Đang online: 1

Lượt truy cập:

Từ Ban Văn Sử Địa đến Viện Văn học

06/11/2018

Viện Văn học chính thức thành lập vào đầu năm 1960 theo Quyết định số 038-TTg ngày 6/2/1960 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, lịch sử hình thành của Viện phải được tính từ ngày 02-12-1953, khi Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) ra Quyết định về việc thành lập Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học.

 

TỪ BAN VĂN SỬ ĐỊA ĐẾN VIỆN VĂN HỌC

 

GS. Phong Lê - PGS.TS. Nguyễn Đăng Điệp

 

 

1. Từ Ban Văn Sử Địa đến Viện Văn học

Viện Văn học chính thức thành lập vào đầu năm 1960 theo Quyết định số 038-TTg ngày 6/2/1960 của Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, lịch sử hình thành của Viện phải được tính từ ngày 02-12-1953, khi Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam) ra Quyết định về việc thành lập Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học. Một năm sau, do nhận thấy sức tác động mạnh mẽ của văn học đối với đời sống xã hội, Ban Nghiên cứu Lịch sử, Địa lý, Văn học được đổi thành Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa với sự góp mặt của những nhà nghiên cứu và hoạt động xã hội có uy tín lúc bấy giờ là Trần Huy Liệu (Trưởng Ban), Minh Tranh, Tôn Quang Phiệt, Hoài Thanh, Trần Đức Thảo, Vũ Ngọc Phan.

 

Sau hơn 5 năm tồn tại, Ban Văn Sử Địa đã có những đóng góp quan trọng trong việc đặt nền móng cho sự phát triển ngành khoa học xã hội và nhân văn nước ta. Riêng trong lĩnh vực văn học, hàng loạt công trình sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn về văn học Việt Nam đã được thực hiện có hiệu quả trong điều kiện khó khăn và lượng cán bộ ít ỏi. Về văn học dân gian là các công trình sưu tầm, nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan (Truyện cổ tích Việt Nam, 1955; Tục ngữ và dân ca Việt Nam, Tập 1 và tập 2, 1956); Nguyễn Đổng Chi (Lược khảo về thần thoại Việt Nam, 1956; Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1 và 2, 1958); Văn Tân (Tiếng cười Việt Nam, 1957); Nguyễn Hồng Phong (Truyện tiếu lâm Việt Nam,1957)... Về văn học cổ điển và cận đại - đó là việc phiên âm, chú giải Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi; giới thiệu, chú thích Quan Âm Thị Kính; giới thiệu Nguyễn Trãi - nhà văn học, nhà chính trị thiên tài; Văn học trào phúng Việt Nam; phiên âm, dịch và giới thiệu Phan Bội Châu niên biểu...

 

Trong bối cảnh đất nước vô cùng thiếu thốn, ý thức xây dựng một bộ văn học sử đã bắt đầu khởi động, mà thoạt đầu là Sơ thảo - Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam được triển khai gồm 5 quyển, ấn hành từ 1957 đến 1960 của các nhà nghiên cứu: Văn Tân, Nguyễn Hồng Phong, Nguyễn Đổng Chi, Vũ Ngọc Phan, Hoài Thanh... Bộ Sơ thảo... tuy ra đời muộn hơn so với bộ Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam của nhóm Lê Quý Đôn nhưng đã đáp ứng rất kịp thời nhu cầu giảng dạy văn học ở bậc Đại học, gồm cả hai Trường Đại học Sư phạm (tiền thân là Trường Dự bị Đại học trong kháng chiến chống Pháp) và Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (sau này là Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn) thành lập vào mùa hè năm 1956.

 

Bên cạnh các công trình khoa học đáng chú ý trên đây, những đóng góp của tập san Văn Sử Địa cũng gây được tiếng vang trong học giới và đông đảo sinh viên. Đây là tập san đầu tiên về khoa học xã hội tồn tại trong 4 năm, với 446 bài, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu khoa học của bộ môn khoa học xã hội ở Đại học, vừa có khả năng kích thích, gợi mở nhiều vấn đề học thuật quan trọng như vấn đề văn học chữ Hán, phân kỳ văn học sử, sự xuất hiện của chữ Nôm, vấn đề đánh giá Phạm Quỳnh, Tự lực văn đoàn và Vũ Trọng Phụng... Đây là những vấn đề còn được trở lại nhiều lần, tất nhiên, ở những tầm mức khác nhau.

 

 

Năm 1959, Ban Nghiên cứu Văn Sử Địa kết thúc vai trò lịch sử của nó. Bộ phận nghiên cứu lịch sử đã trở thành nòng cốt của Viện Sử học; bộ phận nghiên cứu Địa lý chuyển sang Đại học; bộ phận nghiên cứu văn học chuyển thành Sở Nghiên cứu văn học (tên gọi ban đầu của Viện Văn học).

 

Trong Quyết định thành lập Viện Văn học năm 1960, nhiệm vụ trọng tâm của Viện được xác định là “Căn cứ vào đường lối văn học của Đảng và Chính phủ, tiến hành nghiên cứu văn học, ngôn ngữ trong và ngoài nước, nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và sự nghiệp đấu tranh thực hiện thống nhất nước nhà, góp phần vào cuộc đấu tranh cho hòa bình và chủ nghĩa xã hội trên thế giới”.

 

 Giáo sư Đặng Thai Mai, người đã từng đảm nhiệm nhiều cương vị lãnh đạo quan trọng: Chủ tịch Hội Văn hoá Việt Nam từ năm 1948; Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam từ năm 1957 được giao giữ chức vụ Viện trưởng. Nhà phê bình văn học Hoài Thanh, thành viên của Ban Văn Sử Địa, đồng thời là Tổng Thư ký Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam giữ chức vụ Phó Viện trưởng. Cùng với hai nhà sáng lập Viện là Đặng Thai Mai và Hoài Thanh, trụ sở 20 Lý Thái Tổ đã quy tụ được nhiều cây bút nổi tiếng từ trước 1945 như Hoàng Ngọc Phách, Nam Trân, Trần Thanh Mại,… các nhà Hán học uyên thâm như Cao Xuân Huy, Hà Văn Đại, Phạm Thiều, Phạm Phú Tiết, Nguyễn Đức Vân, Đào Phương Bình... Tiếp theo là một số cán bộ từng hoạt động trên các lĩnh vực văn hoá, văn nghệ, báo chí, xuất bản, tuyên truyền ở các cơ quan Đảng và Nhà nước như Hồ Tôn Trinh, Vũ Đức Phúc, Nam Mộc, Nguyễn Minh Tấn, Đỗ Đức Dục, Hồ Thi (tức Hồ Ngọc), Phạm Tú Châu... Đội ngũ cán bộ nghiên cứu cũng được bổ sung bởi những gương mặt trẻ được đào tạo ở Đại học và sau Đại học như Cao Huy Đỉnh, Đặng Việt Ngoạn, Thiếu Mai, Phong Lê, Nguyễn Huệ Chi; và kế đó là một đội ngũ khá đông lớp sinh viên tốt nghiệp ở Trung Quốc, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác như Trần Nghĩa, Bùi Hữu Hồng, Nguyễn Tấn Đắc (Nguyễn Năm), Nguyễn Thị Thanh Vân (Vân Thanh), Nguyễn Phúc (Nguyễn Cương), Chu Nga, Lê Sơn, Nguyễn Lương, Nguyễn Ngọc Lượng, Trần Thanh Lê, Dương Tất Từ, Hoàng Thị Đậu, Lưu Văn Bổng, Hồ Sĩ Vịnh, Huỳnh Vân...

 

Để thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, Viện Văn học đã nhanh chóng triển khai các công việc cụ thể: nghiên cứu, sưu tầm, tổng kết, đánh giá toàn bộ di sản văn học dân tộc từ quá khứ tới hiện đại, gồm cả văn học dân gian và văn học thành văn, đồng thời nghiên cứu, giới thiệu những tinh hoa của văn hóa nhân loại, từ đó, tiếp thu một cách có chọn lọc những giá trị quý báu của các nền văn học lớn trên thế giới. Về phương diện lý luận, dựa trên nền tảng mỹ học Mác - Lênin, và đường lối, quan điểm của Đảng về văn học nghệ thuật, tiến hành nghiên cứu, tổng kết những vấn đề lý luận và phương pháp luận, đánh giá thành tựu văn học từng thời kỳ, đáp ứng yêu cầu của sự phát triển văn học nói riêng, và yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ đất nước nói chung.

 

2. Cơ cấu tổ chức Viện Văn học

Cơ cấu tổ chức ban đầu của Viện gồm bốn Tổ chuyên môn và Nhà xuất bản Văn hóa[1]. Đó là Cổ - Cận - Dân (tức văn học Cổ đại - Cận đại - Dân gian), Hiện đại và Lý luận, Văn học thế giới, Ngôn ngữ. Tổ Cổ - Cận - Dân do Đặng Thai Mai trực tiếp chỉ đạo. Tổ Hiện đại gắn với Lý luận do Hoài Thanh trực tiếp chỉ đạo. Ít lâu sau, Tổ Cổ - Cận - Dân tách ra thành hai tổ: Tổ Dân gian và Tổ Cổ Cận. Tổ Dân gian do Vũ Ngọc Phan phụ trách. Tổ Cổ Cận do Trần Thanh Mại phụ trách. Tổ Hiện đại tách ra khỏi Tổ Lý luận. Tổ Hiện đại do Vũ Đức Phúc phụ trách. Tổ Lý luận do Nam Mộc phụ trách. Toà soạn Tạp chí tách ra khỏi các Tổ chuyên môn - thành một đơn vị độc lập do Phan Nhân phụ trách. Tổ Thế giới hình thành muộn hơn, do Hồ Tôn Trinh phụ trách; về sau khi Hồ Tôn Trinh được chỉ định làm Thư ký khoa học thì Cao Huy Đỉnh phụ trách cho đến đầu 1970.

 

Nhà thơ Nam Trân phụ trách phòng Tư liệu - Thư viện lúc này có cả chức năng dịch thuật. Dịch tiếng Nga có hai người là Ngô Sinh Nhật và Nguyễn Khắc Toàn. Dịch tiếng Trung Quốc có Hồ Thi (tức Hồ Ngọc), Kiều Thu Hoạch và Phạm Tú Châu. Phụ trách Thư viện là cụ Trần Hậu Vị, nguyên Trưởng ti Giáo dục Hà Tĩnh và bà Nguyễn Thị Thịnh, vợ thứ của nhà thơ Khương Hữu Dụng, về sau bổ sung bà Nguyễn Thị Ả (Phương Thảo), vợ nhà văn Võ Quảng. Phụ trách một tổ quan trọng nhưng nhà thơ Nam Trân lại rất bận rộn với việc dịch Ngục trung nhật ký; và về sau là dịch hai tập Thơ Đường, đồng thời có tham gia giảng dạy Đại học Hán học cho đến cuối 1967 là năm ông qua đời ở tuổi 60.

 

Từ ngày đầu thành lập cho đến 1972, cơ cấu tổ chức của Viện ổn định trên cơ sở sự phân chia các khu vực chuyên môn như trên. Từ sau 1972 đơn vị Tổ thay bằng đơn vị Ban. Viện chỉ còn 3 Ban: Ban Văn học Việt Nam, Ban Lý luận văn học, Ban Văn học thế giới. Từ 1978 Ban Văn học Việt Nam lại tách ra thành 3 Ban là Ban Văn học dân gian, Ban Văn học Cổ - Cận đại và Ban Văn học Hiện đại. Từ đây trở đi, các đơn vị chuyên môn có tên gọi ổn định cho đến năm 2003. Từ 2003 đơn vị Ban chuyển thành Phòng, với 9 đơn vị Phòng là: Văn học trung đại, Văn học cận - hiện đại, Văn học đương đại, Văn học dân gian, Văn học các dân tộc ít người, Lý luận văn học, Văn học thế giới, Xã hội học văn học và Văn học so sánh. Từ 2012 thu gọn lại còn 7 đơn vị Phòng và đến giữa năm 2013, Viện tái lập phòng Văn học các dân tộc thiểu số. Năm 2018, theo chủ trương tinh giản bộ máy, một số phòng giải thể và sáp nhập. Hiện nay, Viện Văn học có 6 phòng chuyên môn là Văn học Việt Nam cổ - trung đại, Văn học Việt Nam cận - hiện đại, Văn học Việt Nam đương đại, Văn học dân gian, Lý luận văn học, Văn học nước ngoài và 4 phòng chức năng là Tổ chức - Hành chính, Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Thông tin - Thư viện và Tạp chí Nghiên cứu văn học.

 

Trong quá trình phát triển, một số tổ bộ môn của Viện Văn học từng bước tách ra, mở rộng để hình thành nhiều Viện chuyên ngành: tổ Ngôn ngữ do Hoàng Phê phụ trách về sau được phát triển thành Viện Ngôn ngữ học (1968); Ban Hán Nôm được thành lập từ 1970 sau phát triển thành Viện Nghiên cứu Hán Nôm (1980). Tổ Dân gian chuyển sang Ban Văn hóa dân gian trực thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội để đến năm 1983 thành lập Viện Văn hoá dân gian, nay là Viện Nghiên cứu văn hóa. Năm 1973, Cao Huy Đỉnh lúc này là Trưởng Ban Văn học thế giới của Viện được cử phụ trách Ban Đông Nam Á, đến 1983 thì nâng lên thành Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.

 

Từ năm 1965, ở nơi sơ tán Hiệp Hoà - Hà Bắc (nay là Bắc Giang), Viện đã thành lập Nhóm Văn học miền Nam, theo dõi cả bộ phận văn học giải phóng và bộ phận văn học ở các vùng đô thị. Nhóm do bà Nguyễn Khoa Bội Lan phụ trách, về sau bổ sung Trường Lưu, Diệp Minh Tuyền, Thạch Phương, Trần Trọng Đăng Đàn, Bùi Công Hùng, Huỳnh Vân và Nguyễn Thị Bích Thu... Nhóm này hoạt động trong sự hợp tác với Ban Văn học miền Nam của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam; và tồn tại cho đến năm 1975.

 

Kể từ sau 1975, khi ở thành phố Hồ Chí Minh thành lập Phân Viện Khoa học xã hội, một số cán bộ của Viện đã chuyển vào Ban Văn ở phía Nam, gồm: Hoàng Trinh, Trần Nghĩa, Thạch Phương, Trần Trọng Đăng Đàn, Huỳnh Vân.

 

Ngoài ra, nhiều nhà nghiên cứu khác của Viện chuyển công tác và trở thành cốt cán của các cơ quan khác như Nguyễn Đức Đàn, Trường Lưu, Hồ Sĩ Vịnh, Phan Hồng Giang về Bộ Văn hoá; Hồ Ngọc, Tất Thắng sang Hội Nghệ sĩ sân khấu; Nguyễn Minh Tấn, Nguyễn Nghiệp sang Nhà xuất bản Văn học; Hồ Tuấn Niêm, Kiều Thu Hoạch, Nguyễn Xuân Kính, Vũ Tố Hảo, Tăng Kim Ngân... về Ban Văn hoá dân gian; Chu Nga sang Nhà xuất bản Tác phẩm Mới, rồi trở về Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam; Thiếu Mai sang báo Văn nghệ; Nguyễn Khoa Bội Lan sang Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam; Nam Mộc, Lê Sơn, Trần Thanh Lê, Dương Tất Từ sang Viện Thông tin Khoa học xã hội; Đặng Việt Ngoạn về Nhà xuất bản Khoa học xã hội...

 

Bên cạnh việc thành lập, kiện toàn các Phòng/ ban nghiên cứu và chức năng, sự ra đời của Tạp chí Nghiên cứu văn học là một sự kiện quan trọng trong quá trình phát triển của Viện. Đặc san Nghiên cứu văn học ra số đầu tiên ­vào tháng 01/ 1960 được chuẩn bị rất công phu, với những người viết rất chọn lọc: Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Bùi Công Trừng, Xuân Thủy, Nguyễn Văn Trấn, Trần Minh Tước, Tú Mỡ, Nguyễn Công Hoan, Lưu Quý Kỳ, Phan Nhân, Vũ Đức Phúc, Phạm Bình, Phan Cự Đệ... Bìa Tạp chí do họa sĩ Nguyễn Thọ vẽ. Sự ra đời của Nghiên cứu văn học là một hiện tượng nổi bật trong đời sống văn chương - học thuật miền Bắc những năm 1960, bên cạnh Tạp chí Văn nghệ của Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam đã có mặt từ 3 năm trước.

 

Nghiên cứu văn học tồn tại từ 1/1960 đến 7/1963 thì chuyển tên thành Tạp chí Văn học do nhu cầu gắn bó với thời cuộc. Thời điểm này Viện Văn học chuyển đổi phương thức hoạt động: “Toàn Viện làm Tạp chí”; và hướng Tạp chí vào các vấn đề của thời sự chính trị và thời sự văn học. Vì thế, đây là thời kỳ Viện Văn học có mối quan hệ mật thiết và tin cậy với Hội Nhà văn Việt Nam và nhiều cơ quan văn hóa, văn nghệ khác. Đây cũng là thời điểm Tạp chí Văn học không chỉ là cơ quan ngôn luận riêng của Viện mà thực sự đã trở thành diễn đàn rộng rãi của giới nghiên cứu, lý luận, phê bình và giới sáng tác văn học. Số bản in - chỉ riêng cho miền Bắc ngay trong thời chiến có lúc lên đến hơn một vạn bản cho mỗi số.

Tạp chí Văn học ở giai đoạn khởi đầu đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Phó Viện trưởng Hoài Thanh. Toà soạn Tạp chí gồm những người đã quen với công tác tuyên huấn, báo chí như Phan Nhân, Nam Mộc, Vũ Đức Phúc - cả ba đều đã có thời gian là Phó Thư ký Toà soạn (tương đương Phó Tổng Biên tập sau này). Nội dung Tạp chí gắn với hoạt động lý luận phê bình - là phần việc quan trọng của hai Tổ Lý luận và Hiện đại; nên số lớn cán bộ trẻ ở hai Tổ này đều sớm trở thành cán bộ biên tập Tạp chí như Thành Duy, Nguyễn Nghiệp, Nguyễn Phúc, Chu Nga, Vân Thanh, Phong Lê, Hữu Hồng... Một số cán bộ ở các Tổ khác cũng tham gia Toà soạn như Nguyễn Huệ Chi, Lê Sơn, Đặng Văn Lung, Trần Đức Các, Bùi Công Hùng, Phạm Tú Châu... Sự sôi nổi trong hoạt động của Viện vào những năm 1960 dưới thời Thư ký Toà soạn Hoài Thanh chủ yếu tập trung ở Tạp chí Văn học - nơi góp phần tổ chức các sinh hoạt thường kỳ giới thiệu hoặc bàn luận về những cuốn sách mới; nơi cho ra mắt thường xuyên bài viết kiểm điểm công tác lý luận, phê bình hàng tháng hoặc hàng quý mà người chấp bút lúc đầu là Vũ Đức Phúc (dưới bút hiệu Lãng Bạc, Tấn Trung), và về sau là Nguyễn Phúc (bút danh Hồng Phương); bên cạnh mục Thường thức văn học do Sơn Tùng (tức Nam Mộc) và Thành Duy phụ trách cũng ra mắt trong khoảng vài năm.

 

Suốt thời gian 65 năm qua, Tạp chí Văn học thực sự là nơi đào tạo các thế hệ nghiên cứu trẻ của Viện; và của giới nghiên cứu - lý luận - phê bình trên miền Bắc, và sau đó, trong cả nước nói chung. Sự trưởng thành của nhiều cây bút tên tuổi trong giới nghiên cứu, lý luận, phê bình từ trước đến nay cả trong Viện và ngoài Viện đều ít nhiều gắn với Tạp chí Văn học.

 

Từ năm 1970, khi Viện chuyển hướng tập trung nghiên cứu lịch sử và lý luận văn học, chức năng phê bình được Uỷ ban Khoa học xã hội chuyển giao sang Đảng đoàn Văn hoá văn nghệ, và Phó Viện trưởng Hoài Thanh chuyển sang công tác ở báo Văn nghệ và Hội Nhà văn Việt Nam, thì Tạp chí chuyển sang xuất bản hai tháng một kỳ. Thay Hoài Thanh giúp Đặng Thai Mai lúc này là ba Phó Viện trưởng: Hồ Tôn Trinh, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Minh Tấn. Phó Viện trưởng Vũ Đức Phúc kiêm chức trách Tổng Biên tập Tạp chí. Từ 1975, Viện trưởng Hoàng Trung Thông kiêm nhiệm chức trách Tổng Biên tập, Vũ Đức Phúc là Phó Tổng biên tập. Các Tổng Biên tập tiếp theo là Hoàng Trinh (1985-1988), Phong Lê (1988-1995), Hà Minh Đức (1995-2003), Phan Trọng Thưởng (2003 - 2013). Từ tháng 2 - 2015, Phó Viện trưởng Nguyễn Hữu Sơn được bổ nhiệm Quyền Tổng Biên tập, từ tháng 2 năm 2017 giữ chức Tổng Biên tập.

 

Từ năm 1971 đến 1993, xuất bản hai tháng một kỳ, nhưng Tạp chí vẫn là nơi tập trung giới thiệu các thành tựu của giới nghiên cứu và lý luận văn học trong cả nước. Nhiều hội thảo lớn của Viện, hoặc do Viện chủ trì trong phối hợp với các cơ quan khác đã được thể hiện trên Tạp chí. Nhiều nghiên cứu về các danh nhân văn học trong nước và thế giới được công bố kịp thời trên Tạp chí Văn học...

 

Từ 1993 Tạp chí Văn học trở lại xuất bản mỗi tháng một kỳ. Đến 2003, Tạp chí Văn học đổi thành Nghiên cứu văn học, lấy lại chức năng phê bình văn học. Tất cả các lĩnh vực hoạt động khoa học của Viện: nghiên cứu lịch sử văn học, lý luận và phê bình văn học vẫn kiên trì hướng nghiên cứu hàn lâm. Đây cũng là ưu thế và là truyền thống của Viện Văn học và Tạp chí Nghiên cứu văn học trong suốt mấy chục năm qua. 

 

 

(Trích: "Viện Văn học 65 năm xây dựng, phát triển và đổi mới)

 


[1] Nhà xuất bản Văn hóa ở địa chỉ 49 Trần Hưng Đạo, Hoàn Kiếm, Hà Nội, về sau đổi thành Nhà xuất bản Văn học và chuyển sang Bộ Văn hóa.

 

Các tin đã đưa ngày: