Di sản văn học lãng mạn

06/05/2015

Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học là một trào lưu có mặt ở hầu hết các nước châu Âu, nước Mỹ và khu vực Mỹ La tinh. Trào lưu này phát triển khoảng từ năm 1750 tới 1870. Điểm nổi bật của văn học lãng mạn là sự đề cao trí tưởng tượng và tính chủ quan trong quá trình tiếp cận, tự do suy ngẫm, thể hiện và lý tưởng hóa thiên nhiên. Thuật ngữ romantic ( lãng mạn) lần đầu xuất hiện vào thế kỷ XVIII , bắt đầu từ thuật ngữ tiếng Anh “romancelike”, có nghĩa là giống với nhân vật kỳ lạ trong những tác phẩm thể loại romance thời trung cổ (medieval romance). Đây là một thể loại phổ biến, dưới hình thức thơ hoặc văn xuôi, liên quan đến truyền thuyết, hiện tượng siêu nhiên hay những chủ đề tình cảm với các nhân vật yêu đương si mê. Sau này, thuật ngữ romance được dùng để chỉ những câu chuyện liên quan đặc biệt đến các hiệp sĩ, tinh thần thượng võ, tình yêu cao quý. Thể loại romance và sử thi khá giống nhau nhưng các tác phẩm sử thi thường dài hơn và không chú trọng nhiều tình yêu nam nữ.

Di sản văn học lãng mạn

Hoàng Tố Mai

 

“Kể từ đó thế giới không bao giờ giống như trước nữa, các nhà lãng mãn đã làm thay đổi hẳn các nhà chính trị và đạo đức. Không phải quá lời, chắc chắn đây là sự thay đổi cấp tiến nhất và thực sự kịch tính trong nhân sinh quan ở những những thời kỳ hiện đại”.

                                            Isaiah Berlin, The Roots of Romanticism

Chủ nghĩa lãng mạn trong văn học là một trào lưu có mặt ở hầu hết các nước châu Âu, nước Mỹ và khu vực Mỹ La tinh.  Trào lưu này phát triển khoảng từ năm 1750 tới 1870. Điểm nổi bật của văn học lãng mạn là sự đề cao trí tưởng tượng và tính chủ quan trong quá trình tiếp cận,  tự do suy ngẫm, thể hiện và lý tưởng hóa thiên nhiên. Thuật ngữ romantic ( lãng mạn) lần đầu xuất hiện vào thế kỷ XVIII , bắt đầu từ thuật ngữ tiếng Anh “romancelike”, có nghĩa là giống với nhân vật kỳ lạ trong những tác phẩm thể loại  romance thời trung cổ (medieval romance). Đây là một thể loại phổ biến, dưới hình thức thơ hoặc văn xuôi, liên quan đến truyền thuyết, hiện tượng siêu nhiên  hay những chủ đề tình cảm với các nhân vật yêu đương si mê. Sau này, thuật ngữ romance được dùng để chỉ những câu chuyện liên quan đặc biệt đến các hiệp sĩ, tinh thần thượng võ, tình yêu cao quý. Thể loại romance và sử thi khá giống nhau nhưng các tác phẩm sử thi thường dài hơn và không chú trọng nhiều tình yêu nam nữ.

Vào khoảng cuối thế kỷ XVIII, thị hiếu văn chương tại  Pháp và Đức  bắt đầu chuyển từ phong cách cổ điển sang tân cổ điển. Ban đầu, cảm hứng cho sự tiếp cận lãng mạn đến từ hai nhà tư tưởng vĩ đại của châu Âu, đó là nhà triết học Pháp Jean Jacques Rousseau và nhà văn Đức Johann Wolfgang von Goethe. Rousseau đã khởi xướng và thiết lập nên tinh thần sùng bái cá nhân. Ông cũng là người đấu tranh cho tự do tinh thần. Rousseau đã tạo nên sự khác biệt lớn vì đã chú trọng tới cảm xúc và trực giác, thậm chí ông còn cho rằng chúng quan trọng hơn lý trí. Tuyên ngôn nổi tiếng của ông là “ Tồn tại đối với chúng ta, đó là cảm nhận; sự cảm nhận của chúng ta rõ ràng là có trước sự hiểu biết và chúng ta có cảm xúc trước khi có ý tưởng”. Goethe và những tác giả Đức nổi tiếng khác như nhà phê bình Johann Gottfried von Herder và nhà sử học Justus Moser, đã đưa ra nhiều qui tắc chính thức hơn  và họ cùng nhau ra tập tiểu luận có tên Về nghệ thuật và phong cách Đức (Vondeutscher Art und Kunst) năm 1773. Trong tác phẩm này, các tác giả tán dương tinh thần lãng mạn được biểu thị trong những bài hát dân gian Đức, kiến trúc Gothic, và những vở  kịch của nhà viết kịch người Anh William Shakespeare. Bản thân Goethe đã  tìm tòi và học hỏi theo phong cách viết tự do, không gò bó của Shakespeare trong tác phẩm Gotz von Berlichingen (1773), một vở kịch lịch sử  viết về một hiệp sĩ hành hiệp trượng nghĩa trong thế kỷ XVI. Trong vở kịch này, tác giả bào chữa cho cuộc nổi dạy chống nhà cầm quyền , mở đầu cho trào lưu Bão tố và căng thẳng (Sturm und Drang), nó cũng là bước đệm cho  chủ nghĩa lãng mạn Đức. Cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn của chàng Werther (1774) cũng được viết theo phong cách như trên. Đây là một trong những tác phẩm lãng mạn tạo ra ảnh hưởng lớn nhất. Nhân vật chính trong tác phẩm là Werther, chàng thanh niên có học thức, do chán nản với xã hội đương thời nên tìm đến thị trấn Warheimu xinh đẹp để được sống hòa mình với thiên nhiên và người dân lao động. Tại đây Werther đã rung động trước cô gái quý tộc Lothéa xinh đẹp nhưng đáng tiếc là nàng đã đính ước với Albert, cũng là một thanh niên trí thức lương thiện và chính trực. Chìm trong mối tình đơn phương tuyệt vọng, Werther đã bỏ đi. Sau đó, anh ta tận mắt chứng kiến những trường hợp thất tình bi đát, kẻ thì phạm tội sát nhân, người thì hóa tâm thần, điên dại. Werther tự nhận thấy trình trạng yêu đơn phương vô vọng của mình là không có lối thoát. Anh đã mượn súng của Albert, chồng của Lothéa rồi tự sát. Có thể thấy rằng đây là một cuốn tiểu thuyết đề cao tình cảm, thậm chí còn biện hộ cho những ai tự vẫn khi tình yêu bất thành. Nghệ thuật trong tiểu thuyết Nỗi buồn của chàng Werther bộc lộ qua hình thức kết cấu độc đáo, kỹ năng sử dụng ngôn từ điêu luyện và khả năng phát hiện thế giới nội tâm của nhân vật. Tác phẩm được kết cấu theo trình tự những bức thư tâm tình, tâm sự, kết hợp với bút pháp miêu tả thiên nhiên cực kỳ linh hoạt, ngoài ra tác giả đã để nhân vật tự bộc lộ mình trong những nỗi niềm riềng tư sâu kín nhất. Tác phẩm này đưa ra một giọng điệu và tâm trạng mà nhiều tác giảỉ lãng mạn đã sao chép, thậm chí trong đời sống riêng tư họ cũng ảnh hưởng  phong cách của nhân vật trong tác phẩm này: đó là một khuynh khướng sống nhằm tới sự điên rồ, sầu muộn, chán đời và thậm chí là tự hủy diệt.

Lời tựa của cuốn Những bài Ballad trữ tình (1800) do hai nhà thơ Anh William Wordsworth và Samuel Taylor Coleridge viết chung cũng được coi như đóng góp quan trọng , nó giống như một tuyên ngôn về chủ nghĩa lãng mạn trong văn chương. Quan điểm mỹ học và triết học của hai tác giả này chịu ảnh hưởng của triết học duy tâm cổ điển Đức . đặc biệt là của Immanuel Kant. Khác với những nhà lãng mạn Đức và Pháp, họ không  mơ ước khôi phục lại quá khứ trung cổ mà chỉ coi đấy là  bối cảnh đẹp, nơi có thể nương tựa để rồi từ đó họ có thể bỏ qua thời hiện tại và tạo ra thế giới nghệ thuật vị nghệ thuật. Họ hướng chủ đề thơ ca vào việc mô tả những con người  và những hiện tượng  “đơn giản. bình thường, gần thiên nhiên”. Theo họ “con người bình thường” là con người là con người “sơ khai” nhận thức theo bản năng những điều bí mật mà lý trí con người không hiểu được. Lý giải thế giới theo quan điểm duy tâm họ xem vũ trụ là biểu hiện của tinh thần tuyệt đối , nhiệm vụ của nhà văn  là nắm bắt lấy cái tuyệt đối trong cái bình thường hàng ngày bằng linh tính trực giác. Trong bài viết này hai nhà thơ khẳng định tầm quan trọng của cảm giác và trí tưởng tượng đối với sáng tạo thi ca và từ bỏ những chủ đề và hình thức văn học có tính qui ước. Vì vậy, khi văn học lãng mạn phát triển mọi nơi, trí tưởng tượng được đặt cao hơn lý trí, cảm xúc cao hơn logic, trực giác cao hơn khoa học , đã định hướng thành công cho một nên văn học rộng lớn đầy đam mê và cảm xúc lớn lao. Nền văn học này nhấn mạnh sự linh hoạt mới mẻ về hình thức, nó thích nghi với nội dung phong phú, khuyến khích sự phát triển của những cốt truyện phức tạp và có diễn biến nhanh, và nó cũng cho phép những thể loại được kết hợp (bi, hài kịch và sự trộn lẫn giữa cái nghịch dị và cái cao cả) và phong cách của nó cũng tự do hơn. Bài viết cũng đề cập đến những hạn chế của văn học cổ điển mà những cây bút lãng mạn tỏ ra không thể nào tiếp tục chịu đựng, chẳng hạn như những qui ước bất di bất dịch như  luật ba thống nhất (thời gian, địa điểm  và hành động) trong bi kịch. Nhu cầu về đường lối sáng tác tự do và trữ tình ngày một tăng. Các tác giả lãng mạn đề cao những giá trị được tìm thấy trong thơ dân gian và thể loại romance trung cổ - dẫn tới sự chối bỏ những quy tắc vận luật cân đối, những hình thức cứng nhắc, và những quy tắc khác của truyền thống cổ điển. Ví dụ trong thơ Anh, thơ không vần thế chỗ cho loại thơ có cặp câu bắt vần (rhymed couplet) chiếm ưu thế trong thế kỷ XVIII. Những dòng mở đầu vở kịch melo Hernani (1830) của đại văn hào Pháp Victor Hugo cho thấy tác giả đã có nỗ lực thoát khỏi vận luật thơ Pháp thế kỷ XVIII. Trong lời tựa của vở kịch Cromwell (1827), một tác phẩm cũng được coi như là tuyên ngôn chủ chủ nghĩa lãng mạn, Hugo đã chỉ ra rằng tự nhiên cũng như xã hội không phải chỉ phô bày toàn những thứ thuộc về  chân, thiện, mỹ  mà trái lại, cái xấu tồn tại bên cạnh cái đẹp, cái ác bên cạnh cái thiện, cái xấu xí bên cạnh cái cao nhã, bóng tối bên cạnh ánh sáng. Tác giả cũng đả phá việc phân chia nghệ thuật một cách võ đoán thành các loại hình cao thấp, không thừa nhận cái ranh giới cứng nhắc giữa bi kịch và hài kịch. Bi kịch và hài kịch cổ điển phải nhường chỗ cho kịch dram (chính kịch) . Ông cho rằng “Kịch dram nhào lẫn cái thô kệch và cái trác việt, cái khủng khiếp và cái hài hước, bi kịch và hài kịch, dram… là đặc tính của văn chương hiện nay”. Với Hugo và những cây bút lãng mạn thì nghệ thuật tự do đã tạo nên sức hấp dẫn của kịch dram. Những “khuôn vàng thước ngọc” có thể bị bẻ cong. Không có quy tắc trong kịch, không có cả quy tắc trong thơ. Câu thơ tự do thay thế cho câu thơ alexandrin cân đối, nghiêm ngặt. Trong lĩnh vực tiểu thuyết, các cây bút lãng mạn cũng đã phá vỡ những nguyên tắc cũ khi xây dựng những nhân vật anh hùng, không còn là những típ nhân vật phổ biến, chung chung, ít thay đổi, thay vào đó là những nhân vật phức tạp, có tư chất hơn. Một số lượng lớn kịch, văn xuôi hư cấu và và thơ thời kỳ này  đã ca tụng và tôn vinh “con người bình thường” mà Rousseau đã từng đề cập.

Khi trào lưu lãng mạn lan từ Pháp và Đức tới Anh và sau đó là phần còn lại của châu Âu và vượt qua Tây bán cầu, một số chủ đề và giọng điệu , thường là bện lẫn vào nhau, trở thành những giá trị ảnh hưởng tới hầu hết các nhà văn trong thế kỷ XIX. Những chủ đề đó liên quan mật thiết tới chủ nghĩa tự do, thiên nhiên, sự quyến rũ của cái ngoại lai (exotic) và siêu nhiên.

Triết học lãng mạn đã khiến nhiều người đi theo chủ nghĩa tự do và tạo ra những trào lưu bãi nô cuối thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ XIX. Nó đề cao khát vọng được thoát khỏi nguyên tắc và chuyên chế, và ngoài ra nó còn đề cao quyền và phẩm giá của cá nhân. Chẳng hạn như những chủ đề hợp thức, hợp lý và thông lệ tiêu biểu cho chủ nghĩa tân cổ điển đã bị đảo ngược, sự thống trị độc đoán, cái mà khuyến khích chủ nghĩa tân cổ điển được duy trì và kéo dài  trong nghệ thuật đã bị những cuộc cách mạng đại chúng tác động mạnh mẽ. Những căn nguyên chính trị và xã hội trở thành những chủ đề nổi trội trong thơ và văn xuôi lãng mạn trên khắp thế giới phương Tây, tạo ra nhiều tác phẩm nhân văn sống động mà tới giờ vẫn còn giá trị lớn lao. Năm 1848, khi châu Âu dường như vỡ vụn bởi những biến động chính trị, cơn triều cường lãng mạn đã để lại dấu ấn sâu đậm tại Ý, Áo, Đức và Pháp.

 

          Trong William Tell (1804) của kịch gia Đức Friedrich von Schiller, một người leo núi vô danh thời trung cổ đã trở thành biểu tượng bất diệt của tinh thần chống đối bạo ngược và ngoại xâm. Và trong tiểu thuyết Hứa hôn (1825-1827) của nhà văn Ý Alessandro Manzoni, người ta lại thấy một đôi trai gái nông dân vừa là nạn nhân vừa là những nhân vật chống lại thế lực cường quyền của chế độ phong kiến đang tan rã ở miền bắc Italy. Lord Byron và Percy Bysshe Shelley, những nhà thơ lãng mạn tiêu biểu nhất (trong cả đời tư lẫn tác phẩm), đã viết những tác phẩm có tiếng vang chống lại những sai lầm chính trị, xã hội và đứng về những cuộc đấu tranh cho tự do tại Ý và Hi Lạp. Chẳng hạn như bài Nhật ký ở Cephalonia của Byron

Người chết đã thức dậy – Ta có ngủ nổi không?

Địa cầu chìm trong chiến tranh cùng với bầy bạo chúa – Ta còn dám ẩn mình

Mùa màng chín rộ - Ta sẽ ngừng thu hoạch?

Ta không ngủ được: Giường đệm như có gai đâm

Mỗi ngày tiếng kèn thúc dục vang bên tai

Và tiếng vọng của nó ngân trong tim

 

Nhà thơ Nga Aleksandr Sergeyevich Pushkin cũng đã từng ngưỡng mộ tài năng của Byron, đặc biệt là tác phẩm “Tụng ca về tự do” (1820) của ông. Cũng như nhiều tác giả lãng mạn khác, Byron cũng phải chịu sự đàn áp của giới cầm quyền vì tư tưởng phản kháng, chống đối. Quan niệm về tự do của ông đôi khi cũng nặng trĩu những hoài nghi, chẳng hạn những vần thơ sau trong truyện thơ  Người tù ở Chillon

Than ôi, một thói quen lâu dài làm ta thay đổi

Ta đã quen với xiềng xích, ta yêu chúng

Và cất lên một tiếng thở dài khi trở lại với tự do

         

Sự bất mãn kiểu lãng mạn nói chung đối với tổ chức xã hội thường được nhận thấy trong  sự chỉ trích đặc biệt xã hội đô thị. Bài thơ Túp lều của người chân cừu (1844) của nhà thơ Pháp Alfred Victor de Vigny, đã thể hiện quan điểm của tác giả:  nơi trú ngụ đơn sơ của những người chăn cừu còn cao quý hơn cả cung điện nguy nga. Trước đó, Rousseau đã từng viết rằng con người sinh đã được tự do nhưng chính văn minh đã nhấn chìm con người trong xiềng xích. Cảm giác bức bối này thường được thể hiện trong thơ, thí dụ bài Milton (khoảng từ 1804-1808) của William Blake , khi mà ông cho rằng “những xưởng máy tối tăm, ma quỷ” đang bắt đầu làm hỏng khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ của những vùng nông thôn nước Anh. Hay trong bài thơ dài Khúc dạo đầu (1850) của Wordsworth ta cũng có thể rõ sự chán ghét cuộc sống đô thị , chẳn hạn khi tác giả nói về  Những tụ điểm quá chen chúc, ngột ngạt chốn thành đô/ Nơi mà trái tim con người luôn bệnh hoạn”

          Đối với những cây bút lãng mạn, sự quan tâm tới thiên nhiên và những gì liên quan đến thiên nhiên là nền tảng của những cảm xúc. Đó cũng là một trọng tâm thú vị của trào lưu lãng mạn. Sự thích thú với khung cảnh nguyên sơ và cuộc sống mộc mạc của những người dân nông thôn có lẽ lần đầu tiên được công nhận như một chủ đề văn chương trong tác phẩm Mùa (The seasons) (1726-1730) của nhà thơ Scotland James Thomson (1726-1730). Tác phẩm thơ dài hơn 150 trang viết về vẻ đẹp nên thơ của bốn mùa bằng những áng thơ trong vắt và tinh khiết. Dưới đây là những vần thơ đầu tiên trong trường đoạn viết về mùa xuân.

Hãy tới đây mùa xuân dịu dàng, nhẹ thênh và tao nhã

Từ bầu ngực mây xa xôi mưa  nhỏ giọt thánh thót khắp nơi

Cơn mưa làm thành lớp voan mỏng

Phủ che những bông hồng nở trên cánh đồng

 

Tác phẩm này thường được trích dẫn như một ảnh hưởng hình thành đối với thơ lãng mạn Anh sau này. Còn với truyền thống thiên nhiên trong văn học Anh thì đáng kể nhất chính là Wordswoth. Ông thường kết hợp cảm quan về đời sống nông thôn với là sự sầu muộn lãng mạn phổ biến, đó là cảm giác về  sự thay đổi sắp xảy ra, đó cũng là nguyên nhân khiến  cuộc sống bị đe dọa. Những sự báo trước như thế được chứng tỏ sớm trong : “Bài tụng ca buổi tối” (Ode to evening) (1747) của William Collins, Bi ca được viết trong một khuôn viên nhà thờ nông thôn (1751) của Thomas Gray, và Thành phố  (1810) của George Crable. Giọng viết sầu muộn sau này được phát triển như một chủ để riêng biệt như Tụng ca về sầu muộn (1820) của John Keats. Đây là một bài thơ nổi tiếng vì những vần thơ buồn bã nhưng tràn đầy những ẩn dụ ám gợi 

Nhưng đột nhiên, khi áng thơ sầu muộn từ thiên đường rớt xuống

Như một đám mây nức nở

Nuôi dưỡng những bông hoa cúi đầu ủ rũ

Và giấu đi đồi cỏ xanh trong vải liệm tháng tư

Nỗi sầu muộn đầy mỹ cảm này còn xuất hiện trong trong tác phẩm của những nhà văn Mỹ sau này, đó là những tiểu thuyết và truyện ngắn của Nathaniel Hawthorn, chúng thăm dò những chiều sâu của bản tính con người trong bối cảnh New England Thanh giáo hay những truyện ngắn rùng rợn và thơ sầu muộn của Edgar Allan Poe.

 Trong một nhánh phát triển khác của văn học Mỹ, cảm hứng lãng mạn từ thiên nhiên vô tận còn được tìm thấy trong tác phẩm Sách phác thảo của ngàì Geoffrey Crayon (1819 – 1820) của  nhà văn Washington Irving. Đây là một tuyển tập những câu chuyện mô tả lại cuộc sống ở thung lũng Hudson, phản ánh sự hiểu biết của tác giả về những câu chuyện dân gian châu Âu , cũng như tiểu thuyết Gothic và thơ lãng mãn đương thời. Tác phẩm Những câu chuyện về Leather-Stocking của James Fenimore Cooper  ca ngợi vẻ đẹp Mỹ hoang dại và cuộc sống mộc mạc vùng biên ải. Cũng giống như tinh thần lãng mạn của Rousseau, họ cũng lý tưởng hóa người Mỹ bản địa thành “những người hoang dã cao quý”. Vào giữa thế kỷ XIX , truyền thống mô tả thiên nhiên  được những cây bút Mỹ theo chủ nghĩa siêu nghiệm say mê, điều này thể hiện rất rõ trọng những tiểu luận của Ralph Waldo Emerson và Henry David Thoreau.

Những yếu tố ngoại lai (exotic) cũng tạo những dấu ấn đặc trưng trong nhiều tác phẩm lãng mạn. Trong tinh thần tự do mới mẻ , những nhà văn lãng mạn thuộc tất cả mọi nền văn hóa đã mở rộng chân trời tưởng tượng của họ ở cả về phương diện không gian lẫn thời gian. Họ quay trở lại thời Trung cổ (Thế kỷ V đến XV) để vay mượn lại những chủ đề, khung cảnh, và lựa chọn những địa điểm từ quần đảo Hebrides đáng sợ thuộc truyền thống Ossian, như trong tác phẩm của nhà thơ Scotland James MacPherson và tới khung cảnh nên thơ châu Á gợi lên từ phẩm trữ tình còn dang dở “Kubla Khan” (1797) của Coleridge. Việc biên soạn những khúc ballad Anh và Scotland cổ do nhà thơ Thomas Percy đảm nhiệm đã tạo ra một cuốn sách gây  ảnh hưởng sau này. Đó là cuốn Di sản thơ Anh cổ xưa (1765) được coi như đã tạo nên một sự ảnh hưởng đáng kể cho hình thức và nội dung của thơ lãng mạn sau này. Sự luyến tiếc quá khứ Gothic trộn lẫn với khuynh hướng sầu muộn từ đó tạo ra sự hứng thú đối với những khung cảnh đổ nát, nghĩa địa, cái siêu nhiên để rồi trở thành những chủ đề sáng tác.  Trong văn học Anh, những tác phẩm tiêu biểu có cuốn The eve of St. Agnes của Keat, những tiểu thuyết Gothic của Matthew Gregory Lewis, và Lâu đài của Otranto (1764) của Horace Walpole và Bài hát của người hát rong cuối cùng (1805) của nhà văn Scotland Walter Scot và những tiểu thuyết lịch sử của ông (1814-1825). Trong những tác phẩm này có sự kết hợp những yếu tố sau: tình yêu với vẻ đẹp khác thường, sự quan tâm tới quá khứ anh hùng và sự thích thú cái bí ẩn và dị đoan.

Khuynh hướng ngả sang siêu nhiên và phi lý là một đặc điểm quan trọng của văn học lãng mạn Anh và Đức. Khuynh hướng này tăng mạnh một mặt do  sự vỡ mộng với chủ nghĩa duy lý thế kỷ XVIII, mặt khác là do sự phát hiện lại văn học cổ  xưa - những khúc ballads và những câu chuyện dân gian - được Thomas Percy, anh em nhà Grimm và nhà văn Đan Mạch Hans Christian Andersen sưu tầm. Nhờ có họ mà văn học dân gian và những giá trị nghệ thuật của nó đã được phổ biến rộng rãi. Đáng kể hơn cả là công trình sưu tầm truyện cổ của anh em nhà Grimm. Tính chất khoa học của phương pháp sưu tầm của họ đã được đánh giá rất cao. Anh em nhà Grimm đã cho in song song những dị bản của từng truyện cổ, thêm những chú giải cần thiết, và có khi dẫn những truyện tương tự của các dân tộc khác để người nghiên cứu có thể so sánh. Để thể niềm say mê và ngưỡng mộ của mình đối với văn học dân gian hai ông đã từng đưa ra những những nhận định như sau: “Văn học dân gian cổ xưa và con người cổ xưa to lớn hơn, trong sáng hơn, thiêng liêng hơn chúng ta ngày nay. Ánh sáng thần thánh còn soi rọi trong lòng họ, trên đầu họ”. Có thể thấy rằng, nguồn chất liệu văn học dân gian đã góp phần không nhỏ cho sự phát triển phong phú của văn học lãng mạn, thí dụ như  motif song trùng (double). Nhiều nhà văn lãng mạn , đặc biệt tại Đức, đã bị khái niệm này mê hoặc, có lẽ bởi vì mối quan tâm lãng mạn nói chung của họ đối với đối với sự ý thức về cá tính . Nhà thơ Đức Heinrich Hein viết một tác phẩm trữ tình có tên Song trùng  (1827), nhà văn E.T.A. Hoffmann viết cuốn tiểu thuyết ngắn liên quan đến song trùng  có tên Linh  đan của quỷ  (1815-1816), nhà văn Adelbert von Chamisso viết cuốn Câu chuyện đáng lưu ý của Peter Schlemihl (1814), chuyện kể về một người đàn ông bán cái bóng của mình cho quỷ, tác phẩm này có thể coi là một biến thể từ chủ đề song trùng. Sau này nhà văn bậc thầy của Nga Fyodor Mikhaylovich Dostoyevski đã viết một tiểu thuyết nổi tiếng cũng có tên là Kẻ song trùng (1846), tác phẩm này viết về một công chức quèn luôn  hoang tưởng về sự tồn tại của một cá nhân khác giống hệt mình.

          Tiểu thuyết Gothic, một thể loại của văn xuôi lãng mạn chiếm ưu thế trong văn học Anh vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Bối cảnh trong tiểu thuyết thường là những lâu đài hay tu viện mang kiến trúc Gothic. Tiểu thuyết Gothic nhấn mạnh sự bí ẩn và rùng rợn và tràn ngập những căn phòng ma ám, những lối đi ngầm ẩn dưới lòng đất và những bậc thang đầy bí mật. Những nhà văn Gothic quan trọng của nước Anh có Horace Walpole, tác giả cuốn Lâu đài của Otranto (1764); Clara Reeve, tác giả cuốn Vô địch đức hạnh (1777); Ann Radcliffe, tác giả cuốn Ambrosio, hay thầy tu (1796); Charles Robert Maturine, tác giả cuốn Sự trả thù tiền định (1807); và Mary Wollstonecraff Shelley, tác giả cuốn Frankenstein (1818). Charles Brockden Brown, tiểu thuyết gia chuyên nghiệp đầu tiên của Mỹ, được biết đến nhiều nhất nhà những sáng tác Gothic của ông,  Thể loại Gothic là một bộ phận của trào lưu văn học lãng mạn trong văn học Anh ngữ và cũng là sự báo hiệu cho loại tiểu thuyết bí ẩn hiện đại. Những tác giả Mỹ sau này sử dụng những yếu tố Gothic trong sáng tác có Henry James, William Faulkner và Flannery O’ Connor. Thuật ngữ Gothic cũng được sử dụng để chỉ dạng thơ  và văn xuôi kể chuyện trong đó có những yếu tố bạo lực, rùng rợn và siêu nhiên. Nhiều tác phẩm của những tiểu thuyết gia cuối thế kỷ XX như Steven King và Anne Rice cho thấy sự ảnh hưởng và và tính đại chúng của hình thức Gothic vẫn đang tiếp diễn.

       Có thể thấy rằng, văn học phương Tây thế kỷ XIX là một trong những thời kỳ thú vị và mãnh liệt nhất. Nó có  tầm quan trọng đặc biệt vì đây là kỷ nguyên  định hình, nhiều điều kiện và khuynh hướng văn học hiện đại bắt nguồn từ đó. Ở thế kỷ này, chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa tượng trưng, chủ nghĩa hiện thực đã được hình thành và phát triển rạng rỡ. Trong đó, chủ nghĩa lãng mạn được coi là coi là bước chuyển then chốt để văn học cổ điển bước sang một trang mới, những “khuôn vàng thước ngọc” bị phá bỏ để nhường chỗ cho những khuynh hướng sang tạo mới lạ đầy cuốn hút. Dư âm của văn học lãng mạn lan tỏa mạnh mẽ đến mức những tác phẩm tượng trưng và hiện thực sau này được nhiều học giả phương Tây cho rằng chúng chỉ là sự tiếp nối của văn học lãng mạn, hay nói một cách khác, chúng thuộc về  lãng mạn hậu kỳ. Những chủ đề đặc trưng của văn học lãng mạn  không chỉ làm thay đổi diện  mạo văn học thế kỷ XIX, trường ảnh hưởng của chúng vẫn tiếp tục lan tỏa và để lại dấu ấn sâu đậm trong bức tranh toàn cảnh nghệ thuật thế kỷ XX.

Hoàng Tố Mai dịch và tổng thuật

--------------------------------------------------------

Tài liệu tham khảo chính:

-Clements, Robert J, bài Chủ nghĩa lãng mạn (Romanticism) , Encarta 2009 (DVD)

-Isaiah Berlin, cuốn Những cội rễ của chủ nghĩa lãng mạn (The Roots of Romaticcism), Princeton University Press xuất bản, tái bản lần thứ 3, 2001.

-Kathryn VansPanckeren, Thời kỳ lãng mạn, 1820-1860 ( chương 3), Văn học Mỹ đại cương (Outline of American literature), United state information Agency xuất bản 1994.

- William Wordsworth và Samuel Taylor Coleridge, Lời tựa cho tập Những bài ballad trữ tình (Preface to lyrical ballads), trang web Bartleby.com

- Đặng Thị Hạnh, Lê Hồng Sâm, Văn học lãng mạn và văn học hiện thực phương Tây, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, 1985

- Phùng Văn Tửu, Lời giới thiệuTuyển tập kịch của Victor Hugo, Nxb Văn học 2002

Các tin đã đưa ngày: