Đang online: 1

Lượt truy cập:

Sách của các tác giả Viện Văn học năm 2014

31/01/2015

Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hiện tượng. NXB Văn học, H., 2014, 354 trang.... tập hợp các bài nghiên cứu, phê bình về thơ Việt Nam hiện đại với cái nhìn bao quát về quá trình hiện đại hóa thơ Việt trong dòng chảy lịch sử văn chương đồng thời hướng tới khám phá, giải mã những hiện tượng thi ca tiêu biểu. Phần I- Hiện đại hóa và những khúc quanh lịch sử cung cấp một bức tranh tổng thể tiến trình phát triển với những lý giải xác đáng và quan điểm tiếp cận khách quan, khoa học. Phần II- Những sinh thể thơ ca là các tiểu luận công phu về từng tác giả làm nổi bật những gương mặt thi ca Việt Nam hiện đại. Từ góc nhìn đa chiều, với tinh thần luôn trân trọng cái mới và những nỗ lực cách tân, các bài tiểu luận là những phát hiện mới mẻ, độc đáo, làm tươi mới những sinh thể thơ ca.

Sách của các tác giả Viện Văn học năm 2014

 

 

* Trương Đăng Dung: Những kỷ niệm tưởng tượng - Tác phẩm và dư luận (Nguyễn Thanh Tâm - Vũ Thị Thu Hà sưu tầm và tổ chức bản thảo). NXB Văn học, H., 2014, 516 trang.

Tập thơ Những kỷ niệm tưởng tượng được trao giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội năm 2011 đã thu hút được sự quan tâm của đông đảo công chúng. Tập thơ gồm 25 bài được in lại đầy đủ. Sách còn một phần lớn tuyển chọn khoảng hơn 30 bài nghiên cứu, phê bình, tiếp nhận về tập thơ. Các bài viết đi sâu phân tích, khám phá những chiều kích không thời gian và thế giới nghệ thuật trong thơ Trương Đăng Dung. Đó cũng là sự đồng cảm và chia sẻ của đông đảo công chúng bạn đọc với hồn thơ giàu suy tư, chiêm nghiệm, cảm thức thời gian, sự tồn tại, nỗi cô đơn bản thể,...  mang triết lý nhân sinh sâu sắc .

 

* Nguyễn Đăng Điệp: Thơ Việt Nam hiện đại, tiến trình và hiện tượng. NXB Văn học, H., 2014, 354 trang.

Công trình tập hợp các bài nghiên cứu, phê bình về thơ Việt Nam hiện đại với cái nhìn bao quát về quá trình hiện đại hóa thơ Việt trong dòng chảy lịch sử văn chương đồng thời hướng tới khám phá, giải mã những hiện tượng thi ca tiêu biểu. Phần I- Hiện đại hóa và những khúc quanh lịch sử cung cấp một bức tranh tổng thể tiến trình phát triển với những lý giải xác đáng và quan điểm tiếp cận khách quan, khoa học. Phần II- Những sinh thể thơ ca là các tiểu luận công phu về từng tác giả làm nổi bật những gương mặt thi ca Việt Nam hiện đại. Từ góc nhìn đa chiều, với tinh thần luôn trân trọng cái mới và những nỗ lực cách tân, các bài tiểu luận là những phát hiện mới mẻ, độc đáo, làm tươi mới những sinh thể thơ ca.

 

* Hà Minh Đức: Hồ Chí Minh - Anh hùng dân tộc và tầm thời đại của Người. NXB Chính trị Quốc gia, H., 2014, 340 trang.

Chuyên luận tìm hiểu và nghiên cứu về 30 năm hoạt động ở nước ngoài (Mĩ, Anh, và đặc biệt ở Pháp, Liên Xô và Trung Quốc) của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời đi sâu nhận diện những đóng góp của Người giai đoạn từ khi trở về nước đến khi qua đời (1941-1969). Một phần quan trọng trong cuốn sách hướng đến nghiên cứu, giới thiệu và tôn vinh Bác như là vị anh hùng giải phóng dân tộc và danh nhân văn hóa kiệt xuất. Cuốn sách cung cấp những tư liệu quan trọng về những ý kiến ca ngợi của các vị lãnh tụ, chính khách, danh nhân về Người trên nhiều phương diện.

 

* Hà Minh Đức: Tác phẩm Hồ Chí Minh - cẩm nang của cách mạng Việt Nam. NXB Đại học, H., 2014, 350 trang.

Chuyên luận nghiên cứu sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên các phương diện chính trị, triết học và văn hóa văn nghệ. Sách gồm 12 chương, tập trung vào những nội dung cơ bản như Tư tưởng Hồ Chí Minh – ngọn nguồn và sức mạnh lan tỏa, Những tư tưởng chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua những chặng đường Cách mạng, Những lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Mệnh lệnh và lời của non nước, Đạo đức – phẩm chất hàng đầu của người cán bộ Cách mạng, Chủ nghĩa nhân đạo Hồ Chí Minh,... Qua đó, nhấn mạnh những bài viết của Hồ Chủ tịch lên án thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, truyện kí Nguyễn Ái Quốc, những lời bàn của Bác về văn hóa văn nghệ, phong cách báo chí Hồ Chí Minh, triết lí của Nhật kí trong tù.

 

* Hà Minh Đức: Một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc với nhiều loại hình nghệ thuật phong phú. NXB Chính trị Quốc gia, H., 2014, 388 trang.

Chuyên luận nghiên cứu về nền văn hóa văn nghệ Việt Nam, khái quát những đặc điểm truyền thống của văn hóa Việt Nam cũng như những phẩm chất mới, giá trị mới của nền văn hóa văn nghệ nước nhà sau Cách mạng tháng Tám. Phần I tập trung vào ba đặc điểm cơ bản của văn hóa văn nghệ truyền thống: 1) Nhấn mạnh chất trí tuệ, tư duy và bản lĩnh Việt được thể hiện qua các tác phẩm văn nghệ, nhất là văn học; 2) Khẳng định những sáng tạo “bàn tay vàng” tài hoa, khéo léo thể hiện qua các công trình kiến trúc, điêu khắc, hội họa và các nghề tiểu thủ công nghiệp; 3) Xác định giá trị của các lễ hội truyền thống, tôn vinh những vị anh hùng dân tộc với phần hội hè giàu bản sắc, biểu hiện rõ nét tâm hồn và phong cách Việt Nam. Trên cơ sở đó, ở phần II, tác giả tập trung tổng kết một số vấn đề lí luận căn bản về văn hóa văn nghệ đương đại.

 

* Hà Minh Đức: Paris hai mùa thu gặp lại (Bút ký). NXB Văn học, H., 2014, 150 trang.

Tập bút kí gồm hai phần: Phần I viết về mùa thu nhân chuyến đi lần thứ nhất đến thăm trường báo chí Lille và Paris. Phần II là lần trở lại Paris hai mươi năm sau, trong đó kể lại việc đến thăm và tham gia một số hoạt động ở trường Đại học Paris 7, Hội báo Nhân đạo, Sứ quán Việt Nam tại Pháp, nhà hát ca múa nhạc Lido. Tiếp đó là những suy tư nhân chuyến thăm nước Đức và một ngày tại Bỉ và Cộng hòa Séc.

 

* Phong Lê: Trăm năm trong cõi - về một thế hệ vàng trong văn chương Việt hiện đại. NXB Văn học - Công ty sách Thái Hà, H., 2014, 320 trang.

Cuốn sách giới thiệu chân dung 23 tác giả – thuộc thế hệ vàng của văn chương Việt hiện đại, theo Phong Lê – là “những người có công đầu trong khai mở và hoàn thiện diện mạo hiện đại cho văn chương học thuật dân tộc; được thể hiện một cách tập trung và nổi bật trong mùa gặt ngoạn mục thời kì 1930-1945. Đây là kết quả nghiên cứu sau nhiều năm của tác giả với mục đích nhằm “giúp các thế hệ sau biết được một lịch sử hình thành và phát triển của văn chương Việt hiện đại, qua đó trước hết như một cách tri ân; và tiếp đó là chia sẻ với những khổ công, nỗ lực và thử thách gồm cả những rủi ro, bất hạnh của một lớp người đi trước”…

 

* Phong Lê: Văn học Việt Nam hiện đại trong đồng hành cùng lịch sử. NXB Khoa học xã hội, H., 2014, 626 trang.

Công trình gồm 43 tiểu luận được chia thành 2 phần. Phần I- Hướng tới mục tiêu cách mạng và hiện đại (từ nửa sau thế kỉ XIX đến 1945) đề cập đến các vấn đề chung của lịch sử và lí luận trên tiến trình thực hiện hai yêu cầu hiện đại hóa và cách mạng hóa văn chương – học thuật dân tộc, với kết thúc là Cách mạng tháng Tám 1945; và với ba tác giả tiêu biểu là Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, Nguyễn Tuân và Nam Cao. Phần II- Từ chủ nghĩa hiện thực và hiện thực xã hội chủ nghĩa đến Đổi mới và hội nhập (từ sau 1945 đến 2013) đề cập đến tiến trình và đặc trưng về nội dung và nghệ thuật của thơ, văn, nghiên cứu lý luận – phê bình qua các thời kì lịch sử cho đến hết thập niên đầu thế kỉ XXI.

 

* Phong Lê: Nam Cao - Sự nghiệp và chân dung. NXB Thông tin và truyền thông, H., 2014, 344 trang.

Đây là công trìnhh bổ sung, nâng cao và hoàn thiện chuyên luận Nam Cao – phác thảo sự nghiệp và chân dung của chính tác giả (NXB Khoa học xã hội, H., 1997). Sách có hai phần chính: Tác phẩm và sự nghiệp (đề cập những nội dung cơ bản và đặc trưng bút pháp hiện thực Nam Cao) - Chuyện đời và chuyện nghề (gồm 14 mục nhỏ như là những lát cắt mỏng nhằm tạo dựng chân dung Nam Cao trong đường đời và nghề nghiệp)... Sau phần Tưởng niệm và hồi nhớ (gồm các hồi ức của Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Hoàng Trung Thông, Nguyễn Minh Châu), còn có phần ghi chép của Phong Lê trong chuyến về thăm quê Nam Cao, và Niên biểu Nam Cao cùng các phụ bản, ảnh về Nam Cao.

 

* Phùng Ngọc Kiên: Mimesis, phương thức thể hiện thực tại trong văn học phương Tây. NXB Tri thức, H., 2014, 712 trang.

Công trình giới thiệu và dịch thuật tập tiểu luận văn học quan trọng của Erich Auerbach (1892–1957), học giả thuộc nhóm ngữ văn cổ điển Đức danh tiếng đầu thế kỷ XX nổi tiếng với những nghiên cứu về Dantes và ngôn ngữ văn hóa cổ trung đại. Chuyên luận nghiên cứu văn bản so sánh "được giới nghiên cứu coi như một trong những cuốn sách phê bình văn học kinh điển của nghiên cứu văn học phương Tây thế kỷ XX". Qua sự khảo sát phương thức thể hiện thực tại trong các danh tác văn chương, công trình hướng tới nhận diện một mô hình nghiên cứu văn chương được xem như là cách tiếp cận căn bản đối với tiến trình lịch sử văn học phương Tây. Bản tiếng Việt được dịch từ bản tiếng Pháp Mimésis, la Représentation de la réalité dans la littérature occidentale (Gallimard, 1996) do Cornelius Heim thực hiện.

 

* Tôn Thảo Miên (Chủ biên): Công chúng, giao lưu và quảng bá văn học thời kỳ đổi mới (1986 -2010). NXB Khoa học xã hội, H., 404 trang.

Đây là kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ cùng tên của nhóm tác giả thuộc Viện Văn học do PGS. TS. Tôn Thảo Miên chủ trì. Cuốn sách tập trung nghiên cứu vấn đề tiếp nhận văn học, trong đó đi sâu vào vấn đề thị hiếu thẩm mỹ, tâm thế tiếp nhận từ hướng tiếp cận xã hội học và liên ngành. Công trình gồm hai phần: Phần I- Công chúng tiếp nhận văn học thời kỳ đổi mới tập trung điều tra văn hóa đọc và thị hiếu thẩm mỹ của công chúng văn học dựa vào kết quả điều tra và thực tiễn đời sống văn học Việt Nam trong giai đoạn 1986 – 2010; Phần II- Văn học nước ngoài ở Việt Nam và văn học Việt Nam ở nước ngoài - dịch thuật và quảng bá tiến hành khảo sát, phân tích, đánh giá theo từng quốc gia như văn học Pháp, Nga, Trung, Nhật trong sự liên hệ, so sánh với thực tiễn đời sống văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới.

 

* Phạm Xuân Nguyên: Nhà văn như Thị Nở. NXB Hội Nhà văn – Nhà sách Nhã Nam -Thế giới, H., 2014, 404 trang.

Cuốn sách tập hợp những bài viết nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam của Phạm Xuân Nguyên trong ba mươi năm gắn bó và tham dự trực tiếp vào đời sống văn chương. Tập tiểu luận khắc họa chân dung 51 gương mặt văn chương. Phần I- Người của hôm qua viết về những tác giả đã mất; Phần II- Người của hôm nay là những người đương thời, được sắp xếp theo thứ tự năm sinh. Người viết hướng đến định danh những tác giả đã có đóng góp và để lại dấu ấn độc đáo trong dòng chảy văn học hiện đại Việt Nam. Các bài phê bình của Phạm Xuân Nguyên giàu tính đối thoại với văn phong phê bình hấp dẫn, đầy cá tính. Tên sách cũng là tên bài đề từ thể hiện quan niệm văn chương cũng như sự lựa chọn tham dự vào đời sống văn chương của tác giả.

 

* Lộc Phương Thủy - Nguyễn Phương Ngọc - Phùng Ngọc Kiên: Xã hội học văn học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, H., 2014, 540 trang.

Cuốn sách giới thiệu, nghiên cứu và dịch thuật những vấn đề xã hội học văn học - một chuyên ngành còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Đây là lĩnh vực nghiên cứu đặc thù, có tính phức hợp, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến mối quan hệ giữa đời sống xã hội với đời sống văn học. Công trình tập trung giới thiệu xã hội học văn học ở Pháp với những đại diện tiêu biểu như R. Escarpit, P. Bourdieu, L. Goldmann, A. Boschetti. Cùng với các tiểu luận gợi dẫn những vấn đề lý thuyết xã hội học văn học, công trình hướng tới nghiên cứu ứng dụng tại Việt Nam qua một số trường hợp cụ thể như khả năng ứng dụng lý thuyết trường vào nghiên cứu văn học trong các giai đoạn, thời kỳ khác nhau. Phần thứ hai giới thiệu một số văn bản dịch quan trọng của các nhà nghiên cứu xã hội học văn học ở Pháp.

 

* Nguyễn Mạnh Tiến: Những đỉnh núi du ca - một lối tìm về cá tính H’Mông. NXB Thế giới, H., 2014, 370 trang.

Chuyên luận xuất phát từ hướng nghiên cứu dân tộc học nhằm xác lập "cá tính H'Mông". Cuốn sách gồm 3 phần: Phần I- Khái lược ngắn một tiểu sử người H' Mông, Phần II- Cá tính H' Mông nhìn từ dân ca, giải mã cá tính tộc người H'Mông qua những tiếng hát mồ côi, tiếng hát làm dâu, tiếng hát cưới xin, tiếng hát tình yêu. Phần III- Cá tính H'Mông nhìn từ các hệ thống quyền lực miền núi, từ cái nhìn địa chính trị, tác giả tập trung phân tích những "dữ kiện dân tộc học tạo nên hệ thống đặc điểm trong tâm thức tập thể tộc người". Cùng với những "khảo cổ học vô thức", công trình nghiên cứu luôn đặt trong sự so sánh cá tính H'Mông với sự đa dạng văn hóa các tộc người miền núi Việt Nam. Dựa trên quá trình khảo sát thực địa và những căn cứ khoa học, tác giả đã có những phân tích, diễn giải thú vị về cá tính H' Mông. Trong sách còn kèm theo hình ảnh minh họa, các bản đồ, sơ đồ và bảng chỉ dẫn tư liệu phong phú.

 

* Tsubouchi Shoyo: Chân tủy của tiểu thuyết (Trần Hải Yến dịch và giới thiệu). NXB Thế giới, H., 2014, 416 trang.

Sách dịch và giới thiệu công trình Chân tủy của tiểu thuyết của Tsubouchi Shoyo (Bình Nội Tiêu Dao, 1859-1935) - nhà phê bình, nhà văn và dịch giả nổi tiếng của Nhật Bản thời cận đại. Đây là "công trình quan trọng đầu tiên của nghiên cứu văn chương Nhật Bản hiện đại", khái quát quá trình phát triển và nhận diện bản chất thể loại tiểu thuyết đồng thời đưa ra đề xuất về thi pháp thể loại với những nguyên tắc cơ bản, phong cách, xây dựng cốt truyện, nhân vật và thuật sự. Bài Dẫn nhập của dịch giả Trần Hải Yến là tiểu luận công phu, chỉ ra những tư tưởng cơ bản và đóng góp quan trọng của tác phẩm này, đồng thời những so sánh, liên hệ với tập tiểu luận Bàn về tiểu thuyết của Phạm Quỳnh đã gợi mở nhiều suy ngẫm về hai công trình mang tính dấu ấn trong lịch sử cận đại ở Việt Nam và Nhật Bản. Kèm theo có phần Phụ lục nguyên bản tiếng Nhật của cuốn sách.

 

* Itamar Even Zohar: Lý thuyết đa hệ thống (Trần Hải Yến - Nguyễn Đào Nguyên dịch, giới thiệu). NXB Thế giới., 2014, 484 trang.

Đây là cuốn sách đầu tiên biên soạn, giới thiệu và dịch lý thuyết đa hệ thống của nhà nghiên cứu văn hóa người Israel, Itamar Even Zohar (sinh 1939). Từ nhãn quan cấu trúc luận, Even Zohar đã ngày càng nới rộng khung học thuật, đi sâu tìm hiểu các vấn đề của văn chương trong trạng thái động với những kết nối, giao thoa và hướng đến nghiên cứu văn hóa  trong cấu trúc đa hệ thống. Lý thuyết đa hệ thống, theo lý giải của Even Zohar, "là một hệ các giả thuyết có thể xử lý sự hỗn mang và tính phức tạp mà không từ bỏ mục tiêu hình thành những giả thuyết mang tính lý giải trong khung khổ triết lý giản dị và tinh tế". Even Zoha cũng gửi riêng tới độc giả Việt Nam những chia sẻ về mục tiêu học thuật của mình trong lời đầu sách.

                                                                             Hải Ninh(tổng hợp)

Các tin đã đưa ngày: