Đang online: 1

Lượt truy cập:

Thế giới quan tôn giáo trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyền

11/09/2017

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có hệ ý thức, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Thế giới quan tôn giáo vừa là vấn đề thuộc tín ngưỡng, tâm linh, vừa phản ánh rõ nét đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc ấy. Trong các hình thức, nghi lễ dân gian, dân ca nghi lễ là loại hình thể hiện chân thực và sống động nhất điều này. Bài viết nghiên cứu sâu về thế giới quan tôn giáo được thể hiện qua dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển, một dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.

THẾ GIỚI QUAN TÔN GIÁO TRONG DÂN CA NGHI LỄ

CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN

  Bàn Thị Quỳnh Giao

 

Tóm tắt: Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc có hệ ý thức, tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau. Thế giới quan tôn giáo vừa là vấn đề thuộc tín ngưỡng, tâm linh, vừa phản ánh rõ nét đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc ấy. Trong các hình thức, nghi lễ dân gian, dân ca nghi lễ là loại hình thể hiện chân thực và sống động nhất điều này. Bài viết nghiên cứu sâu về thế giới quan tôn giáo được thể hiện qua dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển, một dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam.  

Từ khóa: Thế giới quan tôn giáo, người Dao Tuyển, dân ca nghi lễ

 

VIEWS OF RELIGION IN RITUAL FOLK-SONGS OF

DAO TUYỂN PEOPLE

 

Abstract: Vietnam is a multi-ethnic nation-state, each ethnic group has its own ideology, religion and beliefs. The view of religion belongs to the realm of spiritual and belief while reflecting cultural life of each ethnic group. Among various forms of folklore ritual, ritual folk-song is the form that present that characteristic in the most livingly and authentic way. This article deeply studies the view of religion that is presented in ritual folk-songs of Dao Tuyển people, an ethnic minority in Northern mountainous area of Vietnam.

Keywords: View of Religion, Dao Tuyển People, Ritual Folk-Song

 

1.    MỞ ĐẦU

“Thế giới quan bao gồm những hiểu biết rộng lớn nhất về sự vận hành của thế giới, con người có khuynh hướng xem xét những gì họ đã biết và dựa trên hiểu biết này mà tìm ra những manh mối giúp họ hiểu được phần nào những điều họ còn băn khoăn, ngỡ ngàng” [1, tr.235-236]. Các nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma của người Dao Tuyển được duy trì cho đến ngày nay là nhờ sự gắn kết giữa các bài dân ca với thực hành nghi lễ, mà nội dung các bài dân ca nghi lễ ấy đã phần nào phản ánh được dấu ấn Đạo giáo, dấu ấn tâm lý tộc người thông qua thời gian, không gian văn hóa, cũng như giá trị “giáo dục nhất định, hướng người thanh niên làm điều ngay thẳng, dũng cảm, không mê sắc, không vụ lợi và sẵn sàng giúp đỡ người” [2, tr.215]. Đó cũng chính là “những manh mối” giúp chúng ta giải mã được thế giới quan tôn giáo của người Dao Tuyển từ dân ca nghi lễ.

 

2. NỘI DUNG

2.1. Ảnh hưởng của Đạo giáo đến tín ngưỡng của tộc người Dao Tuyển

Đối với người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng, Đạo giáo được coi là tôn giáo có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến tín ngưỡng của họ. Đặc biệt, “Đạo giáo cũng góp phần củng cố thêm ý thức tự giác tộc người của người Dao nói chung hay từng bộ phận người Dao nói riêng. Đạo giáo ra đời từ Trung Quốc, ảnh hưởng đến người Dao đã từ lâu, chí ít là trước thời Minh, Thanh” [3, tr.130]. Đạo giáo tác động mạnh mẽ đến quan niệm của người Dao Tuyển về thế giới xung quanh, đặc biệt là vũ trụ quan dân gian, họ quan niệm như sau: “Thiên binh từ trên con đường trời/ Cưỡi mấy theo sương qua ngang trời/ Trong triều trăm họ trên đường đất/ Trăm họ Thủy tiên (chỉ các loài sống dưới nước) đầm trong hồ/ Sử sách chẳng ngừng năm tháng nào? Thiên triều sáng sớm tu muôn điều/ Vì người xuân đẹp mong mưa xuống/ Nhật nguyệt sáng tỏ, lửa hóa khói/ Mưa rơi mặt đất, trăng bừng sáng”  [4, tr.401]. Theo như lời ca trên thì vũ trụ quan của người Dao Tuyển có ba tầng khác nhau được phân bố theo một trục dọc, tầng cao nhất là Ngọc Hoàng, các vị thần thánh và tổ tiên, tầng thứ hai là thế giới của con người đang sống, phía dưới đáy các con sông là tầng thứ ba của thế giới, ở tầng thứ ba được chia ra làm hai cõi, cõi của thủy thần và cõi của“Trăm họ Thủy Tiên” sinh sống. Ba tầng của vũ trụ có mối quan hệ qua lại không tách rời nhau.

Xuất phát từ quan niệm về ba tầng vũ trụ trong Đạo giáo, người Dao Tuyển cho rằng những con người “nhỏ bé ở dưới đất” nếu như không được cấp sắc “thì dù chết già cũng không được về với tổ tiên và lúc sống không được cúng bái cha mẹ… Lại thêm, điều quan trọng nhất của Đạo giáo đặt ra lệ: ai không làm lễ cấp sắc không được công nhận là con cháu Bàn Vương… không gia nhập Đạo giáo, tự nhiên người đó bị cộng đồng Dao khai trừ” [3, tr.132]. Chính điều đó đã khiến nghi lễ cấp sắc của người Dao Tuyển mang nặng tính Đạo giáo, bởi ở nghi lễ ấy luôn gắn với màu sắc tín ngưỡng, tôn giáo của phép thuật, bùa chú cúng tế. Đặc biệt do ảnh hưởng của Đạo giáo nên người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng quan niệm Ngọc Hoàng là người “hóa cách” giúp người Dao Tuyển vượt qua mọi khó khăn nên trong nghi lễ cấp sắc nếu như không mời được Ngọc Hoàng về trợ giúp thì nghi lễ cấp sắc sẽ không thể thực hiện. Cũng do ảnh hưởng của Đạo giáo nên người Dao Tuyển coi vị thần Bàn Vương (hay còn gọi là Bàn Cổ) là người sinh ra vạn vật và con người trong thế giới tự nhiên. Bàn cổ, Ngọc Hoàng và các vị Thánh, Sư sinh sống ở tầng thứ nhất (tầng trời), con người sinh sống ở tầng thứ hai và người chết linh hồn chưa được luân hồi sẽ sinh sống ở tầng thứ ba của vũ trụ. Người Dao Tuyển quan niệm khi họ chết đi, nếu không được trở về tầng trời để hầu hạ Ngọc Hoàng, Bàn Vương thì họ là người “vong ân bội nghĩa”, bởi hai vị thần tối cao ấy đã trợ giúp họ suốt thời gian họ tồn tại ở cõi trần. Sau khi trả hết nợ ở cõi trần họ phải được trở về cõi trời để báo đáp hiếu nghĩa với Ngọc Hoàng, Bàn Vương, khi họ đã báo đáp tròn ân nghĩa Ngọc Hoàng, Bàn Vương sẽ lại giúp học đầu thai trở về cõi trần. Quan niệm ấy được dân ca nghi lễ phản ánh như sau: “Thái cực tiên sinh, sinh Bàn cổ/ Khai bảo nguyên niên vua ra đời/ Chưa có trời mà đã có đất,/ Trước có Ngọc hoàng với Bàn cổ,/ Tôi ra cùng lứa với Ngọc Hoàng, Ngọc Hoàng ba trăm sáu hóa cách,/ Bàn cổ ba trăm sáu hóa thân./ Mắt trái biến thành mặt trời đỏ,/ Mắt phải biến thành mặt trăng tròn,/ Cỏ tranh trên đồi là tóc biển,/Cá nước dưới biển là tim gan,/Răng biến thành vàng với bạc, Xương cốt biến thành đá thành tro,/ Thịt biến thành đất trồng trọt lúa,/ Máu chảy thành sông ra biển khơi,/ Gân cốt biến thành cây trên núi,/ Móng tay chân biến thành ngôi sao,/ Chín khúc minh chu với lục tạng,/ Ruộng đồng cày cấy là chân ông,/ Ruộng đồng là vết chân của bố…” [2, tr.298-299]. Do vậy, Bàn Vương được người Dao Tuyển coi như một tiểu vũ trụ mênh mông, huyền bí, “Tạo được châu thành rộng bao la/ …/ Rồng vàng dưới biển được yên tâm/ Rồng vàng dưới biển sống vui vẻ/ Nhìn thấy mặt trời chiếu khắp nơi” [6, tr.33-34]; đồng thời cũng là ông tổ của người Dao Tuyển có sức mạnh siêu nhiên hộ mệnh, chi phối mọi duyên số, công danh, sức khỏe, đường đời của vạn vật trong tự nhiên cũng như con người.

Đạo giáo đã phát huy được ảnh hưởng mạnh mẽ của mình trong tín ngưỡng thờ thần của người Dao Tuyển, bởi “Nó xuất phát từ lòng tin là xung quanh người sống, cùng với thế giới hiện hữu của chúng ta, có một thế giới vô hình, ở đó các vị thần linh ở khắp nơi theo dõi và phù trợ cho thế giới của người sống” [7, tr.21] . Với lòng tin đó nên trong các nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma các thầy cúng phải thực hiện nghi lễ mời thần về trợ giúp. Các vị thần được mời về trợ giúp trong suốt quá trình thực hành của ba nghi lễ là: Ngọc Hoàng, Bàn Vương, Tam Thanh, Tam Nguyên, Bà Mụ… Vì thế, khi mở đầu các nghi lễ, thầy cúng chính hát bài Mời thần, bài hát có đoạn mở đầu như sau: “Hỡi… Ngọc Hoàng ở trên trời cao/ Về đây chứng giám cho xa đường/  Đại giới chúng con đường chưa mở/ Nhờ thần mở lối chúng con qua/ Hỡi … thần Bàn Vương hãy về đây/ Chứng giám cho xa đường đại giới/ Thần Bà Mụ ở trên núi cao/ Về đây bảo hộ đệ tử nhỏ/ Chứng giám cho thầy mở xa đường…” [Ghi theo lời ông Hoàng Văn Tờ, sinh 1938, Bản Cầm, Bảo Thắng, Lào Cai, tư liệu điền dã ngày 8/1/ 2014]. “Trong tôn giáo tín ngưỡng, việc con người, tức thế giới trần tục thông quan với thế giới thần linh là một trong những nhân tố cơ bản. Việc thông quan đó cần tới nhiều điều kiện, trong đó ngôn ngữ, tức tiếng nói của con người giữ vai trò chủ yếu. Tiếng nói đó có thể là lời cầu khấn, niệm chú, lời hát cầu…” [7, tr.323]. Như vậy, khi các thầy cúng hát mời các vị thần về trợ giúp trong các nghi lễ, đấy cũng là một cách để con người “thông quan” với thế giới thần linh. Và theo quan niệm của người Dao Tuyển thì việc “thông quan” với thế giới thần linh là một việc làm vô cùng quan trọng và có ý nghĩa. Bởi nếu như không có thế giới thần linh phù trợ, giúp sức thì người thụ lễ sẽ không thể đến được Mai Sơn để nhận sắc phong, ấn tín “Ngậu nhụt hồ phản thai si sang/ Thỉm thẩy luôn thao de làn tảm/ Gu nhột hò phản thái pèng chây/ Dặp truân thẩy can loi sỏng thàu” [5, các trích phần lời Nôm Dao và phiên âm tiếng Việt đều trích trong cuốn này], dịch: “Hào quang trên đường soi dẫn đường/ Đi đến Mai Sơn chẳng sợ chìm/ Chúc cho phúc mới khi thụ giới/ Đẹp tựa trăng rằm tết đoàn viên”. Cũng như vậy, cô dâu chú rể không vượt qua được các quan ải để đến được bến bờ hạnh phúc “Ban gậy tràng rành quán chhen ai/ Hô cánh quắn dọng tọng péng hèng” dịch: “Vạn lý trường thành trấn ải quan/ Nơi đây quân dũng động binh hành”. Và người chết sẽ không thoát được 18 tầng địa ngục, hương hồn sẽ bị “chìm ở án” không được trở về Dương Châu “Hương hồn không bị chìm ở án/ Thẳng lên thiên đường nơi tiên cảnh”.

Người Dao Tuyển có một niềm tin thiêng liêng vào thế giới thần linh, chính vì vậy trong tâm thức họ hình thành những không gian thiêng liêng. Họ coi đó là nơi sinh tồn của Thần, của ma tổ tiên bởi vậy không gian ấy tập trung  những gì quí nhất, đẹp nhất, hay nhất.  Đặc biệt người Dao Tuyển luôn mơ ước mình sẽ được đặt chân vào không gian thiêng Mai Sơn. Để thực hiện được mơ ước này, những người đàn ông Dao Tuyển phải trải qua nghi lễ cấp sắc, khi đó họ sẽ được các thầy công nhận là đệ tử của Đạo Giáo, cũng có nghĩa khi đó họ sẽ được đặt chân vào không gian thiêng ấy. Được như vậy, thì khi họ lấy vợ, sinh con đẻ cái, khi già chết đi… những người đàn ông Dao Tuyển mới được các vị thần linh ở Mai Sơn về trợ giúp “Tòng tin thẩy cán răm pẩy gầy/ Tòng nhốt hồ phản long gây kêu/ Ting tủ nhột tàu thanh xang tin/ Lạp nhột hò phản tan tàu toi/ Chầu xỏng ráp hạc toi toòng sôổng”, dịch: “Cửa tử hoàn sinh mọi xứ truyền/ Hương hỏa đều đặt trên Mai Sơn/ Thầy truyền khuôn vàng như Đồng Nhi/ Ban cho ân mới được trường thọ/ Văn võ giỏi giang như rồng bay”. Không gian thiêng Mai Sơn là nơi trú ngụ của Mai Sơn pháp chủ (có tên niệm là Chu Ứng Lượng) và các thầy dạy đạo. Khi người được cấp sắc được đặt chân vào không gian thiêng ấy đồng nghĩa với việc họ sẽ được dạy phép trừ ma diệt tà và trở thành đứa con chính thức của Mai Sơn pháp chủ. Ở không gian thiêng ấy người được cấp sắc “mới được nhận là tín đồ của Đạo giáo, được thánh thần công nhận, được cấp âm binh, tu luyện pháp thuật, khi sống làm ăn, sinh hoạt mới được may mắn; lúc chết mới được về với tổ tiên nơi Dương Châu không phải sa xuống địa ngục” [3, tr.131]. Khi trở thành tín đồ của Đạo giáo, người được cấp sắc sẽ múa điệu Múa rùa (điệu múa thiêng của người Dao Tuyển) và hát bài Cảm tạ thần để cảm ơn các thần:“Sớm nay Tân ân thụ giới mãn/ Sớm mai trăm họ đã đến nhờ/ Sơm mai trăm họ đã đến nhờ/ Bất kể đại chay hay tiểu hội/ Bốn phương đều đạt tới âm cung/ Tiếng thơm truyền đi khắp tứ xứ/ Cứu nhân độ vật thật công danh” [Ghi theo lời thầy cúng Lý Vần Sẩu, sinh năm 1945, tại Bản Lầu, Mường Khương, Lào Cai, tư liệu điền dã ngày 24/11/2014]. Lời bài hát vừa là lời cảm ơn đồng thời cũng là lời báo cáo với các thần và tổ tiên họ đã “thụ giới”, nên họ sẽ sống có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, luôn thay mặt các thần cứu nhân độ thế.

Không gian thiêng trong lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma của người Dao Tuyển không chỉ bó hẹp ở Mai Sơn mà có khi nó còn được trải dài tới tận cửa biển, ở không gian đó người Dao Tuyển đã lưu giữ lại ký ức vượt biển trong quá trình di cư của tộc người “Cách biển mời thần phải có thuyền/ Bắc được cầu rồng qua biển rộng” [6, tr.35]. Cũng như các nhóm Dao khác, người Dao Tuyển luôn ghi nhớ công lao của Bàn Hồ, người đã được Bình Vương cấp cho Quá sơn bảng văn, để tìm nơi đất mới sinh sống, từ đó người Dao Tuyển mới tìm được mảnh đất màu mỡ để sinh sống ở Việt Nam. Trong nghi thức mở đầu của lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma bao giờ các thầy cúng cũng hát bài Phiêu dương quá hải ca. Bài ca Phiêu dương quá hải ca là bài dân ca nghi lễ được tất cả các nhóm Dao trong đó có nhóm Dao Tuyển sử dụng trong các nghi lễ vòng đời của mình. Bài ca này đã được tác giả Tẩn Kim Phu sưu tầm và giới thiệu tới người đọc trong cuốn Truyện thơ người Dao Khâu ở Sìn Hồ - Lai Châu, mà theo khảo sát, nghiên cứu của chúng tôi người Dao Khâu thực chất là Dao Đỏ. Bài ca nghi lễ Phiêu dương quá hải ca được người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng sử dụng trong thực hành nghi lễ đưa người được cấp sắc và linh hồn người chết đến với không gian cửa biển, nơi mà những người Dao Tuyển đầu tiên bước chân lên chiếc bè gỗ để đi tìm nơi đất mới: “Chiệp nhể phính Yìu chảng bài khiếu/ Chiệp nhể có tải bài hành kía cong/ Tẩu kía “Tàng Cong” yỉem tháo ngản/ Puồng chụ tải puông xín lủn hành/ Chía chiu chía yế yỉem tháo ngản/ Tải bài biêu pịa khoaiz yièng tuông/ Nài chói khoaiz tuông pham nhụt chiêuz/ Bài xiên mẩy tỗng yeek dào yiêu/ Yiết nhần yiểu vỏa luồi xinh hengz/ Nhể nhần yiểu tài to nhìn vỏa/ Chuống nhần dào lủn luổi xong liều”, dịch: “Tìm đến cửa sông bến Trường Giang/ Vào rừng chặt gỗ kết thành bè/ Mười hai họ Dao lên bè đi/ Mười hai cái bè chèo qua sông/ Bè chèo qua sông chẳng cập bến/ Gặp phải gió to muốn lật bè/ Bao ngày bao  đêm chẳng đến bờ/ Bè liền trôi dạt giữa biển khơi/ Ba tháng lênh đênh trên mặt biển/ Nhìn lên thấy trời, dưới nước sâu/ Sóng biển dâng cao tiếng gào thét/ Mọi người vô kế chỉ lo âu” [8, tr.84]. Ở không gian thiêng nơi cửa biển các thầy cúng phù phép cho người đàn ông Dao Tuyển đã được cấp sắc có phép thuật quá giang,  quá hải (qua sông qua biển), để họ có thiên binh vạn mã nhập thân, bất kể đi xa gần, đi sông hay đi biển sẽ không bị ma quỷ xúc phạm, làm hại. Khi có phép thuật quá giang trong cuộc sống hàng ngày họ bảo vệ được những người bên cạnh mình được bình an, không gặp những điều tai ương.Đặc điểm chung của không gian thiêng trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển là mô hình ba giới, ba tầng, ba cõi: Thượng giới, trần giới và địa giới tương ứng với ba tầng, ba cõi của thần linh, người, ma quỷ. Ở không gian thiêng đó, con người có thể tự do đi lại trong ba tầng, ba cõi mà ít gặp sự trở ngại nào. Để có thể đi lại tự do được như vậy những người đàn ông Dao Tuyển phải được cấp sắc, phải học đạo, tu luyện thành thạo cả Đạo giáo thần tiên, Đạo giáo phù thủy ở bên Đạo và bên Sư. Đó chính là tính chất tôn giáo của không gian nghệ thuật trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển. Không gian trong dân ca nghi lễ dù được cảm nhận ở phương diện nào, khía cạnh nào thì đó cũng là những không gian gần gũi thân thuộc và bình dị nhất của tộc người Dao Tuyển, qua đó cho thấy sự gắn bó với quê hương, với cội nguồn dân tộc mình.

Từ không gian thiêng nơi cửa biển ấy, chúng ta cũng thấy thấp thoáng hiện ra thời gian lịch sử của tộc người Dao Tuyển. Trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển, thời gian lịch sử được nhìn từ phía hiện thực phản ánh, là sự đồng hiện của ba mảng lớn: lịch sử tộc người, quá trình di cư và quá trình định cư tại vùng đất mới. Qua bài dân ca này thời gian lịch sử của tộc người được tái hiện với những dấu tích cụ thể như: “Chiêu chìu, Chán cuak, Shần chìu tỏi/ Hán chìu, Pham cuak, Fbuz chìu tình/ Yìu nhần chói lọ Shuz cuak tẩy/ Chiềm xấy Hù Nàm, Hù Pak chiêu/ Xeng chang, Mù chang, Yiền chang ngản/ Tổng Tình hù ngản phiếu shun shiêu/ Chói lọ lẻng hù lụa chìu tỏi/ Yiệt shin nhể pek lụa chiệp nhể nin”dịch: “Người đời truyền miệng từ ngàn xưa/ Xứ sở phương bắc có người Dao/ Thời Chu, Chiến quốc, thời Tần đại/ / Thời Hán, Tam quốc, Phổ triều đình/ Người Dao đang ở đất nước Sở/ Nay là tỉnh Hồ Bắc, Hồ Nam/ Ở dọc sông Mậu, sông Nguyên/ Cạnh hồ Động Đình cuộc sống yên” [8, tr.77-78]. Thời gian lịch sử trong bài dân ca Phiêu dương quá hải ca là thời gian quá khứ xác định, thông qua những lời ca người nghe nhận biết được những mốc lịch sử cụ thể của tộc người như: vào triều đại nhà Tùy, Đường, Tống… người Dao nói chung trong đó có người Dao Tuyển di chuyển từ “phương Bắc” sang phía Đông Tây: “Thời ấy triều đình là Nam Bắc/ Tùy, Đường, Tống triều lần lượt qua/ Đất trời phương Bắc đều dễ ở/ Chẳng phải di dịch sang Đông Tây” [8, tr.79]; Rồi đến đời Minh, Thanh… họ bắt đầu di cư đến Giao Chỉ “Triều Minh, triều Thanh, Dân Quốc thế/ Có số người Dao ra nước ngoài/ Được nghe người đồn đất Giao Chỉ/ Núi rừng còn rộng dễ làm ăn/ Một số dời sang đất Giao Chỉ/ Tọa lạc nơi đây hàng trăm năm”  [8, tr.92]. Như vậy, thời gian lịch sử xuất hiện trong dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển nó không tách biệt với thời gian diễn xướng, thời gian lịch sử và thời gian diễn xướng hòa vào làm một trong bối cảnh diễn xướng và hai mảng thời gian ấy không tách biệt rạch ròi. Dân ca nghi lễ được chủ thể diễn xướng và người tham dự nghi lễ hát lên như chính mình là người đang sống trong giai đoạn lịch sử đó. Kết cấu phổ biến nhất trong dân ca nghi lễ là kết cấu theo chặng đoạn của nghi lễ bởi vậy mà khi sáng tác đồng thời cũng là lúc trình diễn, diễn xướng nên có thể nói rằng thời gian lịch sử trong dân ca nghi lễ chính là thời gian diễn xướng.

2. Đạo giáo có vai trò trao truyền tín ngưỡng và giáo dục đạo lý trong cộng đồng

Các bài dân ca nghi lễ của người Dao Tuyển không chỉ cho người đọc nhận biết được những dấu ấn văn hóa của tộc người trong đó mà nó còn có vai trò trao truyền tín ngưỡng và giáo dục đạo lý trong cộng đồng. Do đó, các gia đình người Dao Tuyển đều mong muốn con trai mình được cấp sắc để học được nhiều chữ, hiểu được đạo lý để trở thành thầy cúng giỏi, trở thành một người tốt, sống có ích cho cộng đồng, xã hội. Họ sẽ có một tương lai tươi sáng, để rồi khi trưởng thành lấy vợ họ sẽ được làm chủ gia đình, được cúng tổ tiên trong lễ đặt tên cho con, đến khi già chết đi họ được con cháu làm ma và làm chay để về Mai Sơn sinh sống tiếp với tiên tổ: “Hác ray pát xết rành chanh cao/ Thám thảy chanh thi khô dòng nhàn/ Rành chạch thám nhồn hèng hoă lâu/ Lạnh thảy den kêm mệt rè thánh/ Pou dau thắn ắn tràng thẻng rau/ Tảnh bành páp cao nhăm tỏng hèng/ Xôi chang ly pánh tràng ong hu/ Đều rằn thay quay đạt dồn póng”, dịch thơ: “Quý tử Tam Sư thật đẹp thay/ Thừa chức Tam Nguyên được hành hóa/ Lĩnh ấn, lĩnh kiếm diệt tà tinh/ Chúc mừng ấn mới được thọ lâu/ Thanh bình học phép để thông hành/ Tướng soái kiển binh thường ủng hộ/ Điều thần tế quỷ đạt huyền phương”. Lời bài hát thể hiện khát vọng của tất cả những người làm cha, làm mẹ. Sinh con ra dù vất vả, khó khăn đến đâu họ cũng muốn con trai mình được làm đệ tử của Tam Sư, được cấp sắc, cấp ấn tín, học phép thuật, học đạo lý để có thể điều binh, khiển tướng, biết quý trọng giá trị cuộc sống, biết chia sẻ và giúp đỡ mọi người trong cộng đồng. Việc răn dạy đạo lý cho các đệ tử với mục đích mong muốn cho đệ tử được khỏe mạnh, thành danh, chăm chỉ lao động và sống đúng đạo, cụ thể các lời răn dạy ấy như sau:

Lời dạy đầu tiên là: “Mới hẹn dạy con kinh trong nhà/ Bản kinh trong nhà để dạy con/ Lưu truyền từ xưa cho đến nay/ Nếu là người thân cho một bản/ Nếu là khách đến người thêm người/ Từng trang từng trang mong con tốt/ Trong lúc chuyện trò lời chân thật/ Có kinh dùng dạy cho con cháu”, thầy răn dạy đệ tử của mình hãy sống thật tốt trong mọi hoàn cảnh. Trong lễ dạy kinh cho người được cấp sắc (đệ tử), người thân hoặc những người đến tham dự buổi lễ đều có thể ngồi nghe thầy cúng chính dạy kinh bởi những lời kinh răn dạy không chỉ dành riêng cho người được cấp sắc mà những lời kinh ấy còn hướng nội dung răn dạy đến tất cả mọi người trong cộng đồng: hãy sống khỏe mạnh, chăm chỉ học hành, biết kính trên nhường dưới: “Khi nhỏ mạnh khỏe sẽ thành danh/ Đừng nói tuổi nhỏ chẳng hiểu việc/ Ngày ngày chăm chỉ trong nhà sách/ Mong được đọc sách, mong viết chữ/ Nghiêm túc chăm chỉ học tự văn/ Học cùng bạn bè đừng chậm trễ/ Hành lễ phải có bậc trước sau/ Với việc học hành đừng chạy trốn/ Đánh mất lời thầy dạy bên tai”.

Lời dạy thứ hai là: Mong người được cấp sắc và tất cả mọi người trong cộng đồng sống “mạnh khỏe”, có sức khỏe thì mới “thành danh”. Người đàn ông Dao Tuyển muốn “thành danh” - trở thành thầy cúng giỏi, thì từ nhỏ phải chuyên tâm học sách và viết chữ Nôm Dao, bởi theo quan niệm của người Dao Tuyển những người học giỏi chữ Nôm Dao là những người tốt, không làm tổn thương tới người khác, không làm hại đến loài vật, không phạm đến trời đất.

Lời dạy thứ ba là: Dạy mọi người phải chăm chỉ lao động sản xuất để tạo ra của cải vật chất làm giàu cho gia đình và cộng đồng: “Cấy ruộng muốn giỏi phải dùng tâm/ Năm qua năm lại cày cấy/ Đừng để hết năm khóc cầu người… Ruộng mạ trải ra một dải dài/ Kính xin gia thần xuống thóc giống/ Khi xuống vung tay gieo thật đều/ Mạ phơi trên nước thật cẩn thận/ Nhanh để cấy xuống được xanh trời”. Muốn lao động sản xuất giỏi, tất cả các thành viên trong cộng đồng phải học cách làm, cách chăm sóc sao cho đúng thời vụ, đúng kỹ thuật. Trong lời bài hát chúng ta thấy người Dao Tuyển đã giáo dục những người đàn ông – những người chủ gia đình biết rằng mọi việc muốn làm được tốt đều phải học, kể cả việc “Cấy ruộng muốn giỏi phải dùng tâm”. “Tâm” ở đây là chuyên tâm vào công việc mình làm, cho dù đó là công việc khó khăn học chữ thánh hiền hay là những công việc thường nhật trong gia đình, trong lao động sản xuất. Bên cạnh việc chuyên tâm thì người Dao Tuyển cũng tin rằng nếu con người có “tâm” – cũng có nghĩa là tâm hồn - trong sáng thì mọi việc đều được các thần linh và các ma tốt giúp đỡ.

Lời dạy thứ tư là: Phải biết sống đúng đạo làm con, đạo vợ chồng, không được sa vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút…trái ngược với đạo lí tộc người. Chẳng hạn như khuyên đệ tử và các thành viên trong cộng đồng sống phải có hiếu với cha mẹ thầy cúng chính sẽ hát: “Nuôi con để cậy lúc về già/ Cha kêu chân yếu lại thêm chân/ Mẹ than hoa mắt, đầu thời đau/ Chẳng phải cha mẹ vờ bệnh tật/ Người khi về già trăm thứ sinh/ Tinh thần khí huyết đều giảm sút/ Động tác sao sánh bằng thanh niên/ Mùa hạ sợ nóng, đông sợ lạnh/ Gió độc, sương sa một thân hình/ Ốm đau bệnh tật nhan sắc đổi/ Khi ngủ nước mắt ướt áo quần/ Ít nhiều đời sau khó đến già/ Cha mẹ về già quý ngàn vàng/ Khuyên người trong nhà con hiếu thuận”. Lời bài hát cũng chính là mong muốn của thầy cúng với người được cấp sắc và các thành viên trong cộng đồng. Sau khi được cấp sắc, được học những điều hay lẽ phải mọi người phải biết đặt chữ hiếu lên đầu, có hiếu thuận với cha mẹ, biết kính trên nhường dưới sau này mới tiếp tục truyền dạy cho thế hệ sau (đệ tử của mình) những lời kinh răn dạy được.

 Khi đứa bé trai lên 10 tuổi gia đình phải làm lễ cấp pháp danh cho đứa trẻ, đây là một nghi lễ rất đặc biệt với người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng. Nghi lễ này được tổ chức khá cầu kỳ và trang nghiêm, bởi nếu người đàn ông Dao không trải qua lễ cấp sắc, không có pháp danh thì không được coi là một người đàn ông trưởng thành về mặt thể chất cũng như tâm linh, họ không được tham gia bất kỳ nghi lễ quan trọng nào của cộng đồng với tư cách là người tham dự nếu có tham dự họ chỉ được tham dự với tư cách là người phục vụ. Nhà thơ Bàn Tài Đoàn là một trí thức người Dao Tiền và cũng là một minh chứng sống đã thốt lên trong bài thơ Cuộc đời sao khổ thế, về việc không có pháp danh, không được coi là đàn ông trưởng thành: “Văn chương cũng học được một ít/ Không có pháp danh đành chịu theo” [9, tr.456]. Mặc dù ông là một trí thức người Dao, đi theo Cách mạng từ rất sớm, song do nhà nghèo không có tiền làm lễ cấp sắc nên ông không lấy được vợ chỉ đến khi ông nhiều tuổi có chút tiền ông mới “Cậy nhờ ông chú lo liệu giúp/ Lo cho tôi được lập pháp danh”, khi lập được pháp danh tuổi ông đã lớn: “Lập được pháp danh bị họ mắng/ Ông ngoại chửi cho chẳng để giành/ Nam chiếu chửi cho đau đớn quá/ Khắc ở khổ nghèo b… mọc rêu” [9, tr.456] nên ông phải lấy người đàn bà góa và chịu phận ở rể bên nhà vợ. Hay nhà thơ Triệu Kim Văn – một người Dao Đỏ cũng đã thốt lên rằng:“Ngày xưa mồ côi đi bán củi/ Cả ngày chỉ đổi được chén hạt kê/ Hạt kê nấu cháo mẹ con cùng húp/ Một đời không vượt nổi suối khe/…/ Đeo lủng lẳng với hội đèn điệu múa/ Găm vào tâm thức con cháu Bàn Dao/ Tôi về đêm quá tăng cấp sắc/ Bạc tóc đầu làm đứa trẻ con” [10]. Điều đó cho thấy nếu như người đàn ông Dao không được cấp sắc thì ngay cả đến con gái cũng không muốn đặt tình cảm yêu thương, chứ không nói đến những việc trọng đại khác trong gia đình và cộng đồng. Chính vì vậy, mà các bài dân ca trong nghi lễ cấp sắc được các gia đình người Dao nói chung và người Dao Tuyển nói riêng có ý thức dạy cho con em mình từ rất sớm. Bởi có tiền mà không thuộc dân ca nghi lễ, họ cũng không thể làm lễ cấp sắc, đồng nghĩa với việc cha mẹ chưa làm tròn trách nhiệm của mình với con cái. Người Dao Tuyển quy định chỉ những người được cấp sắc tên tuổi mới  được ghi vào cuốn gia phả của dòng họ. Con gái mới yêu và chấp nhận lấy làm chồng, gia đình mới có “phúc lộc dầy”: “Xặp nhụt xong trà choỏng chây mình/ Xặp dét nhụt dặp tóng xa hung cô/ Xặp nhây nhụt cúng chén toi tóng hù/ Lổ chén tì đòi dắm kềm xang/ Dặp tóng xong lung xi ma xằng”, dịch thơ: “Niềm vui lớn ghi tên dòng họ/ Tất cả anh em mang tiền đến/ Mừng cho con cháu có tên mới/ Phúc lộc dầy khi cháu khôn lớn/ Làm gì được đấy như ý muốn”. Khi người cấp sắc được cấp sắc, cấp âm binh, ấn tín sẽ được các thầy đặt cho một tên âm (tên để sau này làm thầy cúng, tên để khi chết đi con cháu dùng tên đó để làm ma). Chẳng hạn, trong lễ cấp sắc của cháu Tẩn Văn Đường mà chúng tôi tham dự thì tên cấp sắc của cháu là Tẩn Đạo Lộc, cái tên này sẽ gắn với tất cả các nghi thức cúng bên âm của cháu, sau này nếu cháu trở thành thầy cúng thì cũng sử dụng tên đó. Khi chết đi tên Tẩn Đạo Lộc là tên để cúng cơm, còn tên Tẩn Văn Đường chỉ được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày và các văn bản hành chính.

Khi đã tới được không gian thiêng, người thụ lễ mới có “người người nhờ”, mới đi làm lễ “mỗi phương đám hát” và mới có phép để dẫn dắt linh hồn người chết từ “cửa tử” hoàn sinh về với giới tiên… Hơn nữa, với tâm lý phải trải qua lễ cấp sắc mới được coi là người trưởng thành, mới được dựng vợ, được làm chay: “Hou đòu hàm lệu hou đòu hàm/  Đòu hàm bên trang xi đai rị/ Lị đòu tú tai quay rằn mành/ De rị lan thảy thắm pắt tỏng/ The tắc đòuhàm ri ri đòng/ Tển ri y hoàn tển ri the/ Lui ri chẹt đòukêu thóc chổn/ Chóng ri tam trảng kêu thóc hou/ Tho thăn dét pạt ngâu nhùi mị/ Dawu thawu dẹt pạt trang tóu póng/ De dong bu cốn lài tranh cu/ Bu cốn tranh cu họp thành póng, dịch thơ: Có bảng tư xong không bảng tư/ Bảng tư dâng trầu các quan viên/ Bảng tư nguyên là gái nhà thổ/ Thấy trời hợp lý nhận cùng tuổi/ Cũng là Lỗ Ban nhiều sáng kế/ Tạo thành bát quái ở trước mặt/ Lại tạo bát quái thành nước lửa/ Nhãn tiễn lại tạo trời đại la/ Điều thần nếu có văn bảng treo/ Như là nhật nguyệt với tam quang/ Điều thần nếu không có bảng treo/ Như là trong biển không có rồng”, nên khi họ có bản sắc, “bảng tư” (âm binh) thì họ mới tạo ra được“bát quái”, mới hiểu được ý nghĩa biểu tượng của “bát quái” thuộc các bài dân ca trong các nghi lễ mới được phép tiến hành những công việc liên quan đến phong tục tập quán của người Dao Tuyển như: chuẩn bị và thực hành nghi lễ cúng trong gia đình, trong cộng đồng, được xem sách chọn ngày tháng tốt để xuống đồng, cưới xin, ma chay, được mời làm ông mối…

Theo quan sát của chúng tôi, trong nghi lễ cấp sắc, đám cưới, tang ma, sau khi các nghi lễ kết thúc, người được cấp sắc, cô dâu chú rể, con trai trưởng của người chết phải quỳ trước cổng để tiễn các thầy cúng ra về.  Mỗi thầy cúng trước khi về đều cho người thụ lễ một chút tiền gọi là “Mừng cho con cháu”, đồng thời tiền đó để cho người được cấp sắc, đôi vợ chồng mới cưới, gia đình có người chết được “phúc lộc”, làm ăn sẽ được “như ý muốn”. Họ sẽ thấy tự tin hơn, mạnh mẽ hơn, để vươn lên trong cuộc sống: “Chu nhốt hò phản mừn thìn sâu/ Chả chả dang thai sâu mừn thìn/ Sặp nhột hồ phản thỉm thầy qua/ Tòng tin thẩy cắn răm pẩy gầy”, dịch thơ: “Ban cho ân mới, đường tiến hóa/ Hương khói chẳng ngơi, người người nhờ/ Chai tiếu mỗi phương đám hát đạt/ Cửa tử hoàn sinh mọi xứ truyền”.

3.    KẾT LUẬN

          Có thể nói, các bài ca nghi lễ  của người Dao Tuyển thể hiện được thế giới quan dân gian của tộc người. Thế giới ấy chính là hiểu biết của con người về những ảnh hưởng sâu rộng của Đạo giáo trong cuộc sống thông qua tính giáo dục (chăm chỉ học chữ Nôm Dao, chăm chỉ lao động, sản xuất để tạo ra của cải vật chất, sống đúng đạo…), tín ngưỡng thờ thần và khát vọng của con người được đặt chân vào không gian thiêng. Khi đứa trẻ được làm lễ cấp sắc tên tuổi sẽ được ghi vào gia phả của dòng họ và trở thành môn đồ của Đạo giáo, mới được tổ tiên, thần linh che chở, có âm binh bảo vệ, mới được đặt chân vào không gian thiêng, mới lấy được vợ như ý muốn và khi chết mới được làm lễ chay để được sum họp với tổ tiên. Với ý nghĩa đó, các bài dân ca trong  thực hành các nghi lễ này chiếm vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa của người Dao Tuyển bởi nó góp phần vào việc duy trì tín ngưỡng, phong tục, tập quán của tộc người.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

1.      Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda (2001), Nhân học – một quan điểm về tình trạng nhân sinh, (Hồ Liên Biện dịch), - Nxb Chính trị Quốc gia, 2001, Hà Nội.

2.      Bế Viết Đẳng, Nguyễn Khắc Tụng, Nông Trung, Nguyễn Nam Tiến, Người Dao ở Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, 1971, Hà Nội.

3.       Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia, Sự phát triển Văn hóa – xã hội của người Dao hiện tại và tươnglai (Kỷ yếu hội thảo), Nxb KHXH,1998, Hà Nội.

4.       Trần Hữu Sơn (chủ biên), Những bài ca giáo lý của người Dao, Nxb VHDT, 2009, Hà Nội.

5.       Trần Hữu Sơn (chủ biên), Thơ ca dân gian người Dao Tuyển (song ngữ Việt – Dao), Nxb VHDT, 2011, Hà Nội.

6.      Triệu Hữu Lý, Dân ca Dao, Nxb VHDT,1990, Hà Nội.

7.      Ngô Đức Thịnh, Tín ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng ở Việt Nam, Nxb Trẻ, 2012, Hà Nội.

8.      Tẩn Kim Phu, Truyện thơ người Dao Khâu ở Sìn Hồ - Lai Châu, Nxb VHTT, 2012, Hà Nội.

9.      Bàn Tài Đoàn, Tuyển tập Bàn Tài Đoàn, Nxb văn học,1992, Hà Nội.

10.  Triệu Kim Văn, Lối cỏ, Nxb Hội Nhà văn, 2004, Hà Nội.

 

Nguồn:  Bài in trên Tạp chí Khoa học, số 15, 4/2017. Bản đăng trên Cổng thông tin điện tử của Viện Văn học do tác giả gửi.

 

Các tin đã đưa ngày: