"Tập đoàn quân kỵ binh" của I.Babel và cái nhìn tương phản về chiến tranh

26/10/2012

Đọc "Tập đoàn quân Kỵ binh" người đọc sẽ được nếm trải mọi cung bậc cảm xúc được gợi ra từ một thứ văn xuôi vừa ngắn gọn, súc tích, vừa sắc sảo, táo bạo, vừa mỉa mai hài hước, vừa trữ tình mềm mại. Sự dung hợp của những nét tương phản ấy là nét tài năng đặc biệt của nhà văn Nga Do Thái Babel.

"Tập đoàn quân kỵ binh" của I.Babel và cái nhìn tương phản về chiến tranh

Đỗ Thị Hường

 

 

Văn học Nga – nền văn học của Pushkin, Lev Tolstoy, Dostoievsky, Chekhov, Gorky… đã có vị thế vững chắc trong lòng bạn đọc Việt Nam từ gần một trăm năm nay. Tuy nhiên, lịch sử tiếp nhận văn học Nga của công chúng Việt Nam không phải không có những khoảng trống. Chúng tôi muốn nói tới một thế hệ những nhà văn Nga đầu thế kỷ XX, trong đó có I. Babel. Sáng tác của họ làm thành mảng văn học lớn thường được gọi là “mảng văn học phục hồi”. Nghiên cứu văn học Nga mà không quan tâm tới mảng văn học này quả thật là một thiếu sót. Chính vì vậy, chúng tôi coi việc giới thiệu Babel và tác phẩm xuất sắc của ông - Tập đoàn quân Kỵ binh (1)là một trong những việc làm góp phần lấp đầy khoảng trắng văn học Nga - Xô Viết ở Việt Nam.

 

I.Babel và Tập đoàn quân Kỵ binh

 

Trước Pasternak, Brodsky, Babel (1894 – 1941) được đánh giá là nhà văn Do Thái đầu tiên bước vào văn đàn Nga với tư cách là một tác giả văn xuôi Nga. Người ta từng coi ông “là nhà văn Nga - Xô Viết đầu tiên đạt tầm cỡ ngôi sao sáng thực sự ở Nga và được thế giới nhắc tới nhiều với danh tiếng là nhà viết truyện ngắn vĩ đại, có ảnh hưởng tới văn học hiện đại một cách trực tiếp qua tác phẩm cũng như những bình luận và sự uyên bác của ông.”(2)

Là nhà văn gốc Do Thái, “Babel đã trải qua thời thơ ấu và thời thanh niên ở Odessa, chịu đựng cảnh đau khổ trong ghetto (khu vực cư trú dành riêng cho người Do Thái)”(3). Babel học giỏi, từ nhỏ cho đến khi 16 tuổi ông đã học tiếng Do Thái, tiếng Pháp, Kinh Thánh, Kinh Talmut. Babel đến với văn chương từ rất sớm. 15 tuổi ông đã viết những truyện ngắn đầu tiên bằng tiếng Pháp. Giống Gogol, 1915 ông đến Peterburg ôm ấp mộng văn chương. 1916 đánh dấu bước ngoặt lớn trong đời Babel khi nhà văn gặp được Gorky. Gorky đồng ý in truyện ngắn của Babel. Nhà văn lão thành khuyên Babel đi thực tế để có vốn sống và viết. Thế là từ một chàng công tử Do Thái Babel đã trở thành một người lính của Quân đoàn Kỵ binh số Một, tham gia vào các công tác cách mạng (làm việc trong các ủy ban quân sự cách mạng, làm phóng viên, làm ở nhà in…). Babel hân hoan đón nhận Cách mạng Tháng Mười, coi đó là lí tưởng nhân đạo lớn nhất của loài người.

Tham gia vào Quân đoàn Kỵ binh nơi tập trung đủ mọi tầng lớp, thứ hạng người và đại đa số là nông dân Codac mù chữ, một trí thức, hơn nữa lại là một trí thức Do Thái, Babel gặp phải vô số trở ngại. Đã có lúc người trí thức Do Thái Babel quyết từ bỏ tất cả vốn liếng văn hóa trong con người mình để được làm một anh kỵ binh Codac Nga bình thường với tất cả sự vô tư, táo bạo, thậm chí thô tục; lại có lúc anh lính kỵ binh Babel nhói đau trước sự “tha hóa” của chính bản thân mình. Tất cả điều này được phản ánh rất rõ trong Tập đoàn quân Kỵ binh.

Tập đoàn quân Kỵ binh ra đời năm 1926 – là tập hợp những truyện ngắn Babel viết về cuộc sống, chiến đấu của Quân đoàn Kỵ binh số Một trên mặt trận truy quét quân Ba Lan và Bạch vệ thời kỳ những năm 20 – 30 của thế kỷ XX. Ngay từ khi mới ra đời tác phẩm đã tạo ra hai luồng dư luận trái chiều: một ủng hộ Babel, ca ngợi Tập đoàn quân Kỵ binh; còn một phê phán, lên án kịch liệt tác phẩm này, thậm chí còn buộc tội tác giả của nó. Budionưi (nguyên soái của quân đội Xô Viết) cho rằng “Tập đoàn quân Kỵ binh của Babel là những lời đơm đặt kiểu đàn bà”, “những lời hoang đường, vu khống Hồng quân”(4); còn Gorky thì bênh vực Babel: “Babel tô đẹp các nhân vật của ông đạt hơn, thật hơn Gogol đã làm với những con người của vùng Daporozhe (các nhân vật trong Taras Bulba)… Babel đã bổ sung tài tình khái niệm của tôi về chủ nghĩa anh hùng của quân đội đầu tiên trong lịch sử.”(5)

13 năm sau thời điểm Tập đoàn quân Kỵ binh ra đời (1939) Babel cùng nhiều nhà văn khác bị bắt một cách bí mật, bị ép buộc phải nhận những tội danh vô lí trong đó có tội “phản bội Tổ quốc”. Ông bị đưa ra xét xử trước tòa án quân sự vào ngày 26/ 1/ 1940 và bị hành quyết ngày 17/ 3/ 1941, khi ông 47 tuổi. Trước khi từ giã cõi đời Babel còn kịp bộc bạch tâm sự đầy đau xót: “Tôi vô tội. Tôi không hề là điệp viên. Không bao giờ tôi cho phép mình chống lại Xô Viết. Tôi tự buộc tội một cách sai lạc. Bị bắt buộc phải tố cáo bậy bạ chống lại chính tôi và bạn bè… Tôi chỉ xin một điều: hãy cho tôi hoàn thành tác phẩm của mình…”(6)

Số phận bi kịch của Babel điển hình cho số phận của người trí thức Nga trong cơn bão táp cách mạng vô sản, gợi nhớ tới số phận một loạt các nhà văn, nhà thơ cùng thời với ông như Zamiatin, Gumiliev, Bulgakov, Platonov…

 

Tập đoàn quân Kỵ binh – cái nhìn tương phản về chiến tranh

 

Trong 25 năm cầm bút Babel để lại không nhiều tác phẩm: hai vở kịch (Hoàng hôn, Maria), ba tập truyện ngắn (Tập đoàn quân Kỵ binh, Truyện ngắn Odessa, Truyện ngắn); nhưng những tác phẩm của ông đều được đánh giá rất cao, đặc biệt là truyện ngắn. Khi dịch Babel, dịch giả Thụy Ứng đã nhìn thấy sự tương phản như một đặc tính trong sáng tác của nhà văn. Ông viết: “Babel bị hấp dẫn bởi những cái gì khác thường nổi bật, tương phản, mâu thuẫn gay gắt, khi thì đẹp, khi thì xấu xa, khi thì cao cả, khi thì hèn kém trong sự kết hợp và xung đột giữa tất cả các thứ ấy. (…) Nhưng ông vẫn cảm thấy cần phải bổ sung phương pháp hiện thực vốn có của mình bằng cả tính lãng mạn Cách mạng lẫn những yếu tố quái đản ly kỳ mà sự mê thích đã có sẵn trong bản tính, đồng thời nhiệt tình sôi nổi thường phải lập tức trộn thêm những ý châm biếm để khỏi rơi vào giọng văn tình cảm chủ nghĩa.”(7)

Tương phản trở thành một thủ pháp được sử dụng hữu hiệu trong các tác phẩm của Babel, nhất là Tập đoàn quân Kỵ binh nhằm tạo ra muôn vàn khuôn mặt cách mạng, chiến tranh và những suy ngẫm về sự sống, cái chết…

 

Hiện thực chiến tranh và cách mạng

 

Chiến tranh có những khó khăn, gian khổ, chiến tranh có những mất mát hi sinh, chiến tranh có cả những chiến công hiển hách đáng tự hào. Nhưng dường như trong tác phẩm của Babel, nhà văn nhạy cảm hơn với những thử thách chông gai, những sự tàn phá, chết chóc. Nhà văn không ngần ngại chỉ ra sự thật chiến tranh với những hiện tượng tiêu cực của “phía ta” – phía Hồng quân: một vị tướng bị cách chức chiếm đoạt con ngựa chiến lợi phẩm của đồng đội, một Maxcova kế hoạch hóa với những “nữ cứu thương trơn lông đỏ da”, cung cấp thứ “cháo đột kích” cho thương binh, lính Hồng quân hôi của trong khi tra hỏi tù binh Ba Lan, những tòa giáo đường bị tàn phá, những tình cảm tôn giáo bị xúc phạm, những xác người sống vật vờ không còn sinh khí, khắp nông thôn vang tiếng rên la của những người nông dân bị mất phương tiện sinh nhai (do Hồng quân đổi ngựa chiến đã kiệt sức lấy ngựa khỏe của họ)…

Tất cả đã cho thấy một cách nhìn mới mẻ và hết sức thẳng thắn của nhà văn Nga Do Thái Babel. Ông không nhìn chiến tranh từ khía cạnh người đứng ngoài quan sát mà từ góc độ một người trực tiếp tham dự, ông không che giấu mặt trái của chiến tranh mà hiện hình nó một cách đầy đủ nhất. Vì thế, Tập đoàn quân Kỵ binh dường như là một mệnh đề đối thoại của Babel với những Đội cận vệ thanh niên của Fadeev, Suối thép của Serafimovitr hay vở kịch Tập đoàn quân Kỵ binh số Một của Visnhevsky…

Tuy nhiên, nếu chỉ có “dòng chảy chiến tranh” với những chiến dịch, những sự chết chóc, tàn phá, những hiện tượng tiêu cực thì tác phẩm của Babel sẽ mang đậm màu sắc bi kịch, thậm chí sẽ chỉ là những dòng kí sự không hơn không kém. Sở dĩ tác phẩm của nhà văn có sức sống lâu bền trong lòng bạn đọc là bởi nhà văn biết tạo ra đối trọng cho những sự thực khốc liệt đó. Không thể phủ nhận vai trò của thiên nhiên và những yếu tố trữ tình khác trong tác phẩm. Không phải ngẫu nhiên thiên nhiên đều xuất hiện trước hay sau những cái khủng khiếp được miêu tả. Thiên nhiên in dấu ấn tâm trạng của nhân vật, chia sẻ cùng nhân vật những nỗi buồn, sự cô đơn, những khắc khoải suy tư hay những mộng mơ trong khoảnh khắc bình yên.

Đó là vầng trăng trong đêm chứng kiến nỗi bất hạnh của những người Do Thái bị tước đoạt tài sản và bị mất người thân: “Tất cả đã bị bầu không khí lặng tờ giết chết, chỉ còn vầng trăng đưa hai cánh tay màu xanh lam lên ôm cái đầu tròn xoe, sáng loáng và vô tư lự của nó, lang thang cầu bơ cầu bất bên ngoài cửa sổ.”(8)

Là hình ảnh ráng chiều đổ bóng xuống Lữ trưởng Lữ đoàn Hai khi anh một mình dẫn đầu các đại đội đương đầu với quân địch trong trận chiến đấu ác liệt: “Ráng chiều cháy rực đổ xuống đầu anh, đỏ tía và hư ảo như cái chết đang tới gần…”

Là vẻ đẹp vô tư lự của hoàng hôn nước Nga đối lập với những cảm giác tội lỗi của nhân vật “tôi” trước hành động phá hoại vương quốc loài ong trong Đường tới Brodư: “Lúa mạch đen lên rất cao, nắng đẹp, tâm hồn không đáng hưởng những khoảng trời rạng rỡ vời vợi này cứ thèm khát những cảm giác đau đớn âm ỉ”, “Bài hát chập chờn như khói (…) Hoàng hôn tuôn ra thành những con sông sôi sục lan tràn trên các cánh đồng của nông dân rực rỡ như những tấm khăn thêu. Bầu không khí tịch mịch đượm dần sắc hồng. Mặt đất trải dài như cái lưng con mèo mà lớp lông tua tủa là những dải ngũ cốc lấp loáng.”

Babel đã không để cho các nhân vật của mình hoàn toàn bị cuốn vào dòng chảy khốc liệt của chiến tranh, ông đã để cho họ có những khoảnh khắc tự tách mình ra khỏi dòng chảy khủng khiếp ấy. Những thời khắc đó họ được trở lại là những con người hiền lành, đáng yêu, đáng mến. Đó là lúc Liutov đắm mình trong tiếng hát dịu dàng của Sashka Chúa Cứu Thế: “Những cánh đồng sao trên mái nhà của cha, và dáng buồn trên bàn tay của mẹ…”, là khi say sưa tận hưởng sự yên bình hiếm có bên ấm samovar cùng Khlepnhicov: “Cả hai đều nhìn thế giới như một bãi cỏ tháng Năm, trên đó có những người đàn bà và những con ngựa.”

Những mảng đối lập trong cuộc sống tinh thần và thực tế chiến đấu của các chiến sĩ trong Tập đoàn quân Kỵ binh không chỉ giúp người đọc có được cái nhìn đầy đủ hơn, toàn diện hơn về cách nhìn chiến tranh của Babel, quan trọng hơn, chính những đối trọng thiên nhiên ấy đã tạo nên giọng điệu trữ tình cho tác phẩm, làm mềm đi tính chất khô khan, khốc liệt, tạo nên tinh thần lãng mạn cách mạng, niềm lạc quan xua tan những khó khăn của chiến tranh. Chúng ta có thể khẳng định: Nếu như sức quyến rũ của “dòng chảy chiến tranh” là “chủ nghĩa anh hùng Cách mạng” và “chủ nghĩa hiện thực” thì những khoảnh khắc “hòa bình” cùng những bức tranh thiên nhiên tươi đẹp thanh bình lại mang đến cho tác phẩm vẻ đẹp của “chủ nghĩa lãng mạn Cách mạng”. Tác phẩm của Babel, vì thế, giống như một mệnh đề vừa quen thuộc lại vừa mới mẻ về chiến tranh và hòa bình.

 

Thế giới nhân vật

 

Tập đoàn quân Kỵ binh là sự kết hợp của một chuỗi 35 truyện ngắn được kết nối với nhau bằng vai trò của người kể chuyện xưng tôi Liutov. Liutov là một thanh niên trí thức Do Thái (đeo kính) tự nguyện gia nhập Quân đoàn Kỵ binh Codac của Budionưi. Những năm tháng rong ruổi trên khắp các miền quê của Tổ quốc Nga Xô Viết từ Đông sang Tây, thậm chí qua cả các nước Đức, Ba Lan, Litva để truy kích quân Ba Lan và bọn phản cách mạng Liutov đã chứng kiến rất nhiều biến cố của cách mạng. Trên hành trình ấy anh ghi lại những cuộc gặp gỡ, những trận đánh, những ấn tượng về những con người anh cùng sống, cùng chiến đấu, cả những con người anh chỉ gặp thoáng qua nhưng để lại trong anh ấn tượng sâu sắc. Thế giới nhân vật trong Tập đoàn quân Kỵ binh trước hết là thế giới của những chiến sĩ kỵ binh Codac anh hùng của Budionưi. Họ đến từ những miền quê, thôn trấn khác nhau nhưng cùng chung một mục đích: chiến đấu quét sạch bọn Ba Lan. Ở họ nổi bật lên tinh thần hăng hái, nhiệt tình, lòng trung thành vô bờ bến với cách mạng. Họ có thể sẵn sàng hi sinh tình riêng vì nghĩa lớn: Semion Kurdiucov trong Bức thư đã không do dự trừng phạt chính cha mình – kẻ phản bội (cảnh sát của chế độ cũ, chiến đấu cho Bạch vệ, kẻ đã đang tay chém chết con trai mình – chiến sĩ Hồng quân Fedor Kurdiucov). Với những người chiến sĩ ấy, lí tưởng cách mạng, nhiệt thành chiến đấu vì Tổ quốc cao hơn hết thảy. Đối mặt với cái chết, họ cũng không hề sợ sệt. Họ tự nguyện chết vì Tổ quốc bởi với họ đó là cái chết vinh quang nhất. Dolgushov trong Cái chết của Dolgushov sau khi bị tử thương trong trận chiến đấu với quân Ba Lan đã mong muốn được ra đi trong thanh thản, nhẹ nhàng:

“- Mình thế này đây – khi chúng tôi đến gần, Dolgushov nói, sắp chết rồi… Hiểu chứ?

          - Hiểu, - Grisuc cho ngựa đứng lại, trả lời.

- Cần phải dùng cho mình một viên đạn, - Dolgushov nói.

          Anh ta ngồi dựa lưng vào một cái cây. Hai chiếc ủng xoạc ra hai bên. Mắt vẫn nhìn chúng tôi, Dolghushov lật rất cẩn thận tà áo sơ mi. Bụng không còn nữa, ruột gan chảy xuống hai đầu gối, trông thấy cả quả tim đang đập.

- Gặp phải một thằng quý tộc Ba Lan, nó giễu mình kiểu này đây. Đây là giấy tờ của mình, cậu viết thư kể cho mẹ mình biết.”

Lòng dũng cảm, tinh thần gan dạ, lí trí cách mạng, thái độ coi thường cái chết ở Dolgushov đã đẩy lùi cái “bi” mà biểu hiện của nó là sự chết chóc. Tác phẩm, bởi thế, dù miêu tả sự thật khốc liệt của chiến tranh mà vẫn rất “hùng”. Xúc cảm bi hùng có thể nói là xúc cảm chủ đạo trong sáng tác của Babel.

Bên cạnh Dolgushov, Babel còn xây dựng những nhân vật anh hùng khác. Đó là trung đoàn trưởng Sevelev trong Gái góa, là Andriusa Votmiletov và Pasa Trunov trong Đại đội trưởng Trunov… Dù biết rằng sẽ chết, nhưng tinh thần hi sinh vì đồng đội, ý thức về nhiệm vụ cao cả của người lính cách mạng “mình vì mọi người” đã giúp họ vượt lên lẽ sống chết thông thường để trở thành những người anh hùng thật sự: “không biết sợ, họ cảm thấy sâu sắc tính chất vĩ đại trong cuộc đấu tranh của họ…”(9)

Ca ngợi những chiến sĩ kỵ binh, khâm phục lòng dũng cảm, tinh thần chiến đấu kiên cường của họ nhưng Babel không tô hồng các nhân vật. Nhìn thấy nét đẹp của họ, nhà văn đồng thời cũng chỉ ra những thói hư tật xấu, tính chất thiếu văn hóa, thói tàn nhẫn thú tính mang tên Codac trong họ.

Rất khâm phục vị tướng đỏ Matvei Pavlichenko nhưng Liutov – người kể chuyện không khỏi bị ám ảnh bởi hành động giẫm lên lão chủ Nhikichinsky cho đến chết – “giẫm lên kẻ thù, để biết sự sống là thế nào” - của người anh hùng ấy. Ngay trong tác phẩm Đại đội trưởng Trunov, dù tôn trọng hành động vô cùng dũng cảm của đại đội trưởng Liutov cũng không thể thông cảm được hành động hành hạ và tàn sát dã man hai tù nhân Ba Lan của anh: “thọc mũi gươm vào họng một người” còn người kia thì bắn chết không thương tiếc: “Ở cự ly 20 bước, Trunov bắn bay cái sọ của thằng thanh niên, và óc của tên Ba Lan tóe xuống tay tôi”.

Để kiếm một con ngựa “ra ngựa” thay thế cho con ngựa Schepan yêu quý đã bị bắn chết Afonka Bida trong Afonka Bida sẵn sàng “đốt những làng xóm và bắn chết những trưởng thôn Ba Lan về tội che giấu”. Thậm chí, Afonka còn phải trả giá bằng một con mắt bên trái của mình, nhưng với anh, điều đó không ảnh hưởng gì đến niềm vui có được con ngựa cừ. Sống đến cùng nỗi đam mê của mình, Afonka là một minh chứng rõ nhất cho chất Codac trong người lính kỵ binh số Một: hung bạo, quyết liệt nhưng lại say mê và trân trọng cái đẹp.

Nhìn nhân vật một cách toàn diện trong những phẩm chất tương phản, Babel muốn các chiến sĩ của mình hiện lên thật như chính họ ngoài đời. Nhà văn muốn độc giả nhìn những người anh hùng là những con người bình thường: có điểm đáng yêu, đáng quý nhưng cũng có điểm đáng phê phán. Ông không lí tưởng hóa nhân vật. Đó có lẽ là một trong những điểm khác biệt lớn nhất của Babel với những nhà văn viết về chiến tranh khác đương thời. Trong tác phẩm Sự phản bội nhà văn để cho chính chiến sĩ Hồng quân Banmasov nói về mình và đồng đội: “người vô sản, các đồng chí ạ, vốn đã tự biết rằng mình thô lỗ nên chúng tôi đau khổ vì điều đó, tâm hồn cứ cháy bỏng và dùng lửa để phá vỡ cái nhà tù là thể xác…”

 

Nếu như sự tương phản trong con người những chiến sĩ kỵ binh Codac xuất thân nông dân là sự tương phản giữa bản năng Codac mạnh mẽ đến tàn bạo, thú tính và nhiệt tình cách mạng thì ở những chiến binh xuất thân trí thức Babel lại phát hiện ở họ sự tương phản khác. Đó là sự tương phản giữa bản chất trí thức vừa nhạy cảm vừa đa cảm với chất Codac dũng mãnh, thiện chiến; giữa những nét đẹp văn hóa của một con người được hưởng một nền giáo dục đầy đủ với khả năng hòa nhập vào môi trường thuần Codac chỉ có biết một mục đích duy nhất: chiến đấu tiêu diệt quân thù, quét sạch mọi tàn dư của chế độ cũ.

Trước khi xuống đơn vị chiến đấu, Liutov đã được anh chàng phụ trách trú quân khuyên nhủ: “Nếu các anh làm hại đời một cô nàng, một cô nàng thật trong trắng, thì lúc ấy các anh sẽ được các chiến sĩ yêu mến”.

Chiến công đầu tiên của Liutov cũng là lễ ra mắt của anh để được nhận vào hàng ngũ Codac là hành động giết chết con ngỗng vô tội – tài sản cuối cùng của cụ già chủ nhà. Nhờ hành động ấy, Liutov lập tức nhận được thái độ tôn trọng và thân thiện của các chiến sĩ Codac cùng đơn vị. Nhưng niềm vui được đón nhận không xua tan nổi nỗi ám ảnh về “tội ác”: “Tôi nằm mơ, có cả những người đàn bà trong giấc mơ, chỉ có trái tim tôi nhuộm đỏ vì sát sinh, cứ nhoi nhói rỉ máu”. Càng tham gia chiến tranh, càng sống lâu trong đoàn binh Codac Liutov càng nhận ra rằng mình không thể giết người, càng không thể giết người vô tội hay chính đồng đội của mình, không thể báng bổ nhà thờ, bạo hành đối với phụ nữ, hành hạ tù binh hay tàn sát những người Do Thái. Trong tác phẩm Sau trận đánh, Liutov đau đớn đến mức thậm chí cầu xin Thượng đế ban cho mình khả năng giết người: “Tôi không còn sức lực gì nữa, cứ còng lưng dưới vành hoa nơi mộ địa, đi về phía trước và van nài số phận ban cho mình kỹ năng đơn giản nhất là giết người”.

Những mâu thuẫn, xung đột diễn ra trong tâm hồn Liutov dường như hé lộ cho người đọc một ẩn ý sâu xa của Babel về chiến tranh, về cách mạng, về chính con người trong chiến tranh: chiến tranh khốc liệt đến nỗi có thể biến con người trở thành “chó sói”, chỉ có tính thiện và văn hóa mới có thể ngăn được sự tha hóa của con người trong hoàn cảnh phi nhân đó.

Cũng giống như Liutov, Sidorov trong Mặt trời nước Ý hay Ilia trong Người con trai ông rapbi cũng luôn đấu tranh để dung hòa hai nét tương phản ấy trong con người mình. Sidorov cuối cùng mơ đến Mặt trời nước Ý còn Ilia thì chết trên đường hành quân. Trong hành trang ra mặt trận của Ilia có cả chân dung của Lenin và Maimonit, có cả những tờ truyền đơn cộng sản bên cạnh những dòng thơ Do Thái. Trớ trêu thay, đó cũng là hành trang sang thế giới bên kia của anh.

Trong Tập đoàn quân Kỵ binh, Babel không chỉ khắc họa nhân vật với sự tương phản tự thân, nhà văn qua việc miêu tả hành động, tính cách, số phận những nhân vật của mình vô hình trung đã tạo ra hai hệ nhân vật tương phản nhau: một bên là những nhân vật Codac vô cùng trung thành với cách mạng, chiến đấu không biết mệt mỏi nhưng vẫn chưa thoát khỏi tính chất hung bạo, tàn nhẫn, thiếu văn hóa, thậm chí man rợ phi nhân tính; còn một bên là những nhân vật trí thức tham gia cách mạng nhưng không thể hòa nhập hoàn toàn vào cách mạng. Cái nhìn của họ đối với chiến tranh cách mạng là cái nhìn của một người tham dự nhưng hết sức khách quan: chiến tranh cách mạng thực chất là một cuộc “nồi da nấu thịt”, cái còn lại sau cùng không chỉ có chiến công mà nhiều hơn là những mất mát, những nỗi đau, những sự tàn phá, những tâm hồn bị thương tổn nặng nề. Cả hai bên đều phải gánh chịu những tổn thất ấy. Người trí thức tham gia chiến tranh không thể giết người Ba Lan, người Codac và cả người Do Thái bởi tất cả họ đều là con người. Sự hòa hợp hoàn toàn của hai hệ nhân vật này là điều không thể. G.Freidin gọi đó là “sự không thể tương hợp giữa chất Dionysos và chất Apollon.”(10)

Babel một lần nữa thông qua những nhân vật của mình gieo vào lòng người đọc không ít băn khoăn, trăn trở về cuộc nội chiến: cuộc chiến tranh ấy là đúng hay sai? là chính nghĩa hay phi nghĩa? là xấu hay đẹp? là nhân tính hay phi nhân tính? Đó dường như là một sự lật ngược lại một chân lí đã được khẳng định: cách mạng của giai cấp vô sản luôn luôn là chính nghĩa, những người lính Hồng quân luôn là những người đẹp nhất. Trong Tập đoàn quân Kỵ binh có một số nhân vật triết lí, đa số là những triết gia Do Thái: Ghedali, Motale… Nhà văn để cho họ trực tiếp phát biểu những chiêm nghiệm của mình về những vấn đề ấy:

- “Nhưng bọn Ba Lan đã bắn vì chúng nó là phản Cách mạng. Các ngài bắn vì các ngài là Cách mạng. Nhưng Cách mạng lại là hân hoan hạnh phúc. Mà hân hoan hạnh phúc thì không thích trong nhà có trẻ mồ côi. Những việc tốt thì do con người tốt làm ra. Cách mạng là công việc tốt của những con người tốt. Song người tốt không giết người. Như vậy có nghĩa là Cách mạng đang do những con người độc ác làm. Nhưng bọn Ba Lan cũng là những con người độc ác. Vậy ai sẽ nói cho Ghedali biết đâu là Cách mạng và đâu là phản Cách mạng?”

- “Cuộc đời chúng ta đã lật sang mặt quỷ dữ và máu ở nước Nga chí thánh đã rẻ như bèo.”

- “Chúng ta mang tên là con người, nhưng làm dơ bẩn tồi tệ hơn loài chó núi. Hổ thẹn cho đất…”

 

Thủ pháp ngôn từ

 

Ở các cấp độ nhỏ hơn Babel cũng thường xuyên sử dụng thủ pháp tương phản, đặc biệt trong việc vẽ chân dung nhân vật và trong những kết hợp ngôn từ nhằm tạo ra giọng điệu mỉa mai, hài hước và nhịp điệu cho tác phẩm.

Những bức chân dung nhân vật trong tác phẩm của Babel về cơ bản có thể chia làm hai loại. Có những chân dung chỉ là những phác thảo ấn tượng, nhưng có những bức chân dung lại giống như những bức vẽ truyền thần, cụ thể, chân thực đến từng chi tiết.

Tương phản chính là một thủ pháp quan trọng giúp Babel vẽ nên những bức phác thảo ấn tượng về ngoại hình nhân vật.

Trước tiên, đó là sự tương phản trong hình dáng, cách ăn mặc. Hình ảnh của “thằng bé câm có cái đầu rất to, bộ tóc trắng bệch và hai bàn chân khổng lồ, bằng chân của một tay mugic đã lớn tuổi” hay hình ảnh của pan Robatsky – người đánh chuông nhà thờ “con người nghiêm khắc, xám xịt, xương xẩu, tai rất to” là những bức chân dung đầy ấn tượng đầu tiên.

Sự tương phản trong cách miêu tả của Babel còn ở chỗ: nhà văn thường đánh lạc hướng người đọc bằng cách tạo ra những bức chân dung nhân vật hoàn toàn khác xa so với tưởng tượng vốn có của người đọc nhằm gây những ấn tượng bất ngờ, thú vị. Chân dung nhân vật miêu tả theo lối tương phản này thường hiện ra không giống với tưởng tượng của người đọc về địa vị xã hội hay nghề nghiệp… của nhân vật đó. Trong những bức tranh thánh của pan Apolech chúng ta thấy hình ảnh các vị thánh tôn kính hiện ra trong sự tương phản đầy “nghịch dị”: “Ianech là thánh Paul, một anh chàng thọt chân cả sợ có bộ râu đen lồm xồm, một kẻ đã cắt đứt với nông thôn, còn Enca là bà thánh, người đàn bà dâm đãng ở Mardalen, một ả gầy còm mất trí, có cái thân hình như nhảy múa và cặp má hõm”. Những bức chân dung tông đồ của Jesus ấy không toát ra vẻ cao quý và nghiêm trang mà có chút gì đó kỳ lạ, buồn cười. Babel đã đời thường hóa các vị thánh, hay nói cách khác nhà văn đã thánh hóa các nhân vật đời thường trong tác phẩm của mình.

Nếu như các vị thánh xuất hiện trong những bức tranh của Apolech đầy ấn tượng thì hình ảnh của pan Apolech “với chiếc nơ màu hồng và cái quần sờn cũ cũng màu hồng” và nhạc công mù Gofrit dưới ngòi bút của Babel cũng ấn tượng không kém. Đó là sự tương phản giữa “thân hình hồng hồng gầy yếu” của họa sĩ và “đầu gối gầy nhọn”, “những ngón tay khẳng khiu” của nhạc công với phục trang của họ: “Dưới hai đôi giày Đức đóng đinh sắt, bước đi của họ vang lên như hát, thanh thản và đầy hy vọng. Chiếc khăn quàng dài màu hoàng yến thõng xuống từ cái cổ ngẳng của Apolech. Ba cái lông chim màu sôcôla rung rinh trên chiếc mũ vùng Tirôn của người mù.”

Trong tác phẩm, chúng ta còn thấy những bức chân dung tương phản giữa thể chất (hình dáng, phục trang) với tinh thần, phong thái trong một con người. Đó là “những ông già Do Thái bán phấn, lơ, bấc đèn, những người Do Thái có bộ râu của các nhà tiên tri, với những miếng giẻ rách mang khát vọng say sưa trên những bộ ngực lép”; là hình ảnh rapbi Do Thái Motale – rapbi cuối cùng của vương triều Trecnobưn: “Cụ đội cái mũ lông chồn nâu, mình mặc chiếc áo bào trắng, lưng thắt sợi dây. Rapbi nhắm mắt ngồi yên, những ngón tay gầy bới bới trong bộ râu vàng khè”…

Bên cạnh những nét vẽ phác thảo, những bức chân dung nhân vật trong Tập đoàn quân Kỵ binh còn được xây dựng theo lối vẽ “truyền thần”, tức là được nhà văn miêu tả cụ thể, chi tiết. Trong những bức vẽ truyền thần có những bức chân dung chân thực nhưng cũng có những bức chân dung mang vẻ đẹp huyền kỳ(11).

Đây là dáng người và khuôn mặt đầy biểu cảm của Afonka Bida khi bị mất con ngựa quý được nhà văn miêu tả chi tiết: “Afonka nhảy chồm lên, quay bộ mặt rỗ nhìn Maslak (…). Và chúng tôi đứng trên gò trông thấy Afonka còng lưng dưới bộ yên nặng, mặt đỏ và ướt như tảng thịt vừa xả. Anh ta lê bước về đại đội, cô đơn vô hạn trên cánh đồng hoang lầm bụi nóng hừng hực. (…) Miệng méo xệch như miệng người chết, cái đầu đầy máu đọng của trung đội trưởng ngật sang chỗ hõm trên cỗ yên, nom như đầu bức tượng đóng đinh câu rút”.

Còn đây là bức chân dung huyền kỳ được vẽ bằng những nét bút huyền ảo, kỳ lạ, đầy hấp dẫn của nhà văn. Qua nét bút ấy, Sư trưởng Sư đoàn Sáu mang vẻ đẹp của một vị thần: “Trông thấy tôi, Sư trưởng Sư đoàn 6 đứng dậy, và tôi kinh ngạc trước vẻ đẹp trên cái thân hình khổng lồ của anh. Anh vừa đứng lên thì cái quần cưỡi ngựa đại hồng, chiếc mũ màu tiết dê đội lệch hẳn sang một bên cùng những tấm huân chương đính trên ngực anh cắt căn phòng nông dân làm đôi, như lá cờ xẻ dọc bầu trời. Cặp chân rất dài của anh cứ như hai đứa con gái bị nhét tới vai vào hai chiếc ủng kỵ binh bóng lộn”.

Sự tương phản trong những bức vẽ phác thảo và truyền thần, chân thực và huyền kỳ không phải là sự tương phản mang tính chất loại trừ nhau. Trái lại, chúng bổ sung, hỗ trợ cho nhau, góp phần tạo nên một bức tranh đa màu sắc, đa khuôn mặt cho các nhân vật trong Tập đoàn quân Kỵ binh.

 

Rất nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu cùng thời với Babel khen ngợi khả năng sử dụng ngôn ngữ của ông. Ở đây ta cũng lại bắt gặp sự tương phản, đó là phong cách “cụt lủn như đại số nhưng được đóng gói trong thơ”(12).

Chính bản thân Babel cũng thừa nhận ông sợ nhất thói lắm lời. Mỗi từ ngữ nhà văn sử dụng phải đạt được ba tiêu chí: “thứ nhất là có ý nghĩa, thứ hai là giản dị, thứ ba là đẹp”(13), hay nói một cách hình ảnh hơn từ ngữ ấy phải “chính xác như thước đo loga và tự nhiên như mùi rau thìa là.”(14)

Trong Tập đoàn quân Kỵ binh chúng ta thấy rất rõ điều ấy. Nhiều từ ngữ Babel sử dụng tuy vô cùng ngắn gọn và giản dị nhưng lại gợi ra biết bao ẩn ý về thiên nhiên, về con người, thậm chí về cả thời đại nhà văn sống và chiến đấu. Những từ như “sữa trăng”, “cháo đột kích”, “Maxcova kế hoạch hóa”, “Cách mạng ngọt bùi”, “Quốc tế của những người tốt”, “những tay liếm gót”… không chỉ là những sáng tạo mới lạ của Babel mà còn là những từ ngữ “mang vấn đề”. Nhà văn gợi cho độc giả những suy nghĩ về hiện trạng hậu phương Nga thời Nội chiến, về khát vọng của nhân dân, trong đó có cả dân Do Thái về một cuộc cách mạng thực sự chính nghĩa… Cũng có thể coi đây là sự tương phản mang tên “ý tại ngôn ngoại”.

Bên cạnh đó, tác giả rất có ý thức đặt cạnh nhau những từ ngữ tương phản, đối lập và từ độ lệch về ý nghĩa giữa những từ ngữ tương phản ấy tạo ra những ẩn ý sâu sắc. Chúng tôi gọi đó là những оксюморон ngôn từ(15). Hầu hết những kết hợp từ này rất đắc dụng trong việc tạo ra chất mỉa mai, hài hước cho tác phẩm. Nhờ có chất hài hước kết hợp với những yếu tố trữ tình, cái bi trong tác phẩm viết về chiến tranh của Babel trở nên dễ chịu đựng hơn đối với người đọc.

Để làm nổi bật bản chất “lãng mạn”, những dằn vặt, khao khát của Sidorov trong Mặt trời nước Ý, Babel gọi anh chàng này là “tên sát nhân âu sầu” mang trong mình “sự mất trí khôn ngoan”.

Những băn khoăn trăn trở của những nhân vật Do Thái về cách mạng, về chiến tranh được nhà văn khắc họa qua “khuôn mặt mang những nét héo hon của một bà tu” của Ilia, hay qua hình ảnh ông già Ghedali mang “khát vọng say sưa trên những bộ ngực lép”.

Chất Do Thái cao ngạo trong những nạn nhân chiến tranh người Do Thái (những người phải gánh chịu sự tàn bạo của cả quân đội Xô Viết và Ba Lan) được Babel khắc họa qua “vẻ ngạo nghễ cay đắng”, qua khuôn mặt đầy “khát vọng sôi nổi, hằn sâu một cách đau khổ” của họ.

Trước cái chết đang đến gần nhân vật “tôi” – Liutov và bác đánh xe Grisuc vẫn rất lạc quan, hài hước. Họ cảm nhận được “niềm hân hoan trước cái chết”. Bác đánh xe Grisuc còn chua chát thốt lên: “Các bà ấy mang nặng đẻ đau làm gì nhỉ? – bác trả lời, giọng càng rầu rĩ, - dạm hỏi, cưới xin, các ông bạn, bà bạn đỡ đầu vui nhộn trong đám cưới làm gì nhỉ?”

Còn không khí căng thẳng trước trận chiến đấu sinh tử của Lũ trưởng Lữ đoàn Hai Colesnhicov được gợi ra từ “Cái chết lặng trang nghiêm của cuộc đâm chém”.

Lòng nhân đạo, chất người, lòng yêu thương đồng đội trong con người Liutov bị Afonka phỉ báng bằng câu văn đầy mỉa mai: “Bọn đeo kính chúng mày thương anh em chúng tao như con mèo thương con chuột”.

Vị tướng đỏ Conkin trong những phút giây nghỉ ngơi sau trận chiến nói về cuộc đời của những chàng lính Codac bôn ba khắp các mặt trận: “Chúng mình sẽ chết vì một quả dưa chuột muối và vì cách mạng toàn thế giới”.

Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những câu văn với những kết hợp từ tương phản mang ẩn ý như vậy trong tác phẩm. Nhiều câu văn đơn thuần mang ý mỉa mai: “ông thánh Sashka – lây bệnh giang mai của Đức Mẹ” (lời của cha dượng Sashka Chúa Cứu Thế nói về Sashka sau khi anh bị lây bệnh giang mai từ một mụ ăn mày và kiên quyết xin đi chăn bò ngựa cho bà con Codac trong trấn), nhưng cũng có không ít câu văn hàm chứa những triết lý sâu sắc về cuộc đời con người: “Số phận của chúng ta là con gà tây, cuộc đời chúng ta đáng một đồng copek”.

 

Nhịp điệu của âm thanh tương ứng với nội dung cảm xúc cũng được gợi ra từ ngôn từ trong tác phẩm. Những truyện của Babel thường có dung lượng rất ngắn. Câu văn trong tác phẩm, từ các câu đối thoại cho đến những câu miêu tả đều rất ngắn gọn, súc tích, giàu giá trị biểu cảm. Nhà nghệ sĩ ngôn từ Babel không chỉ biết tiết chế câu chữ, đẩy nhanh tốc độ câu chuyện mà còn rất khéo léo để chỉ với những ngôn từ hạn chế nhất vẫn co giãn được cảm xúc, tạo ra nhịp điệu trữ tình êm ái. Nhờ thế, cả Tập đoàn quân Kỵ binh giống như một bản nhạc hài hòa đa cung điệu với cả thanh trầm, thanh cao; cả những tiết tấu nhẹ nhàng, chậm rãi và những tiết tấu nhanh, mạnh, gấp gáp. Những đoạn nhanh, mạnh, gấp gáp xuất phát từ những tác phẩm được xây dựng trên cơ sở một tình huống kịch tính dữ dội về hành động hay tâm lý. Ở đây, ngôn ngữ đối thoại có vai trò quan trọng. Kịch tính trong các tác phẩm của Babel về cơ bản xuất phát từ sự “đối đầu” trong chính những hành động của các chiến sĩ kỵ binh. Khi thấy Liutov không đủ can đảm giải thoát cho Dolgushov khỏi sự đau đớn khi bị tử thương, Afonka đã lên cò súng định “trừng trị” người đồng đội tiểu tư sản của mình:

“- Xéo ngay, Afonka tái mặt trả lời, - tao sẽ giết !...

Và anh ta lên cò súng.

Tôi cho ngựa đi bước một, không quay lại, trên lưng cảm thấy cái lạnh buốt và cái chết.” (Cái chết của Dolgushov)

Trong Đại đội trưởng Trunov, Trunov đã nổ súng bắn Andriusa Votmiletov khi anh này lột lấy cái quần của một tù binh Ba Lan: “- Phản bội ! – anh nói xong vội vã giương khẩu súng trường lên vai, nhả đạn, nhưng vì vội nên bắn trượt.”

Những giai điệu nhẹ nhàng, du dương là kết quả của những dòng cảm xúc miên man với những cơn sóng ngầm của những trăn trở, day dứt, những đấu tranh nội tâm hay những trạng thái thanh thản của tâm hồn. Câu văn miêu tả hoặc tự bạch rất đắc dụng với trường hợp này. Người đọc sẽ cảm thấy chút băn khoăn day dứt khi chứng kiến những dằn vặt, suy tư của Sidorov (Mặt trời nước Ý) trong đêm: “Và đây đêm tối đầy những tiếng động xa ám ảnh nhức nhối, hình chữ nhật của cái khung sáng giữa bóng tối ẩm thấp, trên đó nổi lên bộ mặt như người chết của Sidorov, cái mặt nạ không có sức sống đang cúi xuống ngọn lửa vàng khè ở đầu cây nến”. Nhưng với những tác phẩm như Tiểu sử Pavlichenko Matvei Rodionut người đọc sẽ vô cùng thích thú khi ngân nga những trang viết của Babel về nông thôn Nga trù phú, thanh bình: “Khắp chung quanh tôi cuộc sống trải rộng trên đồng không, cỏ chỗ nào cũng ràn rạt, bầu trời trên đầu kéo dài ra như cây đàn accoocdeon nhiều phím. Mà bầu trời, các bạn ạ, trời ở tỉnh Stavrofonscaia thì xanh ngát”. Đó còn là những trang văn mang tính chất trữ tình ngoại đề như Nghĩa trang ở Codin, Đường tới Brodư hay Lý luận về tatranca, là âm hưởng trầm buồn, kỳ bítoát ra từ những hồi ức văn hóa ngọt ngào trong cuộc tiếp xúc của “tôi” với những triết gia Do Thái như Ghedali, Motale…

Không chỉ thế, ngay trong những tác phẩm mang kịch tính cao nguời đọc vẫn cảm nhận được sự vận động của âm điệu từ chậm rãi tới căng thẳng, gấp gáp tương ứng với sự vận động tới kịch tính dữ dội. Nỗi đau mất cha lên đến đỉnh điểm đã biến người phụ nữ Do Thái trong Vượt sông Dobrut từ một con người cam chịu nhẫn nhục thành một con người mang trong mình sức mạnh tinh thần mãnh liệt: “Người đàn bà bỗng nói với một sức mạnh đáng sợ - tôi muốn biết khắp thế gian này, ngài có tìm đâu thấy một ông bố như bố tôi không…” Sức mạnh ấy giống như một đợt triều dâng cao chứa đựng trong lòng nó những con sóng dữ dội của tình yêu thương máu mủ ruột rà, lòng hiếu thảo, tự hào, nỗi căm hờn xót xa tuyệt vọng và cả sự trách móc… Chiến tranh khốc liệt đã gây ra một biển đau thương trong trái tim của hàng triệu người phụ nữ và hàng triệu nạn nhân chiến tranh, còn mỗi một trái tim đau khổ tuyệt vọng của họ giống như người phụ nữ Do Thái trong Vượt sông Dobrut là một đợt triều dâng. Mà biển thì có bao giờ nguôi sóng…

Đặc biệt, trong những tác phẩm của Tập đoàn quân Kỵ binh có những đoạn văn, câu văn được viết ra với một nhạc cảm rất rõ ràng. Người đọc có cảm giác như đang được ngân nga một câu hát hay đọc một bài thơ trữ tình.

Chúng ta hãy đọc những lời nói của triết gia Do Thái Motale: “Hãy để cho chàng trẻ tuổi ngồi một chỗ ở bàn, để chàng ăn trong buổi tối thứ bảy này cùng với những người Do Thái khác, để chàng cảm thấy sung sướng vì còn sống chứ chưa chết, để chàng vỗ tay khi những người bên cạnh mình nhảy múa, để chàng uống rượu vang nếu rượu vang được đem đến cho chàng…”, hay của bõ Mockhe: “Chao ôi, anh chàng yêu quý và còn trẻ thế này của tôi! Chao ôi, ở Odessa tôi đã quen biết bao nhiêu thằng giàu ngu xuẩn, ở Odessa tôi đã quen biết bao nhiêu kẻ khó hiền minh! Nào ngồi vào bàn đi, chàng trai, và hãy uống rượu mà người ta sẽ không đem ra cho anh”.

Đó còn là những lời nói của “tôi” khi triết lý về cái chết: “Ôi cái chết, ôi kẻ tự tư tự lợi, ôi tâm hồn tham lam, tại sao ngươi không thương chúng ta, dù chỉ một lần?”

Từ những lí do đó, nữ thi sĩ Babet Doitr đã khẳng định sự hòa hợp giữa những nét tương phản trong phong cách của Babel: “Không một người nào cùng thời đại của Babel có thể so với ông về sức mãnh liệt, tốc độ, mức căng thẳng và áp suất trong văn xuôi của ông, về tính trữ tình của ông.”(16)

Như thế, bằng biệt tài sử dụng ngôn ngữ của mình, Babel đã tạo thêm cho Tập đoàn quân Kỵ binh một sức hấp dẫn vô cùng đặc biệt. Đọc tác phẩm người đọc sẽ được nếm trải mọi cung bậc cảm xúc được gợi ra từ một thứ văn xuôi vừa ngắn gọn, súc tích, vừa sắc sảo, táo bạo, vừa mỉa mai hài hước, vừa trữ tình mềm mại. Sự dung hợp của những nét tương phản ấy là nét tài năng đặc biệt của nhà văn Nga Do Thái Babel.

 

* * *

 

Cách cảm nhận hiện thực chiến tranh, hiện thực tâm hồn con người trong chiến tranh bằng tương phản của Babel đã tạo ra một tác phẩm mang tính đối thoại lớn lao với những cách nhìn nhận chiến tranh đương thời. Trong tác phẩm hiện ra một cuộc sống chiến đấu vô cùng khắc nghiệt được xây dựng từ hình tam giác nếp sống “đâm chém – tatranca – máu” (tatranka – xe ngựa dùng trong chiến tranh của quân đội Hồng quân). Tuy nhiên bên cạnh cuộc sống ấy còn có một cuộc sống thứ hai – cuộc sống với những tình cảm, những khát khao mãnh liệt của con người về thứ hòa bình đời thường nhất. Có những tác phẩm sự tương phản chỉ hiện ra trên bề mặt, có những tác phẩm sự tương phản ẩn trong tầng sâu đòi hỏi phải đọc kĩ và suy ngẫm. Tương phản, như vậy, không chỉ là phương tiện mà thực sự đã trở thành mục đích của Babel trong sáng tạo nghệ thuật.

Babel là một nhà văn đặc biệt, đặc biệt trong cách nhận thức thế giới, trong cách ông nhận ra những điều người khác bỏ qua và viết ra với giọng văn làm người ta ngạc nhiên. Babel kể một cách khác thường về những điều không bình thường. “Babel không giống ai và chẳng ai có thể giống ông”(17), I.Erenburg đã nói về Babel như thế. Nhưng có một điểm Babel gặp gỡ các nhà văn lớn khác của nước Nga Xô Viết, đó là ý thức trách nhiệm với lịch sử, với Tổ quốc, với nhân dân; là tâm huyết với sự sáng tạo nghệ thuật. Có điều Babel gửi gắm tâm huyết của mình vào văn xuôi, còn người khác thì diễn đạt nó bằng những câu thơ cháy bỏng:

“… Anh chỉ là một giọt nước trong đại dương lịch sử của nhân dân

Nhưng lịch sử trong bản thân anh đó

Sống trong lịch sử anh chịu trách nhiệm về lịch sử

Anh chịu trách nhiệm về tất cả

Về những chiến thắng và quang vinh

Về những khổ đau và lỗi lầm

Anh chịu trách nhiệm với những ai dẫn đường anh đi

Với quốc thiều, quốc huy, với ngọn quốc kỳ…”

(Giữa thế kỷ - Trường ca của Lugoscoi - Hoàng Ngọc Hiến dịch)(18).

 

 

 

Chú thích:

(1) Nguyên văn tên tác phẩm trong tiếng Nga là Конармия. Chúng tôi thống nhất sử dụng cách dịch của dịch giả Nguyễn Thụy Ứng – Tập đoàn quân Kỵ binh khi gọi tên tác phẩm này của Babel.

(2), (10) Freidin G.: “Isaac Babel”, European Writer of the Twentieth Century, 1990. Nguồn: http://www.stanford.edu/group/isaac_babel.

 (3) Nguyễn Hải Hà: Cuộc đời sóng gió bi thảm, Chuyện làng văn (Việt Nam và thế giới). Nxb. Giáo dục, H, 2004, tr.517.

(4), (5) Babel I.E.: Tuyển tập (Nguyễn Thụy Ứng dịch từ tiếng Nga, I. Erenburg và Nguyễn Thụy Ứng giới thiệu). Nxb. Văn hóa thông tin, H, 2000, tr. 6.

(6), (14) Jenifer Trần: Cười vỡ đêm đen. Nguồn: http://www.tanvien.net/tgtp/tgtp_ babel.html.

(7) Babel I.E.: Tuyển tập. Sđd, tr.38.

(8) Babel I.E.: Tuyển tập. Sđd. Trong Tuyển tập này, từ tr 6 – 55 là phần đầu sách, gồm lời giới thiệu của I.Erenburg và Nguyễn Thụy Ứng, từ tr 55 là bắt đầu tác phẩm Tập đoàn quân Kỵ binh. Những chỗ trích từ các truyện ngắn của Tập đoàn quân Kỵ binh, sau đây chúng tôi sẽ không chú thích.

(9) Babel I.E.: Tuyển tập. Sđd. Tr.24.

(11) “Huyền kỳ” là cách dịch từ “феерическая” - nguyên văn tiếng Nga trong Nhật ký - của dịch giả Nguyễn Thụy Ứng: “…Дьяков - феерическаякартина…”, Дневник 1920г (конармейский)// И. Э. Бабель (Проза - драматургия), Пушкинскаябиблиотека - Десятьвековрусскойлитературы, Москва, слово, 2004, стр 578.

(12), (13) Babel I.E.: Tuyển tập. Sđd, tr.6, tr.42.

(15) Oксюморон: thuật ngữ ngôn ngữ, tu từ học (tiếng Anh: oxymoron, tiếng Pháp: oxymore, tiếng Việt: nghịch dụ). NguyễnTháiHòatrongTừ điểntutừ - phongcách – thipháphọcgiảithích: “nghịchdụlà mộtbiếnthểcủaphảnngữ, trong đó cốtởviệckếthợpliềnnhauhaygầnnhaunhững đơnvịngữnghĩavà ngữpháptrongmộtchuỗicâu, tráivớicáchnói, cáchhiểuthôngthường. Ví dụ: đẹpkinhkhủng, lomuốnchết, hiềnnhư quỷ, ngondễsợ…”

(16), (17) Babel I.E.: Tuyển tập. Sđd, tr.40, tr.9.

 (18) Nhiều tác giả: Lịch sử văn học Nga. Nxb. Giáo dục, H, 2003, tr.758.

 

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 11 - 2011

Các tin đã đưa ngày: