được một thi phẩm của Bạch Cư Dị vừa mới xuất bản ở Trung Quốc. Ông đã nhờ người đưa về kinh đô tặng nhà vua vì hiểu rằng nhờ thi tập mới của Bạch Cư Dị ông sẽ nhận được ân huệ. Quả thực, Takemori đã không lầm! Chi tiết đó cũng cho thấy người cầm quyền ở thời đại Heian của Nhật Bản say mê và hiểu biết văn học như thế nào. Bạch Cư Dị khi đó vẫn còn sống (mới 66 tuổi) mà thơ ông đã được toàn vùng văn hoá biết đến, thi phẩm của ông đã trở thành các món hàng cực lãi đối với thương nhân, tại Nhật Bản và Triều Tiên có thể đổi được cả trăm lạng vàng. Điều quan trọng đây là một thứ hàng “không thể làm giả” vì người ta sẽ nhận ra ngay. Theo Konrad các bài Trường hận ca, Tì bà hành của Bạch Cư Dị khi đó không chỉ có những người thuộc tầng lớp học vấn cao của Nhật Bản đọc mà ở tầng lớp bình dân người ta cũng biết(5).

Từ đó, con đường đã dẫn Konrad đến việc nghiên cứu hành tinh lớn nhất của hệ văn hóa khu vực, đấy là văn hóa Trung Quốc cổ trung đại. Trong các thập kỷ 50 và 60, Konrad viết nhiều công trình về văn học, triết học, sử học Trung Quốc. Ông tập trung nghiên cứu hai thời kỳ: Thời Xuân Thu, mà ông gọi là “những thế kỷ vàng” của văn hóa cổ đại Trung Quốc, và thời Đường Tống - “thời Phục hưng Trung Quốc” như tên một bài viết của ông. Thời Xuân Thu, thời của Khổng Tử, Lão Tử và các trước tác của họ được Konrad xem là thời đại xác lập nền tảng triết học, sử học, văn học (cả quan niệm về văn học), đối với văn hóa Trung Quốc và khu vực, nó có ý nghĩa như nền văn hóa Hi-La đối với châu Âu. Còn văn hóa Đường Tống, về đặc tính, sự phồn vinh của nó tương tự như thời Phục hưng Italia. Ông đã viết một loạt bài về "thời Phục hưng Trung Quốc" này: Về Hàn Dũ, về Đỗ Phủ, Lý Bạch, Vương Duy, văn xuôi của Bạch Hành Giảm...

Theo cách nhìn của Konrad thế giới (chính xác hơn là Cựu lục địa) thời cổ trung đại gồm 3 vùng văn hóa lớn, trong mỗi vùng có phần văn hóa chủ chốt và những nền văn hóa “vệ tinh”: đó là vùng Đông phần gồm văn hóa Trung Quốc và các nước Đông Á; vùng Trung phần gồm văn hóa Iran và các nước Trung - Cận Đông, Bắc Ấn Độ, Trung Á; vùng Tây phần - văn hóa Hy-La và các nước châu Âu ngày nay. Lịch sử Trung thế kỷ vừa là tiến trình thời gian qua ba giai đoạn: Trung thế kỷ sơ kỳ - Trung thế kỷ cổ điển (điển hình) - Trung thế kỷ hậu kỳ, vừa là quá trình vận động từ Đông sang Tây, thậm chí là sự chinh phục của phương Đông đối với phương Tây, bằng các phương tiện văn minh và cả vũ lực: thuốc súng, la bàn, gốm, lụa Trung Quốc thành vật quý của tầng lớp trên ở phương Tây; mũi giáo của quân kỵ Mông Cổ từng đâm tận vào trái tim châu Âu (thành Roma). Từ thời Cận đại bắt đầu một hành trình ngược lại: phương Tây chinh phục phương Đông cũng bằng cả các phương tiện văn minh và phản văn minh. Nói chung quan niệm lịch sử toàn thế giới thời Trung thế kỷ ở Konrad là có tính không - thời gian.

Từ chỗ xác nhận ở Trung quốc có giai đoạn Phục hưng, Konrad đi tới một đề xuất khoa học táo bạo nhất, đấy là luận điểm cho rằng trào lưu Phục hưng là hiện tượng có tính toàn thế giới (thể hiện tập trung ở các nền văn hóa chủ chốt) chứ không phải của riêng châu Âu; nó bắt nguồn từ quy luật về sự nảy sinh và biến đổi của các nền văn hóa lớn, quan trọng nhất là sự xuất hiện văn hóa đô thị phong kiến và giới trí thức thị dân đi liền với nó. Thời Phục hưng có ở Trung Quốc vào thế kỷ VIII; Iran: thế kỷ X; Italia: thế kỷ XIV tạo thành chuỗi dây chuyền từ Đông sang Tây. Sau khi Konrad qua đời, trong giới phương Đông học có những ý kiến nói rằng về cuối đời Konrad đã từ bỏ luận điểm này của mình, và nhiều người đã tin chắc điều đó. Tuy nhiên sự thực không phải như vậy: Konrad cũng như người thầy vĩ đại của mình, Viện sĩ V.M. Alekseev, chưa bao giờ thay đổi lập trường về tính toàn thế giới của hiện tượng Phục hưng. N.I. Konrad chỉ nhấn mạnh thêm sự khác biệt của những biến thể (variante) tính chất và trình độ khác nhau ở từng vùng(6). Quan điểm này đã gây nên một cuộc tranh cãi kịch liệt trong giới các nhà Phương Đông học và so sánh văn học Liên Xô ở các thập kỉ 60, 70(7). Cuộc tranh luận khoa học không ngã ngũ, dường như cả hai bên đều ít nhiều phải cân nhắc và điều chỉnh lại quan điểm của mình, song có một sự thật mà mọi người đều thừa nhận là ở các nước chủ chốt của phương Đông vào một giai đoạn lịch sử nào đó (Trung Quốc là thời kỳ Đường Tống) đã xuất hiện một Trào lưu nhân văn chủ nghĩa rộng lớn thể hiện trong mọi mặt của đời sống văn hóa: chống giáo lý khô cứng, quay về các giá trị thời cổ (bài: Hàn Dũ và sự khởi đầu của phong trào Phục hưng ở Trung Quốc)(8), đề cao con người và đời sống thế tục, sự hưng thịnh của văn học nghệ thuật, đô thị phát triển… Nghiên cứu của Konrad còn đưa đến một hệ quả nữa, nó củng cố cho một tư tưởng khoa học đã thành truyền thống của phương Đông học Nga: phê phán quan điểm “dĩ Âu vi trung”. Giáo sư Cao Xuân Hạo rất đề cao tư tưởng này của giới Phương Đông học Nga. Ông phê phán kịch liệt việc sử dụng mô hình ngôn ngữ học được khái quát từ một số ngôn ngữ Âu châu để nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt. Quan điểm và phương pháp nghiên cứu theo lối “dĩ Âu vi trung” là lấy những thước đo giá trị, các mô hình vốn được khái quát từ thực tiễn văn hóa, văn học Âu châu để đánh giá và làm thành phương pháp để nghiên cứu các nền văn hóa và văn học khác ngoài châu Âu. Konrad viết: Khi nói về chủ nghĩa trung tâm châu Âu, tôi muốn nói đến cách tư duy khoa học của chúng ta: dù ý thức hay vô thức chúng ta đều sử dụng những luận điểm được tạo ra bởi khoa học châu Âu (Trong bất kì trường hợp nào thì đó cũng là từ thế kỉ XVII - thời của Decart và Newton). Khi tôi nói “chúng ta”, tôi không định đề cập đến chỉ các học giả nước ta, thậm chí các học giả châu Âu và Mĩ, nghĩa là phương Tây nói chung, tôi muốn nói đến cả các học giả của phương Đông đương đại, và họ cũng hành động như thế về vấn đề này. Sự phê phán quan điểm “dĩ Âu vi trung” đối với chúng ta ngày nay vẫn còn là vấn đề thời sự. Cách đây vài chục năm ở ta đã có một công trình nghiên cứu về chủ nghĩa hiện thực trong Truyện Kiều của một nhà nghiên cứu tài hoa và rất đáng kính. Cuốn sách được viết hấp dẫn, song cái mô hình chủ nghĩa hiện thực với các nguyên tắc: nhân vật điển hình - hoàn cảnh điển hình, mâu thuẫn thế giới quan, sự chân thực của các chi tiết (những khái quát được thực hiện từ sáng tác của Banlzac, Stenhdan, Tolstoi,...) đã tỏ ra là không thuyết phục khi vận dụng vào nghiên cứu Truyện Kiều. Có thể có chủ nghĩa hiện thực của Nguyễn Du, cũng như vậy đối với Đỗ Phủ, Cao Bá Quát... nhưng nhất định phải theo những quy ước nghệ thuật hoàn toàn khác. Tình hình cũng tương tự như vậy đối với việc nghiên cứu Tự lực văn đoàn như một trào lưu sáng tác theo phương pháp lãng mạn chủ nghĩa với cái mô hình kiểu châu Âu. Thật khó thấy gì chung về phương pháp nghệ thuật của Nhất Linh, Khái Hưng với chẳng hạn V.Hugo của Pháp. Mà như ta biết Nhất Linh lại coi L.Tolstoi, một nhà văn “hiện thực chủ nghĩa” điển hình mới là người thầy về tư tưởng xã hội và nghệ thuật của mình. Chính Trương Tửu, một trong số ít những nhà phê bình trước năm 1945 vừa có khả năng suy ngẫm lí thuyết vừa hiểu rõ văn học thời bấy giờ, đã gọi Nhất Linh là nhà văn hiện thực. Nói chung “việc dịch chuyển máy móc các phạm trù được phát hiện trong lịch sử văn hoá phương Tây sang các hiện tượng văn hoá các nước phương Đông ẩn chứa nhiều hiểm họa”(9), những lời ấy của Konrad đối với chúng ta, những nhà nghiên cứu văn học Việt Nam hẳn còn gợi nhiều suy nghĩ1

    Hà Nội, 5.XI.2007

 

 (1) N.I. Konrad: Phương Đông và phương Tây. Nxb. Giáo dục, H, 1996; Tái bản 1997; Văn học Nhật Bản từ cổ đến cận đại. Nxb. Đà Nẵng, 1999.

(2) Ngành phương Đông học cũ và những nhiệm vụ mới, trong cuốn Phương Tây và phương Đông, Moskva, 1972, tr.7- 45.

(3) Văn học Nhật Bản, Sđd, tr.170.

(4) Phương Đông và phương Tây, Sđd., tr.129.

(5) Về kẻ môi giới văn học – Phương Đông và phương Tây, Sđd.

(6) N.I. Balasov: Vấn đề khả năng của những quá trình mang tính phục hưng trong các vùng văn hóa khác nhau, những cuộc tranh cãi và vấn đề kế tục những quan điểm của các Viện sĩ V.M. Alekseev và N.I. Konrad - Tin tức của Viện Hàn lâm khoa học Nga; Môn loại: Văn học và ngôn ngữ, 1997.

(7) I.X. Braginski: Phải chăng ở phương Đông có thời đại Phục hưng? (Trịnh Bá Đĩnh dịch). Tạp chí Văn học, số 7-1996, tr.54.

(8) Xem Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 9, 11-2005.

(9) Ngành phương Đông học cũ... Sđd, tr.26.

Nguồn: Nghiên cứu văn học, số 1/2008, tr.39-48

Các tin đã đưa ngày: