Cuộc trò chuyện giữa "Tôi" với Dorval

04/09/2013

Chỉ còn ít thời gian nữa là tròn ba trăm năm ngày sinh nhà văn, triết gia Pháp danh tiếng Denis Diderot (5.X.1713 - 31.VII.1784)...Diderot nổi danh là kiến trúc sư chính lãnh đạo biên soạn bộ Bách khoa toàn thư (Encyclopédie), một công trình đồ sộ gồm 28 tập khổ lớn với sự tham gia của trên một trăm bốn mươi triết gia, nhà khoa học, nhà văn… của thời đại, hoàn thành trong gần một phần tư thế kỷ từ khi bắt đầu khởi công cuối năm 1747 cho đến năm 1771 xuất bản tập cuối cùng, một công trình có ý nghĩa to lớn mang hơi thở cách mạng của thời đại bấy giờ.

Cuộc trò chuyện giữa "Tôi" với Dorval

Phùng Văn Tửu

 

Chỉ còn ít thời gian nữa là tròn ba trăm năm ngày sinh nhà văn, triết gia  Pháp danh tiếng Denis Diderot (5.X.1713 - 31.VII.1784).

Chúng ta biết Diderot là triết gia của chủ nghĩa duy vật trong thế kỷ Ánh sáng (thế kỷ XVIII) ở Pháp, tác giả của các công trình Những tư tưởng triết học (Pensées philosophiques, 1746), Cuộc dạo chơi của người theo chủ nghĩa hoài nghi (La Promenade du sceptique, 1747), Bức thư về những người mù để dùng cho những kẻ sáng mắt (Lettre sur les aveugles à l’usage de ceux qui voient, 1749), Giấc mơ của d’Alembert (Le Rêve de d’Alembert, 1769)…

Diderot cũng nổi danh là kiến trúc sư chính lãnh đạo biên soạn bộ Bách khoa toàn thư (Encyclopédie), một công trình đồ sộ gồm 28 tập khổ lớn với sự tham gia của trên một trăm bốn mươi triết gia, nhà khoa học, nhà văn… của thời đại, hoàn thành trong gần một phần tư thế kỷ từ khi bắt đầu khởi công cuối năm 1747 cho đến năm 1771 xuất bản tập cuối cùng, một công trình có ý nghĩa to lớn mang hơi thở cách mạng của thời đại bấy giờ.

Trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, độc giả Việt Nam từ lâu cũng đã quen với tên tuổi Diderot nhà mỹ học, tác giả Luận về cái đẹp (Traité du beau) xuất hiện lần đầu trong Bách khoa toàn thư, sau in thành sách riêng và đã được dịch sang tiếng Việt(1). Quan điểm “Cái thật, cái tốt và cái đẹp rất khăng khít với nhau” của ông ngày nay vẫn còn khiến chúng ta phải suy ngẫm. Ông là tác giả những cuốn tiểu thuyết Nữ tu sĩ (La Religieuse)(2), Jacques người theo thuyết định mệnh (Jacques le Fataliste)(3)…, mấy vở kịch Đứa con hoang (Le Fils naturel, 1757), Người cha trong gia đình (Le Père de famille, 1758)  Các bản dịch tiếng Việt Tuỳ bút về hội hoạ (Essai sur la peinture, 1765)(4), Ý kiến ngược đời về diễn viên (Paradoxe sur le comédien)(5) giúp đông đảo bạn đọc Việt Nam tiếp xúc với Diderot nhà phê bình nghệ thuật hội hoạ và sân khấu sắc sảo…

Một mảng sáng tác khác của Diderot khá phong phú nhưng ít được biết đến là các tác phẩm viết dưới hình thức “trò chuyện”, “đối thoại” rất độc đáo, trong đó các nhân vật trò chuyện được ghi tên bằng chữ in hoa ngay đầu mỗi lời thoại giống như ở kịch bản. Tiêu biểu nhất là Cháu ông Rameau (Le Neveu de Rameau)(6), cuộc trò chuyện giữa “Tôi” và “Hắn”. Có thể kể thêm Hắn và tôi (Lui et moi, 1762), Trò chuyện của người cha với các con (Entretien d’un père avec ses enfants, 1770), Trò chuyện giữa d’Alembert và Diderot (Entretien entre d’Alembert et Diderot, 1769, xuất bản 1830), Trò chuyện của một triết gia với Thống chế phu nhân*** (Entretien d’un philosophe avec la Maréchale de***, 1776)… Ý kiến ngược đời về diễn viên cũng là cuộc trò chuyện dài giữa “Người trò chuyện thứ nhất” và “Người trò chuyện thứ hai” Bộ phận tác phẩm ấy, dài có, ngắn có, lâu nay thường được các nhà nghiên cứu xếp vào thể loại “đối thoại triết học” (dialogue philosophique) hoặc “đối thoại tư tưởng” (dialogue d’idées).

Trong số các tác phẩm ấy, Những cuộc trò chuyện về “Đứa con hoang” (Entretiens sur “Le Fils naturel”, 1757) giữa “Tôi” và Dorval có vị trí đặc biệt cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật.

*

Đứa con hoang là vở kịch 5 hồi bằng văn xuôi Diderot sáng tác năm 1757 phỏng theo đề tài vở hài kịch Người bạn thật sự (Il vero amico) của nhà văn Italia Carlo Goldoni (1707-1793) trước đó hai mươi bảy năm.

Hành động kịch xảy ra tại phòng khách nhà Clairville, một người đàn ông khoảng ba mươi tuổi nhà ở cách Paris vài chục cây số. Trong nhà lúc này có Constance là người em gái đã goá chồng của Clairville, có cô thiếu nữ Rosalie đang chờ ông bố là cụ Lysimond đi xa biền biệt sắp về mang theo nhiều tài sản, để cưới Clairville, và có Dorval là anh bạn thân giàu có của Clairville. Dorval cảm thấy chàng yêu Rosalie trong tình huống Clairville lại nhờ chàng giúp níu kéo Rosalie vì thấy gần đây cô thiếu nữ có vẻ hững hờ với mình. Dorval chẳng biết tính sao liền lấy cớ phải về Paris có việc gấp. Thấy thế, Constance liền thổ lộ tình yêu với chàng (Hồi I). Rosalie tâm sự với cô hầu Justine là nàng không yêu Clairville nữa. Nàng cũng thổ lộ với Dorval là nàng yêu người khác và người đó là Dorval. Clairville đến gặp Dorval về công việc nhờ cậy. Dorval đành trả lời loanh quanh và cuối cùng quyết định ra đi. Chàng viết bức thư để lại cho Rosalie. Viết dở chừng thì nghe tin có chuyện xô xát giữa Clairville với đám lưu manh. Chàng vội xách kiếm đi cứu bạn (Hồi II). Clairville kể lại nguyên nhân vụ xô xát là do bọn chúng kháo nhau Constance yêu Dorval, còn Dorval lại yêu Rosalie của Clairville khiến Dorval phải thanh minh mãi với bạn. Đang khi bao chuyện rắc rối ấy xảy ra thì anh đày tớ André của cụ Lysimond đến báo tin chủ đã về tới Paris nhưng của cải bị cướp hết khi đang lênh đênh trên biển, lại bị bắt bị tù ở xứ người. Dorval sai đày tớ của mình là Charles lên ngân hàng ở Paris rút nửa tài sản, ngầm giúp cho cuộc hôn nhân của Clairville và Rosalie, lấy cớ con tàu của cụ Lysimond đã được bảo hiểm (Hồi III). Constance đọc lá thư Dorval viết dở dang cho Rosalie để trên bàn, tưởng chàng viết cho mình và yêu mình. Dorval thú thật chàng là đứa trẻ bất hạnh lúc sinh ra, gần như bị bỏ rơi, nhưng điều đó chẳng ngăn cản tình yêu của Constance. Rosalie vui vì cha sắp về nhưng buồn vì cảnh nghèo khổ thì vừa lúc nhận được giấy tờ một ngân hàng ở Paris trả bảo hiểm cho con tàu của bố (Hồi IV). Mọi nỗi éo le được giải quyết. Rosalie trở lại với Clairville; Dorval sẽ cưới Constance. Cụ Lysimond về đến nơi, mừng mừng tủi tủi gặp lại con gái Rosalie, gặp lại Dorval chẳng phải ai khác chính là con trai cụ, đứa con hoang, sau bao năm xa cách (Hồi V).

Vở kịch có phụ đề “Những thử thách của đức hạnh” (Les Épreuves de la vertu). Dorval đã không kể nguy hiểm chống trả bọn lưu manh để cứu bạn, đã vì bạn mà hy sinh tình yêu của mình, lại sẵn sàng sẻ nửa tài sản để vun đắp cho tình yêu của bạn với Rosalie.

      Ta có thể nghĩ rằng Những cuộc trò chuyện về “Đứa con hoang” xuất hiện sau khi vở kịch đã được diễn hoặc được in. Nhưng trong thực tế, Những cuộc trò chuyện… được in kèm cùng với vở kịch ngay khi ra mắt độc giả lần đầu  năm 1757. Ta cũng có thể nghĩ rằng cuộc trò chuyện về vở kịch sẽ diễn ra giữa hai nhân vật có thật ở thời đại bấy giờ, hoặc giữa tác giả Diderot với một người quen biết, hoặc thậm chí giữa hai người nào đấy không rõ lai lịch quan tâm đến sự kiện như trong các tác phẩm khác thuộc thể loại “trò chuyện” của ông.

Không phải thế, mà ở đây là cuộc trò chuyện giữa TÔI với DORVAL.

*

TÔI là ai và DORVAL là ai? Mở đầu Những cuộc trò chuyện… là mấy trang lời người kể chuyện xưng “tôi” cho biết tập 6 bộ Bách khoa toàn thư vừa xuất bản nên ông về thôn quê nghỉ ngơi thư giãn ít ngày. Ở vùng quê ấy lúc này người ta xôn xao bàn tán về chuyện một người tên là Dorval bất chấp nguy hiểm xả thân cứu bạn, lại vì bạn mà hy sinh tình yêu của mình, sẵn sàng sẻ nửa tài sản giúp bạn… Người kể chuyện cảm động, tìm gặp Dorval, và được Dorval tâm sự chuyện gia đình bao éo le, đau khổ của anh. Nghe chuyện, ông càng xúc động, bảo rằng chuyện ấy có thể dựng thành kịch để làm bài học cho mọi người. Dorval cho biết đó cũng là ý nguyện của cha anh muốn anh xây dựng thành một vở kịch, các nhân vật là những người trong gia đình như Rosalie, em gái anh, Clairville bạn anh, Constance người em gái goá chồng của Clairville, cụ Lysimond cha đẻ của anh và Rosalie… Các diễn viên chẳng phải ai khác mà cũng chính là những con người ấy. Cụ Lysimond sẵn sàng đóng vai của cụ nên đã bảo anh đày tớ thân thiết là André mang về những áo quần rách bươm cụ mặc thời gian ở tù. Kịch sẽ diễn chẳng phải ở rạp để cho thiên hạ xem mà ở ngay nhà mình để truyền lại cho con cháu trong gia đình đời này qua đời khác.

Dorval chần chừ mãi, e ngại công việc đó vượt quá khả năng của anh. Đến khi thực hiện được ý nguyện của cha, hoàn thành vở kịch, lấy nhan đề “Đứa con hoang”, thì đau đớn thay, cụ Lysimond không còn nữa. Buổi diễn đầu tiên sẽ là chủ nhật tới, ở ngay phòng khách nhà Clairville, và phải nhờ một cụ già tuổi tác, vóc dáng như Lysimond đóng thế cho người đã khuất.

“Tôi” xin được dự và Dorval đồng ý để ông bí mật trèo qua cửa sổ vào nấp ở góc phòng khách không ai biết. Ông xem diễn gần như toàn bộ vở kịch, trừ lớp kịch (scène) cuối cùng tức lớp 5 của Hồi V, khi nhân vật Lysimond xuất hiện.

Sau khi mọi người về hết, “Tôi” từ góc phòng khách đi ra. Vì ông chưa được xem trọn vẹn vở kịch nên Dorval đưa cho ông mượn kịch bản. Ông đem về nhà, nhẩn nha đọc kỹ và hẹn sẽ trao đổi ý kiến với Dorval. Cuộc trao đổi diễn ra ba ngày tiếp ngay sau hôm chủ nhật diễn kịch.

Sau ngày đầu tiên vừa dạo chơi vừa trò chuyện, khi mặt trời sắp lặn, “Tôi” và Dorval chia tay nhau ở chân đồi, nơi cách đều nhà hai người và hẹn sáng hôm sau lại gặp nhau ở đấy. Cuộc trò chuyện trong ngày thứ hai cũng diễn ra ở ngoài trời và vẫn hẹn gặp lại nhau hôm sau ở chỗ cũ. Nhưng đến sáng ngày thứ ba vì trời vừa mưa, đường lầy, cỏ ướt, nên Diderot đến trò chuyện tại nhà Dorval.

“Tôi” nhớ lại và ghi ra giấy thành Những cuộc trò chuyện về ”Đứa con hoang”. Mỗi ngày là một cuộc trò chuyện. Cuộc trò chuyện thứ hai dài hơn cuộc trò chuyện đầu tiên và ngắn hơn cuộc trò chuyện thứ ba. Ông viết: “Đây là cuộc trò chuyện của chúng tôi. Nhưng khác nhau biết bao giữa những gì Dorval nói với tôi và những gì tôi viết ra!... Vẫn có thể là những ý nghĩ ấy; nhưng cái thần của con người thì không còn ở đó nữa…”(7). Sau mấy trang lời người kể chuyện trên đây là lần lượt ba cuộc trò chuyện… giữa TÔI và DORVAL.

Chi tiết người kể chuyện cho biết ông vừa xuất bản tập 6 bộ Bách khoa toàn thư khiến chúng ta nghĩ ngay từ đầu “Tôi”, tác giả Những cuộc trò chuyện… chẳng phải ai khác mà chính là Diderot, vì tập 6 Bách khoa toàn thư vừa mới ra mắt độc giả trước đó một năm, năm 1756. Nhưng ta không khỏi hoang mang, hoài nghi, vì nếu “Tôi” là Diderot thì làm sao có thể giải thích được ông chẳng hề băn khoăn khi nghe Dorval nói về vở kịch anh phải viết theo ý nguyện của cha với các nhân vật có thật trong gia đình như Rosalie, Clairville, Constance… hoàn toàn trùng khớp với các nhân vật trong vở kịch của chính mình! Đã thế, “Tôi” còn trèo qua cửa sổ nấp xem diễn vở kịch, như xem diễn tác phẩm của người khác!

Còn Dorval? Mới đầu ta có thể nghĩ Dorval mà người kể chuyện gặp ở vùng quê chỉ là một người tình cờ trùng tên với nhân vật chính trong vở kịch của Diderot, chẳng có liên quan gì với tác giả. Anh đang buồn chuyện gia đình… Nhưng dần dần độc giả lại thấy chuyện gia đình anh cũng là sự việc diễn biến trong Đứa con hoang của Diderot! Đã thế, Dorval không chỉ là một trong số các nhân vật mà còn là “tác giả” bất đắc dĩ của vở kịch nữa!

Những cuộc trò chuyện… lại in kèm cùng với vở kịch Đứa con hoang. Vậy là có sự bắt gặp giữa tác giả đích thực (Diderot) và tác giả bất đắc dĩ (Dorval) của vở kịch. Cứ giả định câu chuyện của gia đình Dorval mà Diderot được nghe trở thành nội dung vở kịch của ông. “Tôi” trò chuyện với Dorval là trò chuyện với một nhân vật đồng thời cũng là tác giả của vở kịch! Nếu “Tôi” là Diderot thì có thể xem như đây là cuộc trò chuyện của tác giả với chính bản thân mình.

*

Vở Đứa con hoang của Diderot là sản phẩm hư cấu của tác giả, từ nội dung như ta đã thấy trên kia đến các nhân vật Dorval, Clairville, Rosalie, Constance, Lysimond và các gia nhân đầy tớ. Còn vở kịch của Dorval mà coi như chỉ là ghi lại chuyện có thật xảy ra với những người thật có quan hệ gia đình thân thiết với “tác giả” Dorval theo yêu cầu và nguyện vọng của cụ Lysimond. Thế là nổi lên vấn đề mối liên hệ giữa sáng tác (hư cấu) và sự thật, giữa cái đẹp và cái thật theo quan điểm mỹ học của ông: “Cái thật, cái tốt và cái đẹp rất khăng khít với nhau”. Vấn đề “cái thật” được đề cập đến nhiều nhất ở cuộc trò chuyện đầu tiên.

Như ta đã biết, Diderot trèo qua cửa sổ vào phòng khách nhà Clairville nấp xem diễn kịch, nhưng xem không được trọn vẹn, thiếu mất lớp kịch cuối cùng. Lý do là vì cụ Lysimond lúc ấy đã mất rồi, con cái phải tìm người đóng thế: “Ông lão ấy bước vào phòng khách(8), - “Tôi” kể ở phần mở đầu - như Lysimond đã bước vào đấy lần đầu tiên, Clairville và André dìu hai bên, và khoác bộ quần áo mà bạn lão(9) đã mang từ các nhà tù về. Nhưng lão vừa xuất hiện thì, hành động kịch lúc ấy tái hiện người vừa qua đời dưới mắt tất cả gia đình, người đó vốn rất thân thiết và được kính trọng, nên không ai cầm được nước mắt. Dorval khóc; Constance và Clairville khóc; Rosalie cố nén những tiếng nức nở và quay nhìn đi chỗ khác. Ông lão đóng vai Lysimond, bối rối và cũng khóc. Nỗi đau đớn truyền từ chủ nhà đến các gia nhân đầy tớ, trở nên rộng khắp; và vở kịch không diễn tiếp được nữa” (Entretiens sur Le Fils naturel, tr.1204)(10). Một cảnh thật với những giọt nước mắt thương nhớ thật sự, chứ không còn là cảnh hư cấu với những tình cảm đóng kịch.

Dorval thường giải đáp những thắc mắc của “Tôi” bằng cách kéo ông ra khỏi thế giới hư cấu để trở về sự việc có thật, ra khỏi ảo ảnh sân khấu ở rạp hát để trở về phòng khách nhà Clairville.

Ở Hồi IV, Constance đọc lá thư Dorval viết cho Rosalie, tưởng Dorval viết cho mình và yêu mình, Constance liền mạnh dạn tỏ tình với Dorval…, “Tôi” thắc mắc:

“TÔI. – Lời tỏ tình của Constance?...

DORVAL. – Thì sao?

TÔI. – Các phụ nữ chẳng mấy khi… (…)  Người ta sẽ thấy trong lời tỏ tình ấy vài đoạn thiếu ý tứ … Các phụ nữ sẽ ráo riết chê tính cách ấy là lố bịch…

DORVAL. – Các phụ nữ nào, thưa ông? (…)

TÔI. – Nhưng cái giọng đó thật bất thường ở rạp hát…

DORVAL. – Mà ông hãy bỏ rạp hát lại đấy; ông hãy trở về phòng khách; và ông phải thừa nhận rằng ông không thấy chướng tai khi nghe lời lẽ của Constance ở đây” (tr.1209).

Dorval còn nói thêm rằng khi viết xong vở kịch theo nguyện vọng của cha, anh đưa cho mọi người trong gia đình đọc và ai cũng thêm thắt hoặc lược bớt ở vai của mình căn cứ vào tình trạng của họ bây giờ hơn là tình huống đã qua của họ; Rosalie muốn mình xem ra ít lỗi lầm hơn dưới con mắt của Clairville; Clairville muốn tỏ ra còn say mê Rosalie hơn nữa; Constance muốn nhấn thêm một chút âu yếm với người hiện nay là chồng nàng; và lời tỏ tình của Constance là một trong những đoạn ấy. Nói khác đi, Rosaslie, Clairville, Constance… lúc ấy là những con người của cuộc đời thật chứ không phải là những diễn viên.

“Tôi” lại thắc mắc:

“TÔI. – Thế còn việc uống trà cũng trong lớp kịch ấy thì sao? Tôi bảo anh.

DORVAL. – Tôi hiểu ý ông; ở xứ sở này không có uống trà. Tôi đồng ý; nhưng tôi đã đi du lịch lâu ở Hà Lan; tôi đã sống nhiều với những người ngoại quốc; tôi đã nhiễm ở họ thói quen ấy; và đấy là tôi mô tả tôi.

TÔI. – Nhưng ở rạp hát!

DORVAL. – Không phải ở đấy. Cần phải đánh giá tác phẩm của tôi trong một phòng khách…” (tr.1210).

Dorval luôn luôn vin vào sự thật xảy ra như một lý lẽ để trả lời người đang trò chuyện với mình. “Tôi” phê phán Dorval về những bước ngoặt kịch (coup de théâtre), nghĩa là “một tình tiết không lường trước xảy ra trong hành động, và nó làm thay đổi đột ngột tình trạng của các nhân vật” (tr.1211). Thế mà ở Hồi II:

“TÔI. –…tại sao người ta lại báo tin Clairville tới trong khi anh và Rosalie đang trò chuyện? Người ta chẳng bao giờ cho báo tin mình tới ngay tại nhà mình cả; và điều này có vẻ như một bước ngoặt kịch sắp đặt tuỳ tiện ở rạp hát.

DORVAL. – Không; đó là một sự việc như nó đã xảy ra  và như nó phải xảy ra. Nếu ông xem đấy như một bước ngoặt kịch, thì càng hay; nó tự đặt mình vào chỗ ấy đấy. Clairville biết rằng tôi đang ngồi với tình nhân của anh; thật chẳng tự nhiên nếu anh ấy xộc vào giữa một cuộc trò chuyện mà anh đã mong muốn. Tuy nhiên anh lại không kìm được nỗi sốt ruột muốn biết kết quả cuộc trò chuyện ấy(11); anh ấy cho gọi tôi: ông sẽ làm khác đi chăng?” (tr.1211).

Đến cuối Hồi II, lại thêm một bước ngoặt kịch nữa liên quan đến sự hiểu lầm của Constance về lá thư Dorval viết cho Rosalie:

“TÔI. – Anh không thích những bước ngoặt kịch ư? Tôi bảo anh.

DORVAL. – Không.

TÔI. – Thế mà có một chỗ đây này, và vào loại sắp đặt cẩn thận nhất.

DORVAL. – Tôi biết chỗ ấy; và tôi đã dẫn ra với ông.

TÔI. – Đó là nền tảng mọi tình tiết của anh.

DORVAL. – Tôi đồng ý.

TÔI. – Và đó là một điều dở?

DORVAL. –Tất nhiên.

TÔI. – Vậy tại sao anh lại sử dụng nó?

DORVAL. –Bởi vì đấy không phải là một hư cấu, mà là một sự việc. Giá như sự việc xảy ra khác hẳn đi thì tác phẩm sẽ hay hơn” (tr.1213).

“Tôi” lại trách Dorval khi đã biết là Constance hiểu lầm, sao không bảo cho Rosalie? Cách ấy rất đơn giản, và giải quyết hết mọi việc. “Ôi! – Dorval đáp - Thế này thì ông xa với rạp hát lắm rồi, và ông xem xét tác phẩm của tôi với sự khắc nghiệt mà tôi không biết trả lời thế nào để chống đỡ. (…) Vì đây là một sự việc chứ không phải một hư cấu. Chẳng phải ông đòi hỏi một tác giả giải thích một việc xảy ra, mà là đòi hỏi Dorval giải thích cách xử sự của mình” (tr.1214)…

Trong suốt cuộc trò chuyện thứ nhất, đối thoại giữa “Tôi” và Dorval diễn ra chủ yếu dưới dạng những thắc mắc của “Tôi” và những lý giải của Dorval liên quan đến vở kịch của… Dorval; vì vậy ngôn từ của “Tôi” thường ngắn, còn của Dorval thì dài. Nói khác đi, Dorval là người giữ thế chủ động. Diderot đẩy người kể chuyện xưng “Tôi” ra xa bản thân ông. Dường như “Tôi” chỉ còn mang bóng dáng Diderot ở khía cạnh luôn đứng ở vị trí nghề nghiệp của nhà văn khi thắc mắc, phê phán vở kịch của Dorval khiến Dorval nhiều lần phải nhắc nhở người đang trò chuyện với anh hãy bỏ rạp hát lại đấy, hãy trở về với phòng khách nhà Clairville.

Ngược lại, Diderot in bóng dáng tư tưởng nghệ thuật của mình lên Dorval. Tư tưởng mỹ học của ông về cái đẹp và cái thật được trao cho Dorval, tuy anh chỉ cốt làm theo lời cha, ghi chép lại trung thực sự việc xảy ra trong gia đình, chứ không với ý thức của một nhà văn trong sáng tác. Có thể nói, quan điểm mỹ học của Diderot được thể hiện “gián tiếp” qua cách làm của Dorval.

*

Quan điểm cái đẹp gắn bó khăng khít với cái thật có ý nghĩa to lớn trong thời đại của Diderot. Nhưng theo ông, miêu tả chân thực không có nghĩa là sao chép y hệt cuộc sống(12). Khi cụ Lysimond đề nghị Dorval soạn một vở kịch mà nội dung cũng như diễn viên là người thật việc thật trong gia đình, anh đã thốt lên:  

“Một vở kịch ư cha!...

- Phải, con ạ. Chẳng nhất thiết dựng rạp ở đây, mà chỉ cần nhớ lại một sự kiện liên quan đến cha con ta, và thể hiện như nó đã xảy ra…

- Có nghĩa là cha ra lệnh cho con phải miêu tả tâm hồn cha, tâm hồn con, tâm hồn của Constance, của Clairville và của Rosalie. Ôi! cha ơi, đó là một công việc vượt quá sức của con, và cha biết rồi đấy!” (tr.1202).

Dorval không có khả năng sáng tác ư? Hay đúng hơn là anh không hào hứng khi phải miêu tả người thật việc thật theo kiểu sao chép. Cuối cùng, vì yêu thương cha già, vì nghĩa vụ làm con, anh đã hoàn thành vở kịch đúng theo như ý muốn của cha.

Chẳng những Dorval chứng tỏ khả năng sáng tác, mà còn hơn thế nữa, trong cuộc trò chuyện, anh có những suy nghĩ đi xa hơn người kể chuyện xưng “Tôi”.

Chẳng hạn, mở đầu cuộc trò chuyện thứ nhất, “Tôi” thắc mắc là có vẻ không hợp lý khi bao nhiêu sự kiện như thế mà Dorval nhồi nhét vào quy tắc ba duy nhất của chủ nghĩa cổ điển, mọi diễn biến chỉ diễn ra tại một nơi là phòng khách nhà Clairville, và kéo dài không quá một ngày một đêm, v.v… Dorval đã đáp lại:

“Vả chăng, về các ước lệ sân khấu ấy, tôi nghĩ thế này. Nghĩ rằng ai không biết đến lý lẽ sáng tác, cũng là không biết đến cơ sở của quy tắc, sẽ chẳng thể từ bỏ nó hoặc theo nó một cách đúng lúc được. Người đó hoặc là quá tôn trọng hoặc là quá miệt thị quy tắc, hai tảng đá ngầm trái ngược nhưng đều nguy hiểm ngang nhau. Một phía chẳng coi là gì hết những nhận xét và kinh nghiệm của các thế kỷ đã qua, và đưa nghệ thuật trở về thời kỳ ấu thơ của nó; phía kia chặn đứng nghệ thuật ngay tại chỗ, và ngăn cản nó tiến lên phía trước” (tr.1207). Tuy là lời của Dorval nhưng là đầu óc của Diderot.

Gần hết ngày trò chuyện đầu tiên hầu như xoay quanh chủ đề về mối quan hệ giữa cái đẹp và cái thật trong vở kịch, trời đã gần tối, Dorval hẹn ngày hôm sau sẽ cho “Tôi” biết những suy nghĩ về các dục vọng, những giọng điệu của dục vọng, lối diễn xướng và các điệu bộ liên quan đến vở kịch của anh. Như vậy là cả ngày hôm sau, hai người đề cập đến những khía cạnh cụ thể của vở kịch, chúng tôi không đi sâu ở đây. “Tôi” chủ yếu vẫn là người hỏi, Dorval là người giải đáp. Dorval càng chứng tỏ năng lực văn chương của anh, càng mang đậm cái bóng của Diderot, tuy anh vẫn nhớ anh là ai và ở đâu.

Chẳng hạn, người kể chuyện “Tôi” trách cuộc đối thoại giữa nhân vật Dorval và Constance ở Hồi IV là quá dài. “A! - Dorval cãi lại - Thế là ông lại lên sân khấu rồi (…) Ông nhìn thấy chúng tôi, Constance và tôi, ở mép sàn gỗ, đứng thẳng, nhìn nghiêng mặt nhau, và lần lượt người hỏi người trả lời. Nhưng ở trong phòng khách cũng diễn ra như thế ư? Chúng tôi lúc ngồi, lúc đứng. Đôi khi chúng tôi đi. Chúng tôi thường dừng lại...” (tr.1237).

Hình bóng người kể chuyện càng xa Diderot thì hình bóng Dorval càng gần lại trong cuộc trò chuyện cuối cùng. Trước lúc chia tay cuối ngày trò chuyện thứ hai, “Tôi”, vẫn là “Tôi”, nói với Dorval là chỉ còn hỏi anh một câu nữa thôi, đó là về thể loại của vở kịch: “Đó chẳng phải là một bi kịch; đó chẳng phải là một hài kịch. Vậy đó là cái gì, và anh gọi tên nó là gì?” (tr.1243). Dorval hẹn đến hôm sau. “Tôi” muốn được trả lời ngay, nhưng Dorval nói phải về, vì đã đến giờ hẹn gặp hai người chủ trang trại bên láng giềng để góp ý việc con họ yêu nhau, nhưng cô gái thì giàu có, còn chàng trai thì nghèo khổ.

Trong cuộc trò chuyện thứ ba, Dorval, lại vẫn là Dorval, giữ vai trò chủ động, giải thích vở kịch của anh không phải theo kiểu phân biệt rạch ròi hài kịch hay bi kịch như ở thế kỷ trước(13), không nhằm mục đích xây dựng các tính cách như hài kịch của Molière(14) hay bi kịch của Racine(15), mà thay vào đó là những thân phận xã hội như chủ gia đình, thương gia…, không viết kịch thơ mà thay bằng văn xuôi, chúng tôi cũng không đi sâu ở đây… Qua Dorval ta càng thấy hiện lên rõ ràng Diderot đang giải thích về thể loại kịch đram (drame) ông sáng tạo ở thế kỷ XVIII, thay thế cho hài kịch và bi kịch cổ điển.

Tuy nhiên, Diderot vẫn không quên Dorval chỉ là một người “có thật”, tác giả một vở kịch về người thật việc thật. Trong ngày trò chuyện này, vẫn là chủ đề về thể loại, có một lúc Dorval lại không còn là hiện thân của Diderot nữa mà trở về với thân phận của mình là bạn của Clairville, được bạn nhờ cậy chuyện Rosalie, và anh soạn vở kịch theo nguyện vọng của cụ Lysimond…

Dorval kể với “Tôi” rằng Clairville là người tốt nhưng đôi lúc cũng dữ dội; có được Rosalie trở lại yêu mình, anh ta quên ngay những nỗi đau khổ, anh ta không hiểu nỗi đau lòng của Dorval mà lại có thái độ hài hước, nên Dorval đã định trả thù bằng cách sửa ba hồi cuối thành bi kịch.

Dorval đưa cho “Tôi” xem phác thảo ba hồi định sửa: Rosalie làm toáng lên, nói Dorval là kẻ phản bội tình bạn vì nhận lời giúp Clairville mà lại yêu Rosalie, là kẻ phản bội tình yêu, vì nay lại chuyển sang yêu Constance… (Hồi III). Dorval tuyệt vọng, định tự tử (Hồi IV). Clairville đến tìm mọi cách khuyên can, kể cả đề nghị Dorval cứ lấy Rosalie. Nhưng cuối cùng Dorval vẫn tự tử chết, trước khi sai đầy tớ đi Paris rút lại quyết định sẻ nửa tài sản để giúp cho cuộc hôn nhân của Clairville với Rosalie (Hồi V).

Dorval bảo nếu kịch diễn biến như thế, Clairville sẽ phải khóc hoài vì tình yêu chẳng còn mà tiền bạc cũng chẳng có. Cũng may đó chỉ là ba hồi phác thảo trong lúc bực bội mà thôi. Chắc chắn đó không phải là ý tưởng của Diderot, người chủ trương thể loại kịch đram.

*

Có thể nói chủ đề Những cuộc trò chuyện về “Đứa con hoang” là làm rõ quan điểm mỹ học cái đẹp không tách rời sự thật và đạo đức, là lý giải thể loại kịch mới, những điều Diderot tâm huyết khi sáng tác vở kịch. Ông xây dựng thành cuộc trò chuyện mang tính chất văn học để thay thế cho bài giới thiệu dài dòng khô khan, như sau đó ít lâu Gœthe(16) viết các màn “Giáo đầu” cho vở kịch Faust.

Song, Những cuộc trò chuyện… là một tác phẩm độc lập, có giá trị tự nó, chứ không phải chỉ là những trang sách “ăn theo” vở kịch Đứa con hoang. Độc giả bị cuốn hút bởi cách tổ chức đầy sáng tạo của tác phẩm. Dường như đấy mới là chủ đề thực sự của Những cuộc trò chuyện… mà vở kịch Đứa con hoang được đề cập chỉ là cái cớ, là chỗ dựa để bám vào mà thôi.

Trí tưởng tượng và yếu tố hư cấu của tác giả rất đậm nét trong Những cuộc trò chuyện… Trước mắt chúng ta không chỉ là những trang giấy và hai nhân vật trò chuyện như ở nhiều tác phẩm khác sử dụng hình thức đối thoại của ông. Ở đây, bối cảnh là vùng thôn quê, tuy không xác định là vùng nào; hai ngày đầu, “Tôi và” Dorval vừa đi vừa trò chuyện, trên những con đường có bóng cây, chung quanh là những ngọn đồi, xa xa mấy xóm nhỏ… Trong ba ngày, khi nắng ráo, lúc trời âm u, vừa qua cơn mưa, đường lầy lội, sấm chớp ì ầm xa xa. Có cảnh ban mai, chân bước nhẹ nhàng trên lớp cỏ non; có cảnh chiều hôm, bầu trời nhuộm màu đỏ tía, vài tiếng chim rừng lao xao về tổ…

Ngòi bút sáng tạo càng bộc lộ rõ hơn ở cách tổ chức nhân vật. Trong các tác phẩm thuộc loại này của Diderot, hai nhân vật đối thoại có thể mơ hồ, không rõ là ai, như “Người đối thoại thứ nhất”, “Người đối thoại thứ hai” (Ý kiến ngược đời về diễn viên); hoặc chỉ là những chữ cái tượng trưng (Đối thoại giữa A và B)(17); có khi lại là những tên tuổi rất cụ thể (Cuộc trò chuyện giữa D’Alembert và Diderot); có khi là cuộc trò chuyện giữa “Tôi” và “Hắn”, cả hai tương đối xác định, “Tôi” coi như đồng nhất với tác giả, “Hắn” gần như trùng với François Rameau (Cháu ông Rameau)…

Cách làm của Diderot trong Những cuộc trò chuyện… khác hẳn. Có thể nói “Tôi” và Dorval đều là những nhân vật được sáng tạo, vừa bổ sung cho nhau, vừa khác hẳn nhau, đều là những phiên bản không trùng khớp với nguyên mẫu Diderot, nhiều khi khác xa thậm chí mâu thuẫn với nguyên mẫu khiến độc giả không khỏi ngỡ ngàng.

Dorval con hoang của cụ Lysimond là chàng thanh niên ba mươi tuổi, lúc này giàu có, còn Diderot khi cho in Đứa con hoang chẳng có tài sản gì và tuổi đã bốn mươi tư!(18). Kết thúc ngày thứ ba trò chuyện, trước khi chia tay, Dorval bảo “Tôi” trở về Paris in tập 7 bộ Bách khoa toàn thư đi, rồi lại về đây nghỉ ngơi, lúc ấy có thể anh sẽ hoàn thành vở kịch Người cha trong gia đình (Le Père de famille) anh đang nung nấu trong đầu. Đấy cũng chính là vở kịch của Diderot xuất bản năm 1758. Rồi Dorval mời “Tôi” đến nhà anh chơi. “Tôi” nhận lời. Tác phẩm kết thúc bằng những dòng sau đây: “Ai nấy trò chuyện, trước và sau khi ăn tối, về quản lý, tôn giáo, chính trị, văn chương, triết học; nhưng dù về chủ đề gì, tôi vẫn luôn nhận ra tính cách mà Dorval xây dựng cho từng nhân vật của anh. Anh có vẻ ưu tư; Constance có vẻ lý trí; Rosalie vẻ ngây thơ; Clairville vẻ say mê; còn tôi vẻ hiền từ” (tr.1273). Tính cách “Tôi” và Dorval chẳng giống nhau và xem ra cũng chẳng giống Diderot!

Diderot viết vở kịch Đứa con hoang trong đó có nhân vật chính là Dorval. Đến lượt Dorval thể theo nguyện vọng của cha lại viết vở kịch “Đứa con hoang” với nhân vật chính vẫn là… Dorval. Hơn một thế kỷ sau, năm 1893, nhà văn Pháp A. Gide (1869-1951) viết: “Tôi khá thích thú trong một tác phẩm nghệ thuật người ta thấy lại (…) đề tài của chính tác phẩm ấy chuyển dịch sang cấp độ nhân vật”(19). Đó là kiểu bố cục “lồng gương” bắt nguồn từ nghệ thuật hội hoạ của Van Eyck(20) và Velasquez(21), ở góc tranh có một vật nhỏ, chẳng hạn tấm gương, phản ánh những gì vẽ trong tranh. Trong tiểu thuyết Bọn làm bạc giả (Les Faux-monnayeurs, 1925) của ông có nhân vật Édouard là nhà văn cũng đang chuẩn bị viết tiểu thuyết… “Bọn làm bạc giả”… Sang thế kỷ XXI, nhà văn Bỉ viết bằng tiếng Pháp, viện sĩ Viện Hàn lâm Pháp François Weyergans (sinh năm 1941) xuất bản tiểu thuyết Ba ngày tại nhà mẹ tôi (Trois jours chez ma mère) có nhân vật là nhà văn cũng viết tiểu thuyết nhan đề như vậy.

Các nhà nghiên cứu xưa nay chưa ai xếp Những cuộc trò chuyện về “Đứa con hoang” vào thể loại tiểu thuyết. Diderot có tác phẩm ngắn chỉ vài chục trang nhan đề Đây không phải là một truyện kể (Ceci n’est pas un conte, 1773). Mở đầu truyện ông viết rằng đã là truyện kể (conte) cho người ta nghe mà kéo dài thì thế nào người kể cũng đôi khi bị thính giả ngắt lời. Thế nhưng nhan đề lại ghi “Đây không phải là một truyện kể kèm theo truyện kể thứ hai”(22). Vậy là ông cố tình xem truyện đầu vẫn là một truyện kể.

Điều đó muốn nói lên rằng định nghĩa thể loại là cần thiết nhưng không thể cứng nhắc. Nhà văn Pháp J.P. Sartre (1905-1980) dùng khái niệm phản-tiểu thuyết (anti-roman) để chỉ những tác phẩm phá vỡ các tiêu chí quy ước của tiểu thuyết truyền thống thời bấy giờ như Bọn làm bạc giả của A. Gide, Chân dung một người vô danh (Portrait d’un inconnu, 1948) của N. Saraute (1900-1999). Nhưng thể loại tiểu thuyết luôn biến chuyển; các tiêu chí quy ước truyền thống cũng xê dịch theo. Ngay từ thế kỷ XVII ở Pháp nhà văn Charles Sorel (1597-1674) đã gọi tác phẩm Gã mục đồng ngông cuồng (Le Berger extravagant, 1627) của ông là một “phản-tiểu thuyết”.

Trở lại với Diderot. Chúng tôi đã có lần nghĩ rằng nên xem Cháu ông Rameau là một phản-tiểu thuyết ở Pháp thế kỷ XVIII(23). Và nay, với tất cả những gì đã phân tích trên kia, chúng tôi cũng nghĩ như thế đối với Những cuộc trò chuyện về “Đứa con hoang”, một tác phẩm có độ dài ngang với Cháu ông Rameau (220 trang theo bản in của Nxb. Tri thức, 2006). Nói khác đi, đấy đều là những tiểu thuyết thực sự trong dòng chảy của thể loạiq

                                                                           Hà Nội, Tháng Tư, 2013

_______________

(1) Xem Diderot: Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật, Phùng Văn Tửu giới thiệu, tuyển chọn và dịch, Tri thức, Hà Nội, 2013. Các bản dịch Tuỳ bút về hội hoạ, Ý kiến ngược đời về diễn viên cũng trong sách này.

(2) La Religieuse, viết năm 1760, xuất bản năm 1796 sau khi tác giả đã qua đời. Bản dịch tiếng Việt đầu tiên là của Nguyễn Ngọc Ban, VH, Hà Nội, 1966.

(3) Jacques le Fataliste, viết vào khoảng 1771, sau in thành sách cũng năm 1796.

(4) Có tài liệu ghi là Những tuỳ bút về hội hoạ (Essais  sur la peinture).

(5) Paradoxe sur le comédien, viết năm 1773, xuất bản năm 1830 sau khi tác giả qua đời đã lâu. 

(6) Le Neveu de Rameau, viết khoảng 1761-64, xuất bản năm 1823. Bản dịch của Phùng Văn Tửu, Tri thức, Hà Nội, 2006).

(7) Xem bản dịch Phần mở đầu và Cuộc trò chuyện thứ nhất trong:  Diderot: Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật, sđd.

(8) Kịch diễn ra tại phòng khách  nhà Clairville.

(9) André, đầy tớ của cụ Lysimond, cụ đối xử như một người bạn trong những ngày lưu lạc.

(10) Trong Diderot: Œuvres (Tác phẩm), Edition établie et annotée par André Billy, Gallimard, Paris, 1951, tr.1204). Các dẫn chứng trong Những cuộc trò chuyện về Đứa con hoang đều theo tài liệu này.   

(11) Clairville nhờ Dorval khuyên nhủ Rosalie.

(12) Xem “Lời giới thiệu” trong Diderot: Từ mỹ học đến các loại hình nghệ thuật, sđd.

(13) Thế kỷ XVII.

(14) Molière (1622-1673): Nhà văn Pháp. 

(15) Racine (1639-1699): Nhà văn Pháp.

(16) Gœthe (1749-1832): Nhà văn Đức, tác giả vở kịch Faust ông bắt đầu sáng tác năm khoảng hai mươi tuổi và hoàn thành vài tháng trước khi qua đời.

(17) Diderot: Dialogue entre A et B, 1772.

(18) Vì vậy, khi dịch Những cuộc trò chuyện về “Đứa con hoang”, tôi để cho Dorval gọi người đối thoại với mình bằng “ông”, còn Dorval được gọi bằng “anh”!

(19) Dẫn theo A. Lagarde và L. Michard: XXe siècle, Les grands auteurs français, Bordas, Paris, 1962, tr.288. 

(20) Van Eyck (1390-1441): Hoạ sĩ xứ Flandres.

(21) Velasquez (1599-1660): Hoạ sĩ Tây Ban Nha.

(22) Truyện kể Madame de la Carlière

(23) Phùng Văn Tửu: Tiểu thuyết trên đường đổi mới nghệ thuật, Sđd, Chương 4.

Nguồn: Nghiên cứu văn học, số 5/2013, tr.3-15

Các tin đã đưa ngày: