• Những vấn đề tranh luận trong lý luận phê bình văn học Trung Quốc thời kỳ đổi mới

    Bước vào thời kỳ mới, theo đà giải phóng tư tưởng, sáng tác văn học phồn vinh, dưới sự ảnh hưởng của các tư trào văn hóa (văn học) và lý luận phê bình của nước ngoài, giới phê bình lý luận Trung Quốc ra sức trao đổi tìm tòi các vấn đề lý luận văn học: nhận thức lại, đánh giá lại những quan điểm lý luận trước đây; nghiên cứu vấn đề mới nẩy sinh trong sự phát triển văn học trước mắt. Bài viết trình bày một số vấn đề lý luận phê bình văn học Trung Quốc thời kỳ Đổi mới.

  • Nguyên lý thơ

    Bàn về Nguyên lý Thơ, tôi không có ý định đề cập thật sâu xa, thấu đáo. Bàn luận, rất chi là ngẫu hứng thôi, về yếu tính của Thơ. Lúc thảo luận, rất nhiều ngẫu hứng, điều chủ yếu về cái chúng ta gọi là Thơ, mục đích chính của tôi chẳng qua là dẫn ra để xem xét một số bài thơ ngắn của Anh và Mỹ, những thứ phù hợp nhất với thị hiếu của tôi, hay những thứ, đã để lại ấn tượng rõ rệt nhất lên trí tưởng tượng của tôi.

  • Các khái niệm cơ bản về Xã hội học văn hóa của Pierre Bourdieu

    Cuối thế kỷ trước, lý luận phê bình văn nghệ phương Tây chuyển hướng mạnh mẽ sang nghiên cứu văn hóa, mà một trong những người tiêu biểu nhất là học giả Pháp P. Bourdieu (1930-2002). Tuy cùng tuổi, nhưng ông vốn là thầy của J. Derrida đã sớm nổi tiếng từ những năm 60, song tên tuổi của P. Bourdieu với tư cách là Viện sĩ Hàn lâm Pháp mãi đến những năm 70, mới chói sáng trong giới khoa học xã hội và nhân văn Âu Mỹ .Trước tác chính của ông lên đến số ba mươi: Cương yếu lý luận thực tiễn (1972), Lôgic của thực tiễn (1982), Lý thuyết phản tỉnh xã hội học (1982), Giao lưu tự do (1993), v.v... Có thể nói ông là nhà bách khoa đã tiếp cận liên ngành qua nhiều lĩnh vực như nhân loại học, xã hội học, triết học, chính trị học, sử học, giáo dục học, mỹ học, ngôn ngữ học, v.v... Và nếu trên một ý nghĩa nhất định, văn hóa là những thành tựu và giá trị về mọi mặt của xã hội do con người sáng tạo nên, thì P. Bourdieu có nhiều điều kiện để nghiên cứu văn hóa học. Tất nhiên ở đây không thể đề cập đến toà

  • Các cấu trúc diễn ngôn

    Diễn ngôn như một tổng thể bao hàm các diễn ngôn bị quy định. Các quy luật và cấu trúc của diễn ngôn không khởi phát từ các nhân tố kinh tế, văn hóa theo cách hiểu thông thường, mặc dù có thể chúng được nhào nặn bởi những nhân tố này; đúng hơn, chúng là một đặc điểm của bản thân diễn ngôn và được định hình bởi những cơ chế nội tại của diễn ngôn và những mối quan hệ giữa các diễn ngôn.

  • Sự đụng độ của các định nghĩa

    Tiểu luận Sự đụng độ giữa các nền văn minh? của Samuel P. Huntington xuất hiện trên tờ Foreign Affairs mùa hè năm 1993, tuyên bố ngay trong câu đầu tiên rằng “nền chính trị thế giới đang tiến vào một giai đoạn mới”. Với tuyên bố này, tác giả muốn nói rằng nếu trong trong quá khứ vừa qua, các xung đột trên phạm vi thế giới diễn ra giữa các phe phái ý thức hệ nhóm các thế giới thứ nhất, thứ hai và thứ ba ra thành các phe phái đối chọi nhau, thì nền chính trị theo cung cách mới này sẽ dẫn đến các xung đột giữa các nền văn minh khác biệt và có thể coi là đụng độ lẫn nhau

  • Tự sự tu từ học (Khuynh hướng đọc tu từ học của James Phelan)

    Sau công trình Tu từ học tiểu thuyết của Wayne Booth ra đời vào năm 1961, khuynh hướng lí thuyết tu từ học về truyện kể hư cấu chính thức hòa nhập vào đời sống văn học nghệ thuật đầy sôi động của “một thế kỉ lí thuyết” ở phương Tây và Mỹ thế kỉ XX. Với phương thức tiếp cận mở, kết hợp giữa nghiên cứu hình thức (form) với nghiên cứu ngữ cảnh (context), trong sự thống nhất với mục đích của tác giả hàm ẩn, tu từ học tiểu thuyết trở thành một khuynh hướng nghiên cứu chiếm được sự quan tâm không nhỏ của nhiều nhà nghiên cứu

  • Lịch sử nay đã sang trang (Hay là Khrapchenko và Pospelov trong lịch sử tiếp nhận tư tưởng lí luận nước ngoài vào Việt Nam)

    Từ bỏ các lí thuyết qui phạm, ngày càng trở nên xơ cứng, giáo điều để tìm đến với các lí thuyết phi quan phương là xu hướng tiếp nhận tư tưởng văn nghệ từ nước ngoài vào Việt Nam từ năm 1986 đến nay. Nó là xu hướng được tạo ra trong bầu khí quyển thời “Đổi mới”. Bầu khí quyển ấy tạo điều kiện thuận lợi để tư duy lí luận văn nghệ Việt Nam tiếp nhận thuyết “hình thái luận sáng tạo nghệ thuật” của Trường phái hình thức Nga, “nhân vị luận” (“personalisme”) của M.M. Bakhtin và kí hiệu học văn hóa của Iu.M. Lotman.

  • Biểu tượng: từ kí hiệu học đến tu từ học tiểu thuyết

    Khoa chú giải các biểu tượng (Symbolic, Symbolique) - một khoa học thực chứng trên cơ sở sự tồn tại các biểu tượng, lịch sử và các quy luật thực tế của chúng, và Biểu tượng học (Symbolism, symbolime) - một khoa học tư biện đặt nền tảng trên bản chất của biểu tượng và các hệ quả chuẩn tắc của nó, là những bằng chứng đầu tiên về giá trị và sự ảnh hưởng của một nhân tố vô cùng đơn giản, một kiểu kí hiệu đặc thù kiến tạo nên thế giới mà con người đã nhận thức và đang dày công nghiên cứu, khám phá.

  • Bàn về hiệu ứng đọc lý thuyết phê bình nước ngoài: trường hợp bản dịch “Độ không của lối viết”

    Bài viết xuất phát từ những phân tích đối chiếu văn bản, giữa bản tiếng Pháp và bản tiếng Việt, nhằm nêu ra một giả thiết về hiệu ứng cách đọc mà văn bản lý thuyết của Barthes tác động lên mô hình lý luận văn học Việt Nam giai đoạn những năm chín mươi của thế kỷ trước. Nó cho thấy phần nào cách thức phản ứng của người đọc Việt Nam trước những yếu tố mới mẻ cần thiết cho sự cách tân, đổi mới.

  • Sự du hành của lý thuyết: (tiếp nhận) lý thuyết phương Tây hiện đại ở Việt Nam đương đại

    Tiếp nhận lý thuyết phương Tây hiện đại là vấn đề gây được nhiều hứng thú đối với khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam. Sự tiếp nhận ấy diễn ra như thế nào? Những dự án nào khởi hoạt cho sự tiếp nhận ấy? Những lý thuyết được tiếp nhận và căn nguyên của việc tiếp nhận này? Quan trọng hơn, khi lý thuyết ngoại lai được tiếp nhận ở môi trường khoa học văn học Việt Nam, nó có những biến chuyển gì: người ta nghĩ gì về nó, người ta làm gì với nó?

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1