Thuyết trình khoa học: “Kịch sinh thái Đông Nam Á - từ di sản của cụ Rùa đến vấn đề công bằng môi trường”
Sáng ngày 28/7/2026, tại Viện Văn học đã diễn ra buổi Thuyết trình khoa học: “Kịch sinh thái Đông Nam Á - từ di sản của cụ Rùa đến vấn đề công bằng môi trường” với diễn giả là GS. Catherine Diamond (Đại học Soochow) và sự chủ trì, điều phối chương trình của TS. Nguyễn Thị Thanh Nga (Phó Viện trưởng Viện Văn học). 

Đến dự, trao đổi, đối thoại học thuật tại buổi thuyết trình có TS. Nguyễn Huy Bỉnh (Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học), PGS.TS. Phạm Phương Chi (Trưởng phòng Văn học nước ngoài, Thư kí Hội đồng khoa học Viện Văn học), các nhà nghiên cứu trong và ngoài viện, các nghệ sĩ thực hành nghệ thuật đương đại, sinh viên tại các trường đại học, cùng những người quan tâm đến vấn đề môi trường trong văn học và nghệ thuật.

Anh-tin-bai
Quang cảnh Hội trường buổi thuyết trình
Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Huy Bỉnh (Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học) trao đổi với diễn giả tại buổi thuyết trình
Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Thị Thanh Nga (Phó Viện trưởng Viện Văn học) chủ trì, điều phối thuyết trình và trao đổi với diễn giả

Bắt nối từ truyền thuyết cụ Rùa và sự kính ngưỡng đối với cụ Rùa, diễn giả Catherine Diamond đặt vấn đề về giá trị của truyền thuyết và truyện dân gian trong việc xây dựng một thái độ trân trọng ở khán giả đối với môi trường cũng như với các sinh thể tự nhiên. Từ đó, bà tập trung phân tích cách các truyền thuyết dân gian Đông Nam Á được đưa vào kịch và sân khấu đương đại để nhắc nhở người xem về giá trị của thiên nhiên và giá trị tri thức những cộng đồng bản địa.

Anh-tin-bai
GS. Catherine Diamond thuyết trình

Bài giảng của bà, trước hết, mang đến một góc nhìn toàn diện về sự hình thành, phát triển và những thách thức của “Kịch sinh thái” (Ecotheatre) tại Đông Nam Á. Trên thế giới, nền móng của kịch sinh thái đã xuất hiện qua các vở diễn nổi tiếng như “An Enemy of the People” (1882) của Henrik Ibsen, lên án việc làm ô nhiễm suối nước nóng; hay “Dã nhân” (1985) của Cao Hành Kiện, chỉ trích nạn chặt phá rừng. Tuy nhiên, sân khấu sinh thái Đông Nam Á mang một bản sắc đặc thù, bắt nguồn sâu xa từ tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tôn giáo đa thần và sự tôn kính tuyệt đối trước sức mạnh của thiên nhiên. Trong nền văn hóa nghệ thuật truyền thống của khu vực này, ranh giới giữa con người và thế giới phi nhân vô cùng linh hoạt, cho phép sự biến hóa và giao cảm sâu sắc giữa loài người và động vật.

Anh-tin-bai
Một slide thuyết trình với hình ảnh cô gái cầm tấm biển bán đất cuối vở kịch

Theo GS Diamond, thực trạng kịch sinh thái tại Đông Nam Á cho thấy một khoảng cách lớn về định hướng và mục đích giữa khu vực đô thị và nông thôn. Tại các đô thị, nghệ thuật sinh thái thường là tác phẩm của các nghệ sĩ (hoặc nhóm nghệ sĩ) độc lập nhằm phục vụ tầng lớp trung lưu và học sinh. Chủ đề chính thường xoay quanh việc phê phán chủ nghĩa tư bản, thói quen tiêu dùng, và các vấn nạn toàn cầu; và chỉ chủ yếu xoay quanh những vấn đề cụ thể như rác thải nhựa hay ô nhiễm không khí. Tuy nhiên, góc nhìn này đôi khi xung đột với hệ giá trị văn hóa địa phương. Điển hình tại Malaysia, vở kịch sinh thái “Trees” (1997) kể về người phụ nữ đứng lên bảo vệ rừng cây khỏi dự án thuỷ điện bị đánh giá là quá bi lụy, giữ cái nhìn phân định Thiện/Ác hời hợt và không giải quyết được nhu cầu sinh hoạt thực tế của dân làng. Ngược lại, ở các vùng nông thôn, kịch sinh thái mang tính chất “sống còn”. Các buổi diễn thường do chính những cộng đồng đang trực tiếp gánh chịu hậu quả từ các dự án đập thủy điện, khai khoáng hay đồn điền tự sáng tác và tự diễn. Nghệ thuật đối với họ không chỉ là một phương thức lên tiếng sự bất bình để bảo vệ “Công lý Môi trường”, bảo vệ sinh kế con người khi tự nhiên bị tàn phá, mà còn là một liệu pháp chữa lành vết thương chung, khôi phục niềm tự hào và ý thức tự chủ.

Anh-tin-bai
Ma trận 4 yếu tố: trục ngang là “thammachart” (vũ trụ quan truyền thống bao hàm niềm tin và sự kính ngưỡng đối với thần linh, với tự nhiên) và “niwet” (quan điểm sinh thái theo khoa học phương Tây); trục dọc là “lakhon” (kịch tự sự truyền thống) và “kaan sa-daeng” (trình diễn ý niệm phi cốt truyện)

Bài giảng cũng đi vào các nghiên cứu trường hợp như các tác phẩm kịch sinh thái ở Thái Lan, Indonesia, và Việt Nam. Để hệ thống hóa kịch sinh thái Thái Lan, bà sử dụng một ma trận 4 yếu tố: trục ngang là “thammachart” (vũ trụ quan truyền thống bao hàm niềm tin và sự kính ngưỡng đối với thần linh, với tự nhiên) và “niwet” (quan điểm sinh thái theo khoa học phương Tây); trục dọc là “lakhon” (kịch tự sự truyền thống) và “kaan sa-daeng” (trình diễn ý niệm phi cốt truyện). Chẳng hạn, góc nhìn khoa học (niwet) về ô nhiễm rác thải nhựa đã được truyền tải sáng tạo qua các vở múa rối (như vở “Cá mập đau bụng” với đạo cụ làm từ rác nhựa thu gom ở bãi biển, hay kịch múa bóng “The Settlers”). Để đối phó với tình trạng ô nhiễm không khí trầm trọng do đốt tàn dư nông nghiệp khiến Chiang Mai trở thành nơi có bụi mịn PM 2.5 cao nhất thế giới, Kitti Mechaikhett đã sáng tác vở kịch tài liệu “Không khí chúng ta hít thở” (2023). Tác phẩm này thu thập dữ liệu thực tế từ mọi tầng lớp và tạo ra một diễn đàn trực tiếp, đóng góp to lớn vào việc hình thành Dự luật Không khí Sạch…

Tại Indonesia, kịch sinh thái chịu ảnh hưởng sâu sắc từ sự khởi xướng của giáo sư Sardono W. Kusumo, đặc biệt là qua vở “Rừng nhựa” (1983), kể về trường hợp những người dân bản địa phản đối nạn khai thác gỗ lậu ở Borneo.

Anh-tin-bai
Khán giả trao đổi
Anh-tin-bai
ThS Thanh Mai phiên dịch
Anh-tin-bai
ThS. Đặng Thị Thái Hà và diễn giả

Anh-tin-bai
ThS. Nguyễn Thị Kim Nhạn (Viện Văn học) trao đổi tại buổi thuyết trình
Anh-tin-bai
PGS.TS. Phạm Phương Chi (Viện Văn học) trao đổi

Tại Việt Nam, dẫu các tác phẩm kịch sinh thái chưa xuất hiện nhiều, vở diễn “Hồ Nguyệt Cô hóa người” (2017) do các sinh viên cải lương biểu diễn đã tạo nên một dấu ấn đột phá. Vở kịch phá vỡ thế giới quan vũ trụ (thammachart) xa xưa khi từ chối quan niệm coi con người là trung tâm vốn cho rằng loài vật nào cũng khát khao dùng thiền định để thành người. Thay vào đó, tác phẩm áp dụng góc nhìn khoa học sinh thái (niwet): Cáo Hồ Nguyệt Cô chỉ chấp nhận hóa thành người theo lời thỉnh cầu của Cụ Rùa nhằm cứu vãn các loài động vật khác khỏi nguy cơ tuyệt chủng do lòng tham của con người. Trong hình hài con người, nàng hóa thân thành một nhà hoạt động môi trường hiện đại. Nàng gặp gỡ Lý Tinh, một kiểm lâm đang hợp tác với WWF (Tổ chức bảo vệ động vật hoang dã) tìm kiếm loài tê giác Java đã tuyệt chủng. Sau đó, nàng bí mật tiếp cận và quyến rũ kẻ buôn lậu động vật Tiết Giao. Khi Tiết Giao giả ốm để lừa lấy Viên ngọc quý nhằm tước đoạt phép thuật của nàng và chồng nàng là Hồ Tĩnh, nàng kiên quyết từ chối. Nàng chỉ đồng ý trao ngọc khi hắn tự tìm thấy phần “người” lương thiện trong chính mình. Cuối cùng, nàng từ chối thế giới loài người đầy rẫy sự tàn nhẫn, mãn nguyện với việc được trở về với hình hài loài cáo vốn là bản lai diện mục của chính mình. Tác phẩm đã áp dụng xuất sắc góc nhìn sinh thái học để phê phán gay gắt nạn săn trộm, đồng thời khẳng định thông điệp sâu sắc: muôn loài có quyền được sống tự do là chính mình mà không bị con người can thiệp hay định đoạt.

Kết thúc bài giảng, GS. Diamond bày tỏ một khát vọng lớn lao cho tương lai của sân khấu nghệ thuật khu vực. Bà mong muốn rằng trong tương lai, thuật ngữ “kịch sinh thái” chuyên biệt sẽ dần biến mất. Thay vào đó, thông điệp về ý thức bảo vệ thiên nhiên và môi trường sẽ len lỏi, hòa quyện một cách tự nhiên vào mọi vở kịch, bất kể chủ đề trung tâm của mỗi vở là gì. Bà kỳ vọng sự hiện diện của thiên nhiên trên sân khấu sẽ trở thành một hơi thở thường nhật, nhắc nhở con người luôn đặt môi trường làm trung tâm trong mọi tư duy và hành động.

Tin: Thái Hà - Ảnh: Việt Hà
Nguồn bài viết: Viện Văn học
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1