Phép soi gương và nghệ thuật tâm lý của L. Tolstoi (20/06/2016)

Bài viết tìm hiểu thủ pháp soi gương - một thủ pháp sinh động, khác lạ trong nghệ thuật tâm lý. Văn hào Tolstoi ý thức rõ nét về lĩnh vực này: “Cần miêu tả xem mỗi nhân vật được phản ánh như thế nào ở những nhân vật khác”.

Văn học lãng mạn Pháp và sứ mệnh tự do (06/05/2016)

Nếu không tính đến J.-J. Rousseau như là những tia sáng đầu tiên báo hiệu cho xu hướng lãng mạn trong thời đại Ánh sáng, chủ nghĩa lãng mạn Pháp coi như được bắt đầu từ những năm 1780 và kết thúc một thế kỷ sau đó. Có lẽ hiếm trào lưu nào của thời hiện đại phương Tây mà thời gian tồn tại lâu đến thế, và dấu ấn của nó để lại vẫn còn lưu lại qua những cuộc tranh cãi sau cả hơn trăm năm.

Thế hệ nhà văn sau 1975, họ là ai? (26/04/2016)

Lịch sử văn học bao giờ cũng là cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi của các thế hệ văn học. Mỗi chặng lớn luôn có sự góp mặt của nhiều thế hệ khác nhau. Các thế hệ vừa có tiếp bước, song hành, vừa có đan xen, chuyển hóa trên hành trình văn học để kiến tạo nên hệ thẩm mỹ thời mình. Nhưng bao giờ vai trò chủ lực cũng thuộc về một thế hệ nào đó. Thế hệ ấy mới là chủ thể đích thực của chặng ấy. Phần cốt yếu của bức tranh văn học ở chặng đó được vẽ bởi ngòi bút của họ.

Tôn Quang Phiệt 1900 - 1973 (29/03/2016)

Năm 2014, Nhà xuất bản Văn học ấn hành công trình Tôn Quang Phiệt 1900 – 1973 do Tôn Gia Huyên, Chương Thâu, Tôn Thảo Miên biên soạn. Đây là công trình tập hợp khá đầy đủ các tư liệu liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp, trước tác của Tôn Quang Phiệt. Sách gồm 2 tập, 3 quyển, 2830 trang.

Văn học so sánh ở Hoa Kỳ: hướng nghiên cứu phi trung tâm (07/03/2016)

Đã có nhiều công trình ở Việt Nam giới thiệu lịch sử và xu hướng ngành văn học so sánh Hoa Kỳ. Bài viết này phân tích và miêu tả diện mạo nền văn học so sánh Hoa Kỳ đương đại từ góc độ của lí thuyết nghiên cứu di sản văn học, văn hóa các nước thực dân, thuộc địa cũ (postcolonialism).

Ngọn đèn xanh trong xứ mơ hồ (Nghĩ về Trúc Thông và cách tân thơ) (24/12/2015)

Đọc Trúc Thông, ngay từ những ngày đầu, tôi đã thấy đọng lại trong mình ba ấn tượng : LỤA, TRONG và ĐẠM. Sống cùng thơ Trúc Thông ngần ấy thời gian, lắng lại sau mỗi tập, mỗi chặng vẫn là ba dáng vẻ : LỤA, TRONG và ĐẠM. Và, đến bây giờ, sự nghiệp anh đã gần như hoàn tất, phiêu du bao cuộc vào cõi thơ ấy rồi, thấy kết lại sau cùng vẫn là ba chữ : ĐẠM, LỤA và TRONG. Thơ anh đã cho tôi hay tôi đã vay anh ba chữ quý ấy ? Tôi chưa nói với anh về chúng bao giờ. Ba bí mật. Một chùm chìa khóa. Tôi giữ cho mình để mở vào cõi nghệ thuật Trúc Thông.

Khuynh hướng tiểu thuyết - Điện ảnh trong Văn học Pháp thế kỉ XX (20/07/2015)

Tiểu thuyết Mới ( Nouveau roman ) là khuynh hướng tiên phong trong việc mở đường đến với điện ảnh vào những năm này. Và với vai trò chủ soái của mình, Alain Robbe-Grillet, cũng đồng thời đóng vai trò "phát ngôn" trong khuynh hướng tiểu thuyết điện ảnh. Chính ông là người đầu tiên trong văn học Pháp "tung" ra khái niệm tiểu thuyết-điện ảnh sau khi đã thực hiện bộ phim Hoa bất tử năm 1962.

Từ trường hợp Đoàn Minh Phượng, nghĩ về văn học chấn thương ở Việt Nam và quan điểm nghiên cứu (19/06/2015)

Tự sự chấn thương không chỉ có ý nghĩa lưu giữ những ký ức buồn đau (việc làm này không hề là vô nghĩa), mà quan trọng hơn, chúng là hành động “giải phẫu” những vết thương tinh thần quá khứ. Nghĩa là, nó cấp thêm một cách giúp con người có thể “sống qua biến cố gây chấn thương”, giúp “cơ thể” có điều kiện phục hồi. Tình hình ấy cho thấy, việc thức tỉnh nhận thức về văn học chấn thương là rất cần thiết.

Phê bình văn học dưới những thiết chế truyền thông hậu hiện đại (02/06/2015)

Phê bình văn học luôn tồn tại dưới những thiết chế (establishment), có những thiết chế nội tại (thể loại, trào lưu, ngôn ngữ…), lại có những thiết chế ngoại tại (chính trị, tôn giáo, tư tưởng…), trong khuôn khổ của bài viết, chúng tôi chỉ mới giới hạn sự khảo sát của mình trong những thiết chế truyền thông. Bởi vì, các thiết chế này đã và đang tác động mạnh mẽ, quy định diện mạo của giai đoạn phê bình văn học hậu hiện đại, cho dù chúng ta không phủ nhận tính độc lập nội tại tương đối của bộ môn. Chúng ta vẫn thường mang ít nhiều ảo tưởng về sứ mệnh của hoạt động phê bình lẫn thiên chức của nhà phê bình văn học.

Tiếp nhận ảnh hưởng để đổi mới và sáng tạo (28/04/2015)

Đọc Huyền thoại phố phường, người yêu và am hiểu văn học không thể không liên hệ tới truyện Con đầm pích (Пиковая дама) của A.S. Pushkin. Tại sao vậy?

Nguyễn Lương Ngọc và quan niệm "Thơ lập thể" (22/04/2015)

Với ba tập thơ (Từ nước - 1990, Ngày sinh lại - 1991, Lời trong lời - 1994), Nguyễn Lương Ngọc nổi lên như một gương mặt đầy cá tính của thế hệ nhà thơ Đổi mới. Đắm đuối với thơ ca, đồng thời cũng hết sức say mê hội họa và mỹ thuật, ông am hiểu khá rộng về các lĩnh vực nghệ thuật vốn có quan hệ chặt chẽ như hội họa, âm nhạc và văn học… Đây là điều kiện tích cực giúp nhà thơ sớm hình thành một quan niệm hiện đại về thơ, về hoạt động sáng tạo.

Talkshow: Thơ Lê Ngân Hằng - Từ bản thể cá nhân đến những thế giới khác (16/04/2015)

Cái tên Lê Ngân Hằng không mấy xa lạ với những độc giả yêu thơ. Bên cạnh 2 tập thơ “Xe chở mùa”, “Orient trên những vòm cây”, chị còn gây tiếng vang với tiểu thuyết thơ “Harvest – Mùa màng đọc lại nỗi đau”. Trong chương trình, khán giả sẽ được trò chuyện cùng diễn giả - nhà nghiên cứu và phê bình văn học Nguyễn Thanh Tâm, cùng được khám phá những tìm tòi, cách tân, thử nghiệm trong thơ của Lê Ngân Hằng cũng như các nhà thơ cùng thời với chị.

Món nộm văn hóa hiện nay dưới con mắt Đỗ Minh Tuấn (Đọc tiểu thuyết Thần thánh và bươm bướm) (06/04/2015)

Thần thánh và bươm bướm là tác phẩm đạt giải C trong cuộc thi tiểu thuyết lần thứ ba (2006 – 2009) do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Giải C dĩ nhiên không phải là giải cao nhưng cuốn tiểu thuyết của Đỗ Minh Tuấn lại gây được dư luận khá sôi nổi và đã nhận được những lời khen nồng nhiệt.

Phú chữ Hán, những đóng góp mới của Ngô gia cho thể loại (17/09/2014)

Nhìn chung, sau thế kỷ XV, vị trí của phú chữ Hán trên văn đàn có phần bị phú Nôm thay thế, càng về những thế kỷ sau càng có nguy cơ bị "bỏ rơi". Điều đó có phần nào như một lẽ tất yếu, bởi trong hành trình văn học trung đại, thể loại luôn có tính lịch sử, mỗi giai đoạn có một thể loại thích hợp nhất của mình. Ngay ở Trung Quốc, nơi phát sinh, phú cũng chỉ là thể loại vương giả của đời Hán, nhưng nói vậy không hẳn là các thế kỷ sau phú không có những giai tác. Thu thanh phú của Âu Dương Tu đời Tống là một ví dụ. Việt Nam trong các thế kỷ XVI, XVII phú chữ Hán ít hẳn và dường như không có tác phẩm nổi tiếng. Nhưng Ngô gia văn phái đã có công khôi phục lại vị trí của phú trên văn đàn và đem đến những vẻ đẹp mỹ cảm mới cho phú, khiến các văn nhân say mê. Sang đầu thế kỷ XIX nhiều đại gia lại tiếp tục thành công về phú, như Nguyễn Văn Siêu, Phan Thanh Giản, Nguyễn Thông, các bài phú này cũng thuộc phong cách vừa trữ tình, vừa tự sự, vừa nghị luận văn chương. Có phải chính Ngô gia đã khởi xướng, góp phần tạo nên một phong cách mới của phú thời cận đại?

Bàn về hiệu ứng đọc lý thuyết phê bình nước ngoài: trường hợp bản dịch “Độ không của lối viết” (11/09/2014)

Bài viết xuất phát từ những phân tích đối chiếu văn bản, giữa bản tiếng Pháp và bản tiếng Việt, nhằm nêu ra một giả thiết về hiệu ứng cách đọc mà văn bản lý thuyết của Barthes tác động lên mô hình lý luận văn học Việt Nam giai đoạn những năm chín mươi của thế kỷ trước. Nó cho thấy phần nào cách thức phản ứng của người đọc Việt Nam trước những yếu tố mới mẻ cần thiết cho sự cách tân, đổi mới.

Dấu ấn phê bình văn học phương Tây trong văn học sử miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 (16/07/2014)

Nhiều cuộc hội thảo về văn học sử (vào các năm 1984, 2001…) đã được tiến hành nhằm “xây dựng một bộ lịch sử văn học Việt Nam hoàn thiện, có chất lượng khoa học cao và có giá trị chuẩn mực”(1). Để có được một bộ văn học sử như vậy, chúng ta không những phải tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm của các nước trên thế giới mà còn phải nhìn lại những kinh nghiệm đã tích luỹ được trong những bộ văn học sử Việt Nam trước đây. Giai đoạn 1954-1975, trong hoàn cảnh hai miền chia cắt, văn học miền Nam đã mang những đặc thù phong cách của văn học vùng miền. Ngành nghiên cứu và biên khảo văn học miền Nam đương thời đã phần nào thể hiện được hoạt động của địa phương lúc bấy giờ. Những công trình văn học sử của Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng, Phạm Văn Diêu, Lê Văn Siêu, Đỗ Khánh Hoan, Nguyễn Hữu Lợi… mang đến những cách nhìn nhận, lí giải và phương pháp tiến hành rất đa dạng và lí thú – đặc biệt trong việc tiếp thu các thành tựu nghiên cứu lý luận phê bình phương Tây. Đây là bộ phận văn học sử có nhiều điều mới mẻ và đáng quan tâm song hầu như chưa được khai thác và tìm hiểu kĩ lưỡng. Do vậy, ở bài viết này, chúng tôi tập trung đi sâu tìm hiểu những dấu ấn của phương pháp phê bình văn học phương Tây trong các công trình văn học sử nêu trên, từ đó, đi đến một sự tổng kết, đánh giá khách quan những thành tựu cũng như những bất cập trong phương pháp viết văn học sử của các tác giả miền Nam trong tương quan so sánh với các tác giả miền Bắc viết theo quan điểm mácxít và trên cơ sở tiếp thu những thành tựu lý luận phê bình của thế giới.

Nguyên mẫu Chế Thắng Phu Nhân (19/06/2014)

Kê minh thập sách đã không có quan hệ mang tính “lệ thuộc” đến Thập điều khải tất phải là tác phẩm sáng tạo hay biên tập, sưu tập (?) của Đoàn Thị Điểm. Bà đã lấy chất liệu từ sử sách đời Trần, tổng hợp, trưng cất, khái quát thành Kê minh thập sách, những kế sách còn mãi giá trị thời sự cho đến nay, hay chỉ sưu tập, biên tập từ những tài liệu có sẵn ? Áng văn ấy Đoàn Thị Điểm nói là của cung phi Nguyễn Thị Bích Châu, nhưng điều đó có bao nhiêu phần sự thật khó mà khẳng định chắc chắn được.

Văn chương và hội họa ở Việt Nam (09/06/2014)

Quan hệ qua lại giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở Việt Nam là một đề tài nghiên cứu khoa học lớn và liên ngành, đòi hỏi tập trung nhiều lực lượng tinh nhuệ, nhiều học giả hiểu biết sâu rộng văn hoá - nghệ thuật nước ta và thế giới. Trong bài viết ngắn này chúng tôi chỉ sơ bộ đề cập đến tương quan so sánh giữa văn chương và hội họa Việt Nam dưới hai góc độ: vị trí của hai loại hình nghệ thuật này trong đời sống xã hội ở những thời đại khác nhau và những cống hiến của chúng cho kho tàng văn hoá nước nhà.

Đi tìm cổ mẫu trong văn học Việt Nam (04/06/2014)

Những điều C.G. Jung xác lập trên đây cho phép ta nghĩ rằng nền văn học của một dân tộc nào cũng dung chứa trong lòng nó ít nhiều cổ mẫu. Văn học Việt Nam không là ngoại lệ, thậm chí ở đây có thể còn nguyên một kho tàng cổ mẫu quý giá mà giới nghiên cứu chưa chạm đến bao nhiêu. Đọc lại tác phẩm văn học dân gian và văn học thành văn Việt Nam, người viết ghi nhận trong văn học Việt Nam chi chít những cổ mẫu, trong đó có những cổ mẫu chung của nhân loại và những cổ mẫu riêng của cộng đồng người Việt, thoát thai từ huyền thoại.

Cổ điệu ngâm từ không phải là một từ tập của Việt Nam (07/05/2014)

Thể loại từ đi vào đời sống cung đình là hiện tượng phổ biến ở thời Đường và đặc biệt là Ngũ đại (tiêu biểu hai tiểu vương quốc Tây Thục và Nam Đường). Tại Việt Nam, hoàn cảnh sáng tác bài từ điệu Nguyễn lang quy của Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu chứng tỏ ngay khi được tiếp thu, thể loại từ đã được ứng dụng trong đời sống cung đình. Nhưng với Cổ điệu ngâm từ thì vấn đề có thể khác, cần phải xem xét thật kĩ càng. Tại sao vậy? Đơn giản vì Cổ điệu ngâm từ không hề có dấu hiệu nào chắc chắn đảm bảo rằng nó là từ tập của Việt Nam.

Điều kiện thực tại và văn hóa của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin (17/04/2014)

Dựa trên sự phân tích hai cơ sở chính yếu là điều kiện thực tại kì diệu và cơ sở văn hóa hỗn chủng, bài viết đi sâu phân tích đặc tính phản ánh hiện thực của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin. Với một thiên nhiên rộng lớn đầy hoang vu hùng vĩ, rừng rậm bao phủ và những sông ngòi, bờ biển kéo dài, kết hợp với thực trạng chính trị đầy bạo lực và biến động, chủ nghĩa hiện thực huyền ảo Mỹ Latin đã được viết nên từ sự phản ánh một “thực tại kì diệu” (lo real maravilloso) đặc thù mang tính bản địa.

Đạm Phương với vấn đề nữ học (Giáo dục phụ nữ và trẻ em trong gia đình) (14/04/2014)

Đặt Đạm Phương, với quan niệm và sự hiện thực hóa quan niệm về giới nữ và sự nghiệp giáo dục (của) giới nữ, vào trong lịch sử vấn đề phụ nữ Việt Nam như phác thảo ở trên, dễ nhận thấy bản lĩnh văn hóa của bậc nữ lưu trước những đối kháng gay gắt của các tác nhân mới du hành vào mảnh đất Việt Nam.

Diễn ngôn về giới tính và thi pháp nhân vật (Trường hợp của Dũng trong Đoạn Tuyệt của Nhất Linh) (06/04/2014)

Nghiên cứu về giới tính có một phổ hệ rất rộng: tâm lý học, xã hội học, văn hóa học, chính trị học,... Trong nghiên cứu văn học, những diễn ngôn về giới tính giúp ta nhận thức đồng thời nhiều khía cạnh khác nhau về mối quan hệ phức tạp giữa nhà văn và đối tượng mà anh ta miêu tả, mối quan hệ giữa độc giả và tác phẩm cũng như nguyên tắc tổ chức nghệ thuật của tác phẩm.

Cười Tú Xương, một trào phúng khác (10/03/2014)

Thơ Tú Xương, như vậy, ít nhất có ba lớp diễn ngôn: trào phúng, trữ tình và triết lý. Ba chiều kích này cũng có lúc tách rời nhau, nhưng thường thì xoắn luyến lấy nhau trong một bài thơ và trong toàn bộ thơ để tạo thành một chỉnh thể, một thế giới nghệ thuật riêng biệt. Tuy vậy, nếu hình dung thơ Tú Xương là một tam diện kim tự tháp, thì dường như ở mặt nào người ta cũng thay nổi bật chất trào phúng, bởi trữ tình và triết lý ở đây bắt nguồn từ trào phúng và riêng thuộc trào phúng. Một trào - phúng - buồn! Điều này làm cho trào phúng Tú Xương khác với những người trước ông như Phạm Thái, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ… đã đành, mà khác cả với người cùng ông như Nguyễn Khuyến, những người sau ông như Tú Mỡ. Bởi, Tú Xương là người của sự thay đổi hệ hình văn hóa.

Vài suy nghĩ về tiểu thuyết tình dục chữ Hán của Việt Nam (25/02/2014)

"...hết sức hoan nghênh thành quả nghiên cứu, giới thiệu, dịch thuật tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam của nhiều nhà Hán học (...) Chỉ có dịch đầy đủ tình tiết "sex" vốn có trong truyện chữ Hán Việt Nam và truyện "sex" cổ Trung Quốc có quan hệ giao lưu, chúng ta mới đánh giá đúng được một mảng tác phẩm quan trọng trong di sản văn hóa nước nhà".

Số đỏ - Từ cái nhìn nghịch dụ Oxymoron (10/02/2014)

...trong Số đỏ, Vũ Trọng Phụng đã rất có ý thức đối sánh cái ngẫu nhiên và cái tất nhiên, định mệnh và tính cách, thật và giả... Nhà văn đặt Xuân vào trong những trang sách của mình để vừa đưa ra cách nhìn, cách đánh giá xã hội, vừa bày tỏ sự hoài nghi sâu sắc về vị trí, thân phận con người trong xã hội ấy. Dưới cái nhìn sắc sảo của nhà văn, với khả năng sử dụng những kết hợp ngôn ngữ điêu luyện, Vũ Trọng Phụng đã chứng minh quyền năng vô hạn của kí hiệu ngôn ngữ và thủ pháp ngôn ngữ trong sáng tạo. Và Số đỏ xứng đáng là minh chứng mẫu mực cho quyền năng ấy.

Ảnh hưởng và việc "tân biên" số đào hoa của Xuân tóc đỏ hay cuộc phiêu lưu của Anh bạn điển trai ở Việt Nam (30/01/2014)

xem xét việc tiếp nhận Maupassant ở Việt Nam, quốc gia thuộc khối Pháp ngữ nơi tiếng Pháp vẫn được ưa chuộng, có thể nhận thấy rằng ảnh hưởng đối với việc sáng tác tiểu thuyết vào nửa đầu thế kỷ XX là đặc biệt rõ trong tiểu thuyết Số đỏ, và tác phẩm này vô cùng giống với Anh bạn điển trai.

Định dạng hiện thực trong Số đỏ (30/01/2014)

"...với trí tưởng tượng đặc sắc và năng lực bố cục bậc thầy ở mọi cấp độ, Vũ Trọng Phụng đã khiến nhiều bạn đọc dao động giữa các chiều kích của hiện thực. Số đỏ là sự kết hợp nhuần nhuyễn đáng kinh ngạc giữa thực và hư, giữa hợp lý và phi lý, giữa cái bình thường và cái dị thường… Người đọc có cảm tưởng rằng, câu chuyện hài hước khó tin này được thôi ra từ đời sống thường ngày, từ một thực tại mà họ đang trải nghiệm từng giây, từng phút và đồng thời cũng có lúc ngờ ngợ nó tràn ngập “bịa đặt, dựng truyện”.

Tác động của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam (22/01/2014)

Cho tới nay, dù ở mức độ nhiều hay ít, cách diễn đạt thể hiện có khác nhau, có lẽ không ai phủ nhận vai trò tích cực đáng kể của lý luận văn học nước ngoài đối với lý luận văn học Việt Nam...

Văn học dịch 2013: một tương lai của đọc (22/01/2014)

Những chiến lược giới thiệu tinh hoa văn học, những bồi tụ thẩm mỹ cho bạn đọc nhỏ tuổi, cùng những bổ trợ về diễn giải văn học từ các nền văn học khác nhau trên thế giới đem đến đầu tiên là món quà tinh thần trước mắt cho những mong muốn khám phá thế giới, và về sau này là bề dày kinh nghiệm cho những tham vọng khám phá nghệ thuật. Dẫu rằng con đường còn xa ngái ở phía trước...

Vấn đề chủ thể phát ngôn của Vũ Trọng Phụng (16/01/2014)

"...sự thay đổi cả một cách nhìn và cách thể hiện nghệ thuật tiểu thuyết khác. Gắn với sự thay đổi này là sự xuất hiện của vấn đề chủ thể phát ngôn trong văn bản Vũ Trọng Phụng. Mở rộng ra nữa, dường như toàn bộ sự nghiệp của Vũ Trọng Phụng nằm ở thử thách thay đổi chiều kích ngôn từ trong văn chương".

Từ Nymphet đến Lolita – Hành trình đi tìm chất Nga trong Lolita của Nabokov (23/12/2013)

Nabokov đã đặt cho nhân vật của mình một danh xưng vừa lạ vừa quen, vừa gợi không khí huyền thoại nhưng cũng vô cùng hiện đại. Tiểu nữ thần Lolita, rõ ràng là một ẩn số sáng tạo của nhà văn Mỹ gốc Nga. Lí giải được những lí do lựa chọn cái tên này, chắc chắn chúng ta sẽ có thêm một chiếc chìa khóa để mở thêm một cánh cửa trong mê cung nghệ thuật của nhà văn.

Hoa viên kỳ ngộ tập – Gốc gác và sáng tân (23/12/2013)

Hoa viên kì ngộ tập là tác phẩm viết dưới ảnh hưởng của bộ tiểu thuyết Quốc sắc thiên hương thời Minh, trong đó ảnh hưởng của Lưu sinh mịch liên kí và Tầm Phương nhã tập là lớn nhất. Lưu sinh mịch liên kí chỉ ảnh hưởng tới Hoa viên kì ngộ tập ở một số tình tiết lẻ tẻ. Tác phẩm chính yếu mà tác giả Hoa viên kì ngộ tập dựa vào là Tầm Phương nhã tập. Song tuy bị ảnh hưởng sâu nặng bởi Tầm phương nhã tập nhưng Hoa viên kì ngộ tập không phải là sự tiếp thu y nguyên, toàn bộ mà chỉ là tiếp thu một bộ phận căn bản, cốt tủy của tác phẩm gốc, rồi tổ chức lại cốt truyện, cách tân theo hướng Việt hóa, giản hóa và nhã hóa... Kết quả là đã tạo tác ra một tác phẩm mới có dáng dấp Việt Nam với cốt truyện gọn nhẹ và mạch lạc, nhân vật được tinh giản, yếu tố sắc dục tuy vẫn đậm đặc nhưng đã được nhã hóa bởi yếu tố tài tử giai nhân, khiến truyện đôi chỗ miêu tả dục tình một cách bạo dạn, lộ liễu mà không gợi lên cho người đọc cảm giác tục tĩu, thô bỉ. Trên căn bản, sự tiếp nhận và sáng tân của tác giả Hoa viên kì ngộ tập khiến cho tác phẩm tuy là “viết lại” nhưng nhiều chỗ đã vượt lên một tầm cao mới so với tác phẩm gốc

Trí thức văn nghệ sĩ Sài Gòn trước 1975 với Vũ Trọng Phụng (05/09/2013)

Nét đẹp của nhân cách Vũ Trọng Phụng còn là ở chỗ, dù bị sự nghèo túng ghì sát đất nhưng ông vẫn sống trong sạch, thanh cao, không để các ông chủ kinh doanh chữ nghĩa coi thường, xúc phạm. Với những tay chủ xuất bản keo kiệt, nhập nhằng việc thanh toán nhuận bút, Vũ Trọng Phụng đòi ráo riết, thậm chí khi cần ông đã giáng đòn sâu cay, ê ẩm (Nguyễn Vỹ - Văn thi sĩ tiền chiến).

Lý thuyết và phê bình nữ quyền: từ phê bình xã hội đến phân tích diễn ngôn (04/09/2013)

Cho đến đầu thế kỷ XXI, ở Mỹ, nền học thuật, phê bình và lý thuyết văn học nữ quyền đã làm thành một bộ phận của hệ thống tri thức được sản sinh trong lĩnh vực nghiên cứu nữ quyền.

Cuộc trò chuyện giữa "Tôi" với Dorval (04/09/2013)

Chỉ còn ít thời gian nữa là tròn ba trăm năm ngày sinh nhà văn, triết gia Pháp danh tiếng Denis Diderot (5.X.1713 - 31.VII.1784)...Diderot nổi danh là kiến trúc sư chính lãnh đạo biên soạn bộ Bách khoa toàn thư (Encyclopédie), một công trình đồ sộ gồm 28 tập khổ lớn với sự tham gia của trên một trăm bốn mươi triết gia, nhà khoa học, nhà văn… của thời đại, hoàn thành trong gần một phần tư thế kỷ từ khi bắt đầu khởi công cuối năm 1747 cho đến năm 1771 xuất bản tập cuối cùng, một công trình có ý nghĩa to lớn mang hơi thở cách mạng của thời đại bấy giờ.

Phương thức huyền thoại trong sáng tạo văn học (04/09/2013)

Mối quan hệ giữa huyền thoại và văn học diễn ra trên nhiều bình diện khác nhau. Có những huyền thoại xưa giầu tính chất văn chương, đóng góp vào kho tàng văn học dân gian vô cùng phong phú của nhân loại. Bài viết này không đi vào nghiên cứu giá trị văn chương của các huyền thoại xưa, lâu nay vẫn quen gọi là thần thoại.

Đạm Phương với vấn đề nữ học: Giáo dục phụ nữ và trẻ em trong gia đình (04/09/2013)

Tiểu luận này không có tham vọng bao quát sự nghiệp đồ sộ ấy, chỉ đi vào một hạt nhân quán xuyến tư tưởng và hành động của Đạm Phương, là vấn đề nữ học, từ quan niệm giáo dục, các lĩnh vực giáo dục đến thực tiễn hoạt động giáo dục phụ nữ ấy, ngõ hầu có thể chỉ ra đóng góp và vị trí của Đạm Phương trong lịch sử tiếp cận vấn đề nữ tính và nữ quyền ở nước ta ở những bước khởi đầu của nó.

Thi pháp học hiện đại trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam thế kỷ XX (14/08/2013)

Thi pháp học không phải là hướng nghiên cứu văn học duy nhất trong thời gian qua, nhưng phải thừa nhận nó là hiện tượng nổi bật nhất. Các hướng nghiên cứu phân tâm học, văn học so sánh, xã hội học, văn hoá học, tuy có một số thành tựu rất đáng kể, vẫn chưa được đẩy tới thành những trường phái nghiên cứu hấp dẫn rộng rãi những người nghiên cứu.

“Lửa từ bi” trên hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương (12/08/2013)

Dõi theo hành trình thơ của Vũ Hoàng Chương ta thấy có nhiều thay đổi, trong đó có khúc quanh quan trọng là việc cho ra đời tập thơ Lửa từ bi– một tập thơ được viết ra từ ánh sáng ngọn lửa tự thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức trong cuộc đấu tranh vì tự do, hòa bình, vì Phật pháp và vì dân tộc.

Sự thẩm thấu của một số mô hình tiểu thuyết phương Tây vào thực tế văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX (12/08/2013)

Những quan hệ giao lưu, tiếp biến văn hóa vốn là một quá trình phức tạp về bản chất. Bởi vậy, để khảo sát những quá trình này, cần có sự thay đổi về phương pháp luận mà quan trọng hơn cả, cần nhận thức lại về vai trò tích cực và chủ động của chủ thể tiếp nhận: nền văn hóa – văn học Việt Nam. Chúng ta thừa nhận rằng chiều tác động từ bên ngoài vào nền văn hóa bản địa là hiện thực. Tuy nhiên, yếu tố quyết định sự tiếp nhận những tác động đó lại chính là đặc điểm, tính chất, những nhu cầu và định hướng phát triển của cái bản địa- nói cách khác, “cơ địa” của chủ thể tiếp nhận. Và ngay trong sự tiếp nhận của chủ thể tiếp nhận cũng có một quá trình lựa chọn và chuyển hóa những yếu tố ngoại lai. Chính vì lý do trên, chúng tôi sẽ lựa chọn một cách thức khác để bàn về những quan hệ giao lưu văn học Việt Nam- phương Tây đầu thế kỷ XX: xuất phát từ chủ thể tiếp nhận- văn học Việt Nam. Phạm vi quá rộng cũng như tính phức tạp quá lớn của vấn đề khiến chúng tôi chỉ giới hạn trong một thể loại của tự sự nghệ thuật: tiểu thuyết và một kênh giao tiếp nhất định: văn học dịch. Giới hạn cũng được dừng ở ba mươi năm đầu thế kỷ XX, thời kỳ sơ khởi, đặt nền móng cho sự phát triển của văn học Việt nam trong những giai đoạn tiếp theo.

Đọc Lịch sử lí luận, phê bình văn học Việt Nam, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2013 (01/08/2013)

Lí luận, phê bình văn học là những hiện tượng lịch sử. Điều đó nói lên đặc tính quá trình gắn với sinh thành, biến đổi và du hành qua không - thời gian. Đến nay đã có một số công trình, bài viết mô tả từng giai đoạn, thời kì của lí luận, phê bình văn học dân tộc, nhưng cuốn sách Lịch sử lí luận, phê bình văn học Việt Nam do PGS. TS Trịnh Bá Đĩnh cùng các đồng sự của ông tại phòng Lí luận văn học, Viện Văn học biên soạn là công trình đầu tiên nghiên cứu lí luận, phê bình văn học Việt Nam từ khởi thủy đến hiện tại. Lịch sử lí luận, phê bình văn học dân tộc được xem như sự thay thế nhau của các quan niệm văn học và các phương pháp tiếp cận văn học thông qua những tác gia tiêu biểu. Đây rõ ràng là cách nhìn mới của các tác giả.

Văn thư ngoại giao thời Trần: Nội dung và nghệ thuật (17/07/2013)

Qua các văn thơ ngoại giao có thể thấy đường lối ngoại giao của nhà Trần hết sức uyển chuyển và linh hoạt, thâm trầm mà kín kẽ, lời văn sáng gọn, sắc bén, giọng điệu nhún nhường, mềm dẻo mà lý lẽ vững vàng, đáng làm khuôn mẫu cho các đời sau noi theo, xứng đáng gọi là “từ hàn khôn khéo”

Thời gian đồng hiện trong truyện ngắn "Mua cần câu cho tôi" của Cao Hành Kiện (11/07/2013)

Trong "Mua cần câu cho ông tôi", Cao Hành Kiện đã sử dụng mô thức thời gian đồng hiện như một công cụ nghệ thuật hữu hiệu nhằm đi đến tận cùng, đánh thức và làm sống dậy những kí ức, hoài niệm quá khứ trong vai trò người kể chuyện...

Một vài vấn đề phân kỳ lịch sử văn học nhìn từ điểm đầu của thế kỉ XXI (11/07/2013)

Phân kỳ lịch sử văn học bao giờ cũng là một vấn đề có sức hấp dẫn đối với người viết văn học sử, bởi đó là cái chìa khóa then chốt để có thể nhận diện văn học như sự nối tiếp của nhiều tiến trình. Ở điểm bắt đầu của thế kỷ XXI này, chắc có lẽ người nghiên cứu văn học nào cũng muốn nhìn lại, muốn có một sự hình dung tổng quát về các bước đường đã qua của văn học Việt Nam trong vòng 11 thế kỷ, chí ít là trong một thế kỷ vừa mới kết thúc, để dự liệu bước đi của nó trong thế kỷ đang tới.

Người kể chuyện trong tiểu thuyết "Bọn làm bạc giả" của A.Gide (11/07/2013)

Tiểu thuyết "Bọn làm bạc giả" không hề giống với những tác phẩm trước đó. A. Gide đã cố ý gọi đó là "cuốn tiểu thuyết duy nhất" vì nó chứa đựng những suy nghĩ trăn trở, những tìm tòi đổi mới của ông trong tiểu thuyết...

Cấu trúc tự sự "Kafka bên bờ biển" theo cách nhìn phân tâm học (11/07/2013)

Tiểu thuyết "Kafka bên bờ biển" của H. Mukarami, từ góc độ cấu trúc tự sự và kết cấu nhân vật, với những đặc điểm rất riêng có thể được soi sáng bằng lý thuyết phân tâm học...

"Phiên chợ Giát" từ góc nhìn hiện đại (11/07/2013)

Góc nhìn tự sự học so sánh hai điểm khởi đầu và kết thúc văn bản truyện kể soi sáng một góc nhìn rất phụ của nghiên cứu văn chương nói chung, và của tác phẩm ("Phiên chợ Giát") trong sự nghiệp văn chương của Nguyễn Minh Châu nói riêng...

Về lịch sử phê bình văn học Việt Nam (08/07/2013)

Gần đây, khoa học văn học Việt Nam dành nhiều sự chú ý tới sử văn học. Nhu yếu nhận thức và nhận thức lại lịch sử hình như là nguồn cội cho sự phát triển của bộ phận này, làm thành thành tựu của nó, bên cạnh việc tiếp tục giới thiệu lí thuyết văn học nước ngoài và thực hành phê bình (từ sự du hành của các lí thuyết ấy)...

Thi học so sánh (17/06/2013)

Việc so sánh thi học ở đây được triển khai trên bối cảnh rộng lớn cổ kim Đông Tây, nghĩa là bao gồm cả những khu vực và giai đoạn mà lý luận văn học chưa hình thành một cách tương đối hoàn chỉnh có hệ thống...

Từ hình tượng cây chuối (ba tiêu) trong thơ ca cổ điển Trung Hoa nghĩ về bài "Cây chuối" của Nguyễn Trãi (17/06/2013)

Bài viết này không trực diện phân tích bài Cây chuối của Nguyễn Trãi, cũng không nhằm trao đổi chi tiết về những ý kiến còn rất khác nhau từ trước tới nay mà chủ yếu là cung cấp một số tư liệu tiêu biểu có liên quan trong thơ ca cổ điển Trung Hoa có thể dùng để tham khảo, đối chứng khi lý giải một vài vấn đề có tính chất then chốt của tác phẩm.

Trần Đình Hượu với việc phân loại ba mẫu nhà nho trong văn học Việt Nam trung đại (05/06/2013)

(...) có ba dạng kết hợp của những mẫu nhà nho là: hành đạo - ẩn dật như trường hợp Nguyễn Trãi, ẩn dật - tài tử như trường hợp Phạm Thái và hành đạo - tài tử như trường hợp Nguyễn Công Trứ, mà khó có thể có kiểu kết hợp cùng lúc cả ba phẩm chất, ba dạng thức tồn tại, ba cách hành xử trong một con người.

Suy nghĩ về vai trò của văn học dân gian trong văn học Đông Nam Á lục địa (27/05/2013)

Nền văn học khu vực Đông Nam Á rất khác các nền văn học phương Tây, Trung Quốc và Ấn Độ. Trong nền văn học này, văn học dân gian đóng một vai trò chủ đạo và vẫn tồn tại dưới những hình thức, những thể loại có thể vay mượn ở các nền văn học khác. Do đó, việc nghiên cứu nền văn học của khu vực này cần phải được chú ý tới văn học dân gian để tránh cách nhìn Âu châu luận.

Sự đan xen các khuynh hướng thẩm mỹ trong thơ Huyền Quang (Nghiên cứu trường hợp sáu bài thơ vịnh cúc) (22/05/2013)

Huyền Quang ( 1254-1334 ) hiện còn để lại một di sản văn chương vào loại khiêm tốn, với một bài phú Nôm Vịnh Hoa Yên tự phú và vài chục bài thơ chữ Hán, nhưng nếu nhìn trong tương quan với phần nhiều các tác gia thời kỳ Lý Trần thường chỉ còn lại vài ba bài, thì đó lại là một gia tài không nhỏ. Trong số 23 bài thơ chữ Hán, người viết đặc biệt hứng thú, quan tâm tới một chùm thơ vịnh hoa cúc gồm 6 bài.

Mấy nhận thức về phê bình văn học (06/05/2013)

Được dân chủ hoá đến cùng và được đặt trên cơ sở khoa học nghiêm túc, phê bình văn học sẽ thực sự trở thành trường đua của các trí tuệ và các khiếu thẩm mỹ, nơi không có chỗ cho những tiếng nói quyền uy, hay cho những ý đồ ban phát ân huệ hoặc rửa những mối thù cá nhân. Chức năng cơ bản của phê bình văn học - xác lập những giá trị thẩm mỹ và xúc tác cho sự ra đời những giá trị mới - sẽ được thực hiện ngày một tốt hơn.

Các khuynh hướng phản tự nhiên chủ nghĩa trong văn học Nhật Bản đầu thế kỷ XX (14/04/2013)

Với sự phân hóa thành nhiều tiểu phái được hậu thuẫn bởi các tạp chí theo các tôn chỉ khác nhau, với sự hỗ trợ của nhiều đại học, phản tự nhiên trở thành trào lưu với nhiều tác gia và nhiều thành tựu nhất, đồng thời cũng phức tạp nhất trong lịch sử văn học cận-hiện đại Nhật Bản.

Tiếp nhận Khái Hưng ở miền Nam trước 1975 (11/04/2013)

Khái Hưng (1896-1947) là một trong những nhà văn trụ cột của Tự lực văn đoàn. Cùng với một vài nhà văn chủ chốt trong Tự lực văn đoàn như Nhất Linh, Thạch Lam, Xuân Diệu, Khái Hưng được tiếp nhận ở miền Nam từ khá sớm. Trong bài viết này, chúng tôi xin lược thuật và lược bàn về sự tiếp nhận tác phẩm của Khái Hưng. Đối tượng tiếp nhận ở đây là các nhà nghiên cứu, phê bình, các trí thức văn nghệ chứ không phải công chúng độc giả phổ thông mà theo chúng tôi, là bộ phận hết sức quan trọng trong lịch sử tiếp nhận cần được khảo sát riêng trong một công trình độc lập. Ngoài ra, danh từ Miền Nam xin được hiểu là không chỉ bó hẹp vào khoảng giai đoạn 1954-1975 mà rộng ra là phương Nam của tổ quốc (bao gồm cả giai đoạn từ năm 1932 đến 1945 - vốn được định danh là Nam Bộ).

Lời giới thiệu Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (10/04/2013)

Công trình Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký sưu tập các bài viết của học giả Phạm Quỳnh thuộc phạm vi thể tài du ký… Giới hạn phạm vi sưu tập, tuyển chọn là các bài viết của Phạm Quỳnh trên Nam phong Tạp chí qua suốt 17 năm tồn tại (1917-1934)…

Mấy công trình Lý luận văn học xuất bản ở Nga 5 năm gần đây (09/04/2013)

... Sau những biến đổi căn bản trong xã hội, ảnh hưởng đó ít nhiều bị phai nhạt vào thập niên cuối của thế kỉ XX. Nhưng bên cạnh một số tín niệm và khái quát lí luận đã bị vượt qua, những gì thật sự là giá trị của lí luận văn học Xô-viết vẫn tiếp tục được đón lấy, kế thừa và cải biến để cùng đồng hành với trí thức Nga trong thế kỉ XXI.

Thơ và Phê bình Thơ (09/04/2013)

... Nếu thơ đang trong một cuộc tìm, thì phê bình thơ, dẫu là đi sau hoặc đi trước, vẫn phải sao cho hội được vào cuộc tìm kiếm đó.

Những giới hạn của phê bình văn học (09/04/2013)

... Một xã hội có văn hóa và dân chủ là một xã hội biết nghe nhiều ý kiến khác nhau về mọi vấn đề, xã hội đó không thể chấp nhận những nhà phê bình văn học kém cỏi về học vấn và trí trá về nhân cách.

Tự sự học Pháp: Ngữ pháp "Chuyện mười ngày" (01/04/2013)

Năm 1969, Tzvetan Todorov đã viết một cuốn sách mà khi nghiên cứu tự sự học, hầu như ai cũng phải nhắc đến, đó là cuốn Ngữ pháp “Truyện mười ngày"...

Tư tưởng tự sự học Nga: lịch sử và triển vọng (01/04/2013)

Bài viết giới thiệu lý thuyết tự sự của các trường phái và các học giả chủ chốt trong lịch sử hình thành và phát triển của tư tưởng tự sự học Nga không phải chỉ để khẳng định ý nghĩa lịch sử của những tư tưởng này, mà còn mong muốn xác lập triển vọng của tự sự học Nga trong bối cảnh hội nhập với văn hóa thế giới.

Dorrit Cohn và những kỹ thuật tự sự cơ bản (01/04/2013)

Dorrit Cohn, Giáo sư văn học của Đại học Harvard, được coi là một trong những người sáng lập ra thi pháp đương đại và là tác giả của hàng loạt bài báo về tự sự học. Qua các công trình này, Dorrit Cohn thể hiện mối quan tâm lớn nhất của mình là các kĩ thuật phác hoạ đời sống tinh thần của các nhân vật trong tiểu thuyết dòng ý thức và các thể loại hư cấu khác.

Phân tâm học trong tiểu thuyết đô thị miền Nam: Trường hợp Thanh Tâm Tuyền (19/03/2013)

...có thể coi là nhà văn có mối quan tâm đặc biệt đến phân tâm học, cùng với chủ nghĩa hiện sinh (vốn có ảnh hưởng khá sâu rộng ở miền Nam), và chủ động kết hợp hai nguồn ảnh hưởng này để thiết tạo quan niệm nghệ thuật, phổ vào trong các sáng tác, nhất là tiểu thuyết (Đoàn Ánh Dương)