Bàn về Nguyên lý Thơ, tôi không có ý định đề cập thật sâu xa, thấu đáo. Bàn luận, rất chi là ngẫu hứng thôi, về yếu tính của Thơ. Lúc thảo luận, rất nhiều ngẫu hứng, điều chủ yếu về cái chúng ta gọi là Thơ, mục đích chính của tôi chẳng qua là dẫn ra để xem xét một số bài thơ ngắn của Anh và Mỹ, những thứ phù hợp nhất với thị hiếu của tôi, hay những thứ, đã để lại ấn tượng rõ rệt nhất lên trí tưởng tượng của tôi.
Nguyên lý thơ
Bàn về Nguyên lý Thơ, tôi không có ý định đề cập thật sâu xa, thấu đáo. Bàn luận, rất chi là ngẫu hứng thôi, về yếu tính của Thơ. Lúc thảo luận, rất nhiều ngẫu hứng, điều chủ yếu về cái chúng ta gọi là Thơ, mục đích chính của tôi chẳng qua là dẫn ra để xem xét một số bài thơ ngắn của Anh và Mỹ, những thứ phù hợp nhất với thị hiếu của tôi, hay những thứ, đã để lại ấn tượng rõ rệt nhất lên trí tưởng tượng của tôi. Gọi là “những bài thơ ngắn”, chẳng qua tôi muốn nói đến những bài thơ ít dài dòng. Và ở đây, để mào đầu cho phép tôi nói đôi lời liên quan tới một nguyên lý hơi đặc biệt, cái nguyên lý mà chẳng biết sai hay đúng, luôn luôn ảnh hưởng tới sự đánh giá phê bình thơ của bản thân tôi. Tôi cho rằng làm gì có một bài thơ dài. Tôi cứ nghĩ rằng cụm từ "bài thơ dài" chẳng qua là một thuật ngữ mâu thuẫn .
Khỏi phải nói một bài thơ chỉ xứng đáng là thơ nếu nó gây phấn khích, nâng cao tâm hồn. Giá trị của bài thơ tùy theo mức độ gây phấn khích nâng cao này. Nhưng mọi sự kích thích đều ngắn ngủi, đây cũng là một điều tất yếu trong đời sống tinh thần. Độ kích thích khiến một bài thơ đáng gọi là thơ không thể duy trì suốt bố cục một bài thơ dài. Sau khoảng nửa giờ, đạt tới đỉnh điểm thì nó lả đi – yếu dần - trở bệnh - và bài thơ, thực ra mà nói là không còn được như trước nữa.
Không nghi ngờ gì nữa, có nhiều người thấy khó khăn trong việc dung hoà lời phán quyết phê bình cho rằng tác phẩm "Thiên đường đánh mất" phải được ngưỡng mộ từ đầu đến cuối, với sự tuyệt đối không thể trong việc duy trì cho nó, trong quá trình đọc, lượng nhiệt tình mà phán quyết phê bình đòi hỏi. Tác phẩm vĩ đại này, trên thực tế, sẽ được coi như tác phẩm thơ, chỉ khi nào bỏ qua điều kiện sống còn cho tất cả những tác phẩm Nghệ thuật, đó là tính Thống nhất, chỉ khi nào chúng ta xem xét nó như một loạt những bài thơ nhỏ. Nếu, để giữ gìn tính Thống nhất của nó - toàn bộ hiệu quả hay ấn tượng của nó - chúng ta đọc nó (không thể khác được) liền một lèo thì kết quả chỉ là sự luân phiên liên tục thích thú và chán nản. Sau một đoạn chúng ta cảm thấy thực sự là thơ thì tiếp theo đấy, một cách chắc chắn, lại là một đoạn vô vị mà không một phán xét phê bình vội vàng nào có thể buộc chúng ta nguỡng mộ; nhưng nếu sau khi hoàn thành việc đọc tác phẩm, chúng ta đọc lại, bỏ qua quyển một, tức là đọc luôn vào quyển hai; - chúng ta sẽ ngạc nhiên vì thấy rằng những gì chúng ta chê bai trước đây thì giờ lại đáng được ngưỡng mộ - những gì chúng ta trước đây xiết bao ngưỡng mộ giờ lại đáng chê trách. Từ tất cả những gì đã được trình bày ở trên, có thể kết luận rằng hiệu quả cuối cùng, hiệu quả tổng thể hoặc tuyệt đối của ngay cả thiên sử thi hay nhất thì cũng là một sự vô giá trị: - và sự thực đích thị là như vậy.
Liên quan tới Iliad, chúng ta có, nếu không là chứng cớ tích cực, thì ít nhất cũng là lý lẽ rất thuyết phục, cho việc tin rằng nó được dự tính sáng tác như một loạt những bài thơ trữ tình; nhưng, được gán cho tiêu chí sử thi, tôi chỉ có thể nói rằng tác phẩm được dựa trên một cảm quan Nghệ thuật không hoàn thiện. Sử thi hiện đại không những là đồ cổ giả mạo, mà còn là một sự bắt chước mù quáng và khinh suất. Nhưng thời của những thứ dị thường nghệ thuật này đã qua. Nếu, trong thực tại, ở một thời điểm nào đó, một bài thơ rất dài nào thực sự nổi tiếng - điều này tôi nghi ngờ - thì ít nhất rõ ràng là sẽ không có bài thơ rất dài nào nổi tiếng thêm nữa.
Giá mà lấy độ dài của một tác phẩm thơ, (không xét đến các mặt khác), làm thước đo phẩm giá của nó, dường như chắc chắn, không nghi ngờ gì nữa, đó là một ý kiến thực sự ngớ ngẩn – chẳng phải là chúng ta mang nợ những tạp chí định kỳ hàng quý đã truyền cho chúng ta ý kiến này. Chắc chắn đâu có phải thuần túy kích cỡ – được xét một cách trừu tượng – đâu có phải thuần túy dung lượng của tập thơ là đáng kể, chẳng phải những tập thơ mỏng sầu muộn được công chúng thường xuyên hâm mộ hay sao! Một quả núi, chắc chắn, chỉ bằng cảm giác bề thế vật lý mà nó truyền đạt, chứa đựng, thực sự gây ấn tượng cho chúng về sự hùng vĩ – nhưng chẳng có ai bị gây ấn tượng này bởi sự đồ sộ vật chất cho dù là của bộ sử thi “The columbiad”. Ngay những tạp chí định kỳ hàng Quý không chỉ dẫn chúng ta cảm nhận được những ấn tượng như vậy. Họ đâu có kèo nèo chúng ta đánh giá Lamartine theo mét khối; hay định giá Pollock theo ki lô – vậy thì chúng ta phải suy ra điều gì từ việc họ không ngớt rêu rao việc “ra sức duy trì”? Nếu, bằng sự “ra sức duy trì”, bất cứ tiểu quí ông nào rồi cũng hoàn thành được một thiên sử thi thì chúng ta cũng thành thật khen ngợi, - nếu quả như tác phẩm này là một món đáng ca ngợi, - tuy nhiên khen ngợi bản sử thi vì sự “ra sức duy trì” thì xin miễn cho. Hi vọng rằng trong thời gian tới, những người có lương tri trong việc định đoạt giá trị một tác phẩm nghệ thuật sẽ thiên về ấn tượng nó để lại – về hiệu quả nó tạo ra – hơn là cái thời gian bỏ ra để gây ấn tượng, hay sự “ra sức duy trì” được xem là cần thiết để gây hiệu quả ấn tượng. Sự thực, kiên nhẫn là một chuyện và thiên tài lại là một chuyện hoàn toàn khác – tất cả những tạp chí Quý trong thiên hạ chẳng thể nhầm lẫn được hai chuyện này. Rồi đây, ý kiến này, cùng với nhiều ý kiến tôi vừa nêu lên sẽ được chấp nhận như những điều hiển nhiên. Cho tới khi đó, kể cả bị lên án như là những luận điểm hư trá, những ý kiến đó như là chân lý, về cơ bản sẽ không bị tổn hại.
Mặt khác, rõ ràng là một bài thơ cũng có thể ngắn ngủi không phải lối. Ngắn ngủi không phải cách có thể thoái hóa thành thơ equigram cộc lốc. Một bài thơ rất ngắn, đôi khi lại tạo ra được hiệu quả xuất sắc mạnh mẽ, nhưng không bao giờ tạo ra được hiệu quả sâu sắc hoặc dài lâu. Đó phải là một một nhát đóng dấu chắc tay lên sáp ong. De Béranger đưa ra được vố số bài thơ sắc sảo và khuấy động tinh thần; nhưng, nhìn chung, chúng quá nhẹ cân để đóng dấu ấn lên công luận; và vì vậy, như không biết bao nhiêu cái lông chim vui mắt, chúng được thổi phù lên cao rồi bị gió cuốn rơi xuống.
Một ví dụ đáng chú ý về hiệu quả từ sự quá ư ngắn gọn làm giảm giá trị bài thơ – khiến nó không lọt vào được sự nhìn nhận của công chúng - đó là bài Serenade cỏn con cực kỳ tinh tế sau đây:
Tôi trỗi dậy từ những giấc mơ của em
Trong giấc ngủ ngọt ngào đầu tiên của đêm,
Khi những ngọn gió đang thở chậm,
Và những vì sao đang rực sáng.
Tôi trỗi dậy từ những giấc mơ của em,
Và có phải một linh hồn trong đôi chân
Dẫn dắt tôi - nào ai biết? -
Tới cửa sổ buồng em, em yêu!
Những cơn gió lang thang lịm dần
Trên dòng suối lặng im, sẫm tối
Nhạt phai dần mùi hương cây champak
Như những ý nghĩ ngọt ngào trong một giấc mơ đêm;
Lời than phiền của chim sơn ca,
Chết nơi tim em
Như tôi phải chết nơi tim em
Ôi, yêu dấu là em đó!
Nào, hãy nhấc tôi khỏi cỏ!
Tôi chết, tôi yếu ớt, tôi lịm dần!
Hãy để tình em trong trận mưa hôn
Trên mắt trên môi tôi nhợt nhạt.
Trời, má tôi lạnh và nhợt trắng
Tim tôi đập loạn nhịp;
Nào, hãy áp tim tôi lên tim em lần nữa,
Nơi nó sẽ vỡ ra lần cuối.
Rất ít lời, có lẽ vậy, chúng ta thấy rất quen thuộc với những dòng thơ này - còn ai khác ngoài Shelley là tác giả của chúng. Trí tưởng tượng bay bổng, thanh nhã và ấm áp của chúng sẽ được đánh giá bởi tất cả bạn đọc, nhưng không ai thực sự thẩm thấu được như tác giả, người trỗi dậy từ những giấc mơ ngọt ngào của một cô nàng yêu dấu, đắm mình trong không gian thơm tho của một đêm hè phương Nam.
Một trong những bài thơ hay nhất của Willis – trong sáng tác của ông, theo ý tôi, đây là bài viết xuất sắc nhất, do có cùng nhược điểm là ngắn gọn quá, đã không được ở một vị trí xứng đáng trong sự đánh giá của giới phê bình.
Những cái bóng ngả dọc theo Broadway
Đã gần lúc triều dâng hoàng hôn
Và chậm rãi một quí cô xinh đẹp
Đang bước đi đầy kiêu hãnh,
Cô đi một mình; nhưng, chẳng hề nhìn thấy
Những linh hồn rảo bước bên cô.
Vẻ bình thản mê hoặc con phố dưới chân cô
Và vẻ cao quí mê hoặc bầu khí quyển;
Và tất cả xôn xao dõi theo
Cho cô là người rất đẹp -
Với tất cả những gì Chúa đã ban tặng
Cô nâng niu giữ gìn
Cô giữ gìn những nét đẹp hiếm có
Rời bỏ những người tình ấm áp và chân thành
Còn những kẻ giàu có đến không chỉ tán tỉnh
Mà còn tôn vinh thứ duyên sắc rao bán của cô
Thậm chí với cả những thầy tu
Giờ lại có thêm một người đẹp đang bước đi
Một cô gái mảnh mai, một bông li nhợt nhạt;
Và cô có bạn đồng hành vô hình
những con chim ma -
Chông chênh giữa Thiếu thốn và Khinh miệt cô bước đi tuyệt vọng
Và chẳng gì có thể giúp được
Giờ không tình thương nào có thể làm sáng vầng trán kia
Để cầu nguyện cho bình yên trần thế
Cho trái tim phụ nữ của cô mở lối
Vì lời cầu nguyện cho tình yêu hoang dại đã tan biến trong không trung
Nhưng tội lội được Chúa tha thứ trên thiên đường
Lại luôn bị con người nguyền rủa
Trong soạn tác này chúng ta thấy khó mà nhận ra Willis, người đã viết không biết bao nhiêu “thơ đơn thuần về xã hội”. Những dòng thơ không chỉ giàu ý tưởng, mà còn đầy ắp nội lực; đồng thời toát lên một sự chín chắn - một sự chân thành tình cảm hiển nhiên - điều mà chúng ta có lục tung tất cả những tác phẩm khác của tác giả này cũng chẳng thấy.
Mặc dù chứng cuồng sử thi – cho rằng, để đáng là thơ ca, sự dài dòng là không thể thiếu được - thế nhưng những năm qua nó đang chết dần trong tâm trí công chúng, bởi do sự vô lý của chính bản thân nó, chúng tôi thấy rằng nó được kế tục bởi một một thứ tà giáo quá sai lầm để chịu đựng lâu dài, nhưng có một điều, trong một thời kỳ ngắn nó tồn tại, nó được cho là đã gây ra sự thối rữa của nền văn học thơ ca của chúng ta nhiều hơn tất cả những kẻ thù khác của văn học hợp lại. Tôi muốn nói đến tà giáo Giáo huấn. Nó chủ trương, vừa kín đáo vừa công khai, vừa trực tiếp vừa gián tiếp, đối tượng sau cùng của toàn bộ Thi ca là Chân lý. Mọi bài thơ, được cho là, phải khắc sâu một bài học; và nhờ bài học này thì tác phẩm mới được phán xét có xứng đáng là thơ hay không. Đặc biệt là những người Mỹ chúng ta đã chiếu cố ý kiến tốt lành này; và đặc biệt là những người Boston chúng ta đã phát triển nó trọn vẹn. Chúng ta cứ đinh ninh trong đầu rằng viết một bài thơ chỉ vì mục đích của chính bài thơ, nhìn nhận ý đồ của chúng ta là như vậy, thế là chúng ta tự thú về căn bản không có phẩm giá và sức mạnh thơ thực sự - nhưng có một thực tế hết sức đơn giản là, giá như chúng ta tự cho phép nhìn sâu vào tâm hồn của chính chúng ta thì chúng ta phát hiện ra ngay trên đời này chẳng có tác phẩm nào mang phẩm giá trọn vẹn hơn –nó. cao quí tột bậc hơn là bài thơ thực sự này – nó là thơ bởi tự thân nó là thơ – nó là một bài thơ và chẳng là gì hơn nữa – một bài thơ được viết ra với mục đích là chính
Với sự tôn kính dành cho Sự thực vốn xưa nay truyền cảm hứng cho lòng người, tôi vẫn cứ giới hạn, trong chừng mực nào đó, những cách thức khắc sâu của sự thật. Tôi sẽ giới hạn để làm cho những cách thức này mạnh mẽ. Tôi sẽ không làm mờ nhạt chúng bằng sự giới thiệu tản mạn. Những đòi hỏi của Sự thật có tính chất nghiêm trang; cô nàng Sự thật không có cảm tình với những khóm cây myrtle. Tất cả những gì trong Thơ không thể nào thiếu được, thì nói một cách chính xác, cô nàng Sự thật lại chẳng biết dùng làm gì. Làm cho sự thật mạnh mẽ hơn, chúng ta cần sự nghiêm ngặt hơn là ngôn ngữ hoa lá cành. Chúng ta phải giản dị, chính xác, ngắn gọn. Chúng ta phải mát tính, điềm đạm, không bốc đồng. Nói tóm lại, chúng ta phải ở một trạng thái , nói một cách đúng nhất, thực sự trái ngược với trạng thái thơ. Phải mù thì mới không nhận ra được những căn bản khác biệt một trời một vực giữa những cách thức khắc sâu của thơ và của sự thực. Phải là kẻ cuồng lý luận không sao cứu vãn nổi , bất chấp những khác biệt này, mới cứ ngoan cố dung hòa Thơ và Sự thật, giống như đem nước hòa tan với dầu vậy.
Khi chia thế giới tâm trí thành ba phần tách biệt rõ rệt nhất, chúng ta có Trí tuệ thuần túy, Thị hiếu, và Ý thức Đạo đức. Tôi đặt Gu thẩm mỹ đứng giữa, đây chính là vị trí của nó trong tâm trí. Nó giữ những mối quan hệ mật thiết với cả hai thái cực; nhưng giữa Ý thức Đạo đức và nó sự khác biệt không bao lăm, tí chút thôi, thành ra Aristotle không ngần ngại đặt vài thao tác của nó vào ngay trong bản thân những đức hạnh. Tuy nhiên, chúng ta thấy những chức năng của bộ ba được phân biệt khá rõ. Đúng là Trí tuệ có liên quan đến Sự thật. Thị hiếu cho chúng ta biết về cái Đẹp, đồng thời ý thức Đạo đức quan tâm tới Bổn phận. Trong ý thức Đạo đức, Lương tâm nhắc nhở nghĩa vụ, lý trí dạy dỗ sự thiết thực, còn Thị hiếu thì bằng lòng với việc phô bày những duyên đẹp mê hồn: - tuyên chiến chống lại mụ Thói tật xấu xa, nhưng chỉ chống lại mụ ở phương diện xộc xệch của mụ, phương diện ác cảm của mụ với những gì hợp chuẩn, đích đáng, hài hòa – tóm lại, ác cảm của mụ với cái Đẹp.
Một bản năng sâu sắc bất diệt, trong tâm hồn con người, đó là cảm giác về cái Đẹp, đây cũng là một điều đơn giản, hiển nhiên thôi. Đây là cái góp phần tạo ra khoái cảm của con người qua những hành động, những âm thanh, mùi vị, những cảm xúc dạng sao chép trong quá trình con người tồn tại. Và một bông li in hình lên mặt hồ, hay đôi mắt nàng chăn cừu Amaryllis trong gương, chỉ là sự lặp lại những hình dáng, âm thanh, màu sắc, mùi vị và tình cảm này dưới dạng viết hay tuyền miệng, một nguồn khoái lạc dạng bản sao. Nhưng chỉ sự lặp lại này thì chưa đủ thành thơ. Đơn giản chuyện hát hò thôi, một người chỉ có hát thôi, thì dù cho nhiệt tình có sôi nổi đến đâu, dù cho những cảnh tượng, âm thanh, mùi vị, màu sắc, tình cảm chào đón anh ta cùng với toàn thể loài người có được miêu tả chân thật và sống động đến đâu, anh ta, tôi cho rằng, vẫn chưa chứng minh được danh hiệu thiêng liêng của mình. Vẫn có một cái gì đó xa xôi mà anh ta không thể đạt tới. Chúng ra vẫn bị khát, khát hoài, khát mãi, anh ta đâu có chỉ cho chúng ta những dòng suối trong vắt để làm dịu cơn khát. Cơn khát này thuộc về sự bất tử của Con người, vừa là hệ quả vừa là chỉ báo của sinh tồn bất diệt của Con người. Nó tựa như con bướm đêm có khát vọng bay đến sao trời. Nó không đơn thuần là sự đánh giá cái Đẹp trước mắt chúng ta – mà còn là cố gắng man dại vươn tới cái Đẹp cao vời. Được truyền cảm hứng bởi tiên cảm mê li về những niềm hoan lạc bên kia cái chết, bằng những sự tổ hợp phong phú trong muôn vàn sự vật và ý nghĩ về Thời gian, chúng đấu tranh để đạt được một phần cái Mỹ lệ, những yếu tố của chính nó, có lẽ, chỉ thuộc về vĩnh cửu. Và vì thế, do tác động của tiếng Thơ hay tiếng Nhạc – những điệu thức mê hồn nhất của Nghệ thuật – chúng ta dàn dụa nước mắt, chúng ta khóc đâu có phải do dư thừa khoái cảm, mà đó là do một nỗi buồn tủi nôn nao trước sự bất lực vì chúng ta không túm được ngay toàn bộ, trên thế gian này, một lần và mãi mãi, những niềm hân hoan mê li và thần thánh của cái Mỹ lệ mà thông qua thơ, hay nhạc, chúng ta chỉ chớp được những thoáng hiện ngắn ngủi và mơ hồ.
Nỗ lực để nắm lấy cái Mỹ lệ siêu nhiên – chính nỗ lực này từ phía những tâm hồn được cấu tạo tương thích – đã trao cho nhân loại tất cả những gì mà nó (nhân loại) đã từng hiểu và cảm nhận ngay được như là hồn thơ.
Hồn thơ, tất nhiên có thể tự triển khai trong điệu thức khác nhau – trong Hội họa, Điêu khắc, Múa - đặc biệt nhất là trong Âm nhạc, - và cũng hết sức đặc biệt ở một phạm vi rộng lớn, trong bố cục của Vườn cảnh nghệ thuật. Tuy nhiên, đề tài hiện tại của chúng ta chỉ liên quan đến nghệ thuật biểu lộ bằng ngôn từ. Và lúc này tôi xin phép nói ngắn gọn về chủ đề nhịp điệu. Yên chí với niềm tin rằng Âm nhạc với những cách thức về nhịp, nhịp điệu, hòa âm đa dạng của nó là một yếu tố bao trùm trong Thơ, chẳng ai dại gì đem loại bỏ nó, nó là một phụ gia mới có tầm quan trọng sống còn, chỉ có những kẻ ngu ngốc mới chối bỏ sự trợ giúp của nó, tôi sẽ không dừng lại để xác nhận yếu tính tuyệt đối của âm nhạc. Có lẽ chính là trong âm nhạc, tâm hồn, một khi cảm hứng với Hồn thơ, tiếp cận được gần nhất cứu cánh vĩ đại, đó là sự sáng tạo cái đẹp tối thượng. Rất có thể ở đây cứu cánh siêu phàm này đôi khi đạt được trong thực tế. Tâm hồn của chúng ta là như vậy, thường xuyên nhận được, với niềm hân hoan run rẩy, những nốt nhạc bật lên từ cây đàn hạc trần thế, những nốt nhạc đâu có xa lạ với ngay cả những thiên thần. Và như vậy chẳng mấy đáng ngờ rằng trong sự kết hợp giữa Thơ và Nhạc theo ý nghĩa thông luận của ý niệm này, chúng ta sẽ tìm thấy một lĩnh vực rộng lớn nhất cho sự phát triển của Hồn thơ. Những thi sĩ và ca sĩ hát rong trước đây có những thuận lợi mà chúng ta không có - và Thomas Moore, khi hát những bài hát của chính ông, đã hoàn thiện chúng như những bài thơ trong những bài hát đó một cách chính đáng nhất.
Vậy thơ tóm lại - tôi sẽ định nghĩa, một cách ngắn gọn - Thơ bằng ngôn từ là sự sáng tạo cái Đẹp có tiết tấu mà trọng tài duy nhất là Gu thẩm mỹ. Với Trí tuệ hay với Lương tâm, nó chỉ có những mối quan hệ bên lề. Trừ phi có một sự ngẫu nhiên nó chẳng có một mối liên quan gì tới Bổn phận hay Chân lý.
Tuy nhiên, phải có đôi lời giải thích. Niềm thích thú đó cùng một lúc thuần khiết nhất, thanh cao nhất, mãnh liệt nhất, tôi thấy rằng được dẫn xuất từ sự chiêm ngưỡng cái Đẹp. Trong sự chiêm ngưỡng cái Đẹp, chỉ riêng chúng ta thấy là nó có thể đạt tới sự nâng cao thú vị hay sự kích thích tâm hồn, cái mà chúng ta nhìn nhận như là Thi hứng, cái mà chúng ta phân biệt được quá dễ dàng với Chân lý, nó là sự thỏa mãn của Lý trí, hoặc với Đam mê, nó là sự kích thích của Trái tim. Tôi làm nên cái Đẹp, vì thế, tôi khiến cái Đẹp – từ này bao gồm cả cái cao cả - thành địa phận của thơ ca, đơn giản vì có một quy tắc hiển nhiên của Nghệ thuật là những hiệu quả nên được bật ra một cách trực tiếp nhất từ những nguyên nhân gây ra chúng - cho đến giờ chẳng ai dám phủ nhận rằng sự nâng cao dặc biệt được nói đến có thể đạt được dễ dàng nhất trong thơ ca. Tuy vậy, từ đó, tuyệt nhiên không được suy ra rằng, những sự kích động của Đam mê, hay những huấn thị của Bổn phận, hay thậm chí những bài học của Chân lý, không thể đưa vào bài thơ, tôi nói đến trường hợp đưa vào mà có lợi cho giá trị bài thơ. Có những trường hợp do ngẫu nhiên và dớ dẩn, những thứ được đưa vào có hại cho ý đồ chung của tác phẩm, nhưng những nghệ sĩ đích thực bao giờ cũng tìm được cách hòa điệu chúng sao cho chúng phù hợp với cái Đẹp kia, nó mới là bầu khí quyển và yếu tính thực sự của bài thơ.
Trong số vài ba bài thơ mà tôi sẽ trình ra cho các bạn suy xét, tôi không thể đưa ra ví dụ nào tốt hơn là phần trích dẫn từ Lời tựa cho tập "Waif" của Longfellow:
Ngày đã qua, và bóng tối
Đổ xuống từ đôi cánh của Đêm,
Như vệt lông chim rơi xuống rất êm
Từ con đại bàng đương bay lượn
Tôi nhìn thấy những đốm sáng của làng
Mập mờ qua mưa và sương,
Và cảm thấy nỗi buồn tràn tới
Mà hồn tôi không thể nào cưỡng lại;
Một cảm giác buồn bã và khao khát
Không phải giống như nỗi đau,
Mà từa tựa nỗi buồn rầu
Như là sương mù từa tựa mưa vậy
Tới đây, đọc cho tôi bài thơ nào đó,
Một áng thơ nào giản dị và chân thành
Nó sẽ làm dịu đi cảm giác buồn không dứt này
Và xua đuổi những suy tư trong ngày.
Đừng là thơ của những bậc thầy kinh điển,
Đừng là thơ của những thi sĩ siêu phàm,
Tiếng vọng bước chân xa xăm của họ
Xuyên qua hành lang thời gian
Giống như những khúc quân nhạc,
Mớ tư duy chồng chất của họ gợi ra
Nỗi vất vả gắng gượng bất tận của đời người;
Mà đêm nay tôi chỉ muốn nghỉ ngơi
Đọc một nhà thơ vô danh nào đó,
Người mà thơ phun trào từ trái tim,
Như mưa rào từ những đám mây mùa hạ
Hay lệ tuôn từ những mi mắt buồn;
Người mà trải qua bao ngày dài vất vả
Cùng những đêm trống rỗng, chán chường
Vẫn nghe thấy trong tim
Những giai điệu mê hồn, đẹp đẽ
Những bài ca đó đầy mãnh lực
Làm lắng xuống những lo âu bất tận
Giống như phúc lành ban xuống
Tiếp theo lời nguyện cầu.
Rồi trong tập sách quí giá
Hãy đọc lên bài thơ bạn chọn
Rồi ướm vào những vần thơ của thi sĩ vô danh
Vẻ đẹp của giọng nói mình.
Và đêm sẽ được âm nhạc lấp đầy,
Và những mối lo xâm chiếm cả ngày
Sẽ cuốn lại như những người A rập cuốn lều của họ
Lén lút lặng lẽ bỏ đi
Trí tưởng tượng chẳng có gì cao xa ở đây, những dòng thơ này chỉ cuốn hút bằng sự thể hiện nhã nhặn, tinh tế. Một vài hình ảnh rất hiệu quả. Không gì hay hơn -
Đừng là thơ của những thi sĩ siêu phàm,
Tiếng vọng bước chân xa xăm của họ
Xuyên qua hành lang thời gian
Tư tưởng của khổ thơ bốn câu sau cùng cũng rất hiệu quả. Tuy nhiên, bài thơ trong tổng thể chủ yếu được ngưỡng mộ do sự vô tư duyên dáng của vần luật, nhịp điệu, nó rất phù hợp với tính cách của những tình cảm trong bài thơ, và đặc biệt tốt cho sự thoải mái của thể cách chung. Sự "thoải mái", hay tính tự nhiên này, trong phong cách văn học, từ lâu đã có một thời thượng xem ra chỉ có vẻ thoải mái thôi – chứ đạt được sự thoải mái này trên thực tế là rất khó. Nhưng không hẳn vậy, một phong cách tự nhiên chỉ khó với người không bao giờ mày mò ướm thủ tức là người không có tính tự nhiên. Nó chỉ là kết quả của việc viết ra có sự hiểu biết, hoặc có bản năng hiểu biết rằng cái giọng điệu trong soạn tác bao giờ cũng là cái mà đại chúng trong nhân loại sẽ chấp nhận – và liên tục biến đổi , tất nhiên là theo hoàn cảnh. Tác giả chạy theo thời thượng của Tạp chí Bắc Mỹ câu thơ lúc nào cũng một mực “thanh thản”, trong nhiều trường hợp, anh ta chẳng qua chỉ là một kẻ ngốc nghếch, hoặc ngu đần, “sự thoải mái”, “tính tự nhiên” ở anh ta không hơn gì lối nói lái bắt vần của dân kẻ chợ Cockney hoặc vẻ Đẹp đờ đẫn của hình nhân bằng sáp.
Trong số những bài thơ ngắn của Bryant, không có bài nào gây ấn tượng nhiều cho tôi như bài "Tháng sáu". Tôi xin trích một phần của bài :
Nơi đó, qua những giờ khắc mùa hè đằng đẵng,
Ánh sáng vàng rực ngả mình,
Những cọng cỏ non mập mạp và những khóm hoa
Khoe sắc bên nhau.
Chim vàng anh làm tổ kể lể chuyện tình
Sát nơi tôi nằm;
Con bướm nhàn hạ
Đậu ở đó nghỉ ngơi
Và đâu đó, vo ve tiếng con ong thợ và chim ruồi
Và chuyện gì đây, nếu những tiếng reo hò hân hoan giữa trưa
Vọng tới từ làng,
Hay vọng tới tiếng ca của đám thiếu nữ dưới trăng
Trộn lẫn tiếng cười tiên nữ?
Và chuyện gì đây nếu trong ánh chiều tàn,
Những người tình sắp cưới dạo chơi
Trước mộ đá khiêm nhường của tôi?
Trong khung cảnh đẹp đẽ này
Tôi lại thấy chẳng còn gì buồn hơn
Tôi biết, tôi biết sẽ không được nhìn thấy
Vẻ lộng lẫy của mùa,
Hay ánh sáng rạng ngời sẽ chẳng tỏa chiếu cho tôi
Cả làn âm điệu hoang vu cũng vậy;
Nhưng nếu, quanh nơi tôi yên nghỉ,
Những bạn bè tôi yêu thương đến khóc
Họ có thể bịn rịn không rời
Những làn điệu tiếng hát, ánh sáng và hoa nở dịu dàng
Sẽ giữ họ nấn ná bên mộ tôi.
Trái tim mềm yếu của họ phải chịu đựng
Nghĩ ngợi về những gì đã qua,
Và nói về người mà giờ đây họ không thể chia sẻ
Cảnh hân hoan nơi này;
Mộ phần của người ấy trong toàn cảnh rực rỡ
Nối lại đường viền của những quả đồi mùa hạ,
Nơi đó là nấm mộ xanh lá;
Rồi trái tim họ rộn ràng khôn tả
Lại được nghe giọng nói sống động của người khuất bóng
Thơ tuôn chảy nhịp nhàng, thậm chí còn gợi cảm nữa - không gì có thể du dương hơn. Bài thơ luôn làm tôi xúc động vì phong cách ấn tượng. Nỗi sầu muộn sâu sắc dường như tuôn ra, phủ lên bề mặt của tất cả những lời nói vui vẻ của nhà thơ về nấm mộ của mình, diều ấy làm chúng ta rùng mình tận tâm can - có một sự trào dâng thơ đích thực nhất trong sự rùng mình. Ấn tượng đọng lại là nỗi buồn khoan khoái. Và nếu, trong những soạn tác còn lại mà tôi sẽ giới thiệu cho các bạn, ít nhiều đều có giọng điệu tương tự và thể hiện khá rõ, tôi xin phép lưu ý các bạn rằng (vì sao, sự thể nào lại có điều này chúng tôi không rõ) cái vết chàm phảng phất buồn này gắn kết không tách ra được với tất cả những biểu hiện mức độ cao của cái Đẹp đích thực. Tuy nhiên, nó là:
Một cảm giác buồn bã và khao khát
Không phải giống như nỗi đau,
Mà từa tựa nỗi buồn rầu
Như là sương mù từa tựa mưa vậy
Vết chàm mà tôi nói đến thậm chí có thể cảm thấy rõ trong một bài thơ tràn đầy ánh sáng và tinh thần như bài "Chúc sức khỏe" của Edward C. Pinkney:
Tôi rót đầy ly này cho người đàn bà
Được tạo nên chỉ bằng sự đáng yêu,
Bằng vẻ nữ tính dịu dàng
Một dung nhan tuyệt mỹ;
Và những vì sao đã hiền hậu ban cho nàng những tố chất hơn người
Một thân hình tuyệt đẹp nhẹ nhàng như thinh không
Gần với trời xanh hơn là chốn bụi trần
Giọng nói nàng lúc nào cũng thánh thót
Như những tiếng chim hót lúc sớm mai
Có gì đó còn hơn cả điệu nhạc
Đọng trên mỗi lời:
Chúng là những từ mới mẻ của trái tim nàng,
Và tuôn ra từ đôi môi nàng
Như ta vẫn thấy con ong trĩu phấn
Bay ra từ một đóa hồng.
Những ý nghĩ về nàng trìu mến lạ,
Nhịp sống của nàng thương mến sao;
Cảm xúc của nàng tỏa hương thơm,
Sự tinh khiết của những đóa hoa chớm nở;
Những cảm xúc mạnh mẽ đáng yêu thường xuyên biến đổi,
Nàng xuất hiện, muôn hình, muôn vẻ.
Nàng là thần tượng của những năm đã qua!
Trên gương mặt ngời sáng của nàng, một thoáng nhìn thôi cũng thấy
Một bức tranh trí tuệ,
Và giọng nói nàng, một thanh âm đọng lại lâu dài
Trong những trái tim đồng vọng;
Nhưng ký ức của tôi về nàng,
Sao mà nhiều thương mến,
Khi cái chết cận kề hơi thở cuối
Chỉ là những kỷ niệm về nàng chứ không phải đời tôi
Tôi rót đầy ly này cho người đàn bà
Được tạo nên chỉ bằng sự đáng yêu,
Bằng vẻ nữ tính dịu dàng
Một dung nhan tuyệt mỹ -
Chúc sức khỏe nàng! và trên trái đất vẫn còn những hình dáng như nàng
Cuộc đời tất cả đều là thơ
Và nỗi lo chỉ là một tên gọi.
Không may cho ngài Pinkney sinh ra tại phương nam quá xa xôi.Nếu là người New England có thể ông ta được đám người hào hiệp kia xếp vào bậc nhất trong các nhà thơ trữ tình Mỹ, họ là những kẻ từ lâu sắp đặt những số phận của văn chương Mỹ trong quá trình điều hành cái gọi là “Tạp chí Bắc Mỹ”. Bài thơ vừa được trích dẫn đẹp một cách đặc biệt; Nhưng sự trào dâng tâm hồn bài thơ mang lại chủ yếu là do sự đồng cảm của chúng ta với nhiệt tình của nhà thơ. Chúng ta bỏ qua những ngoa dụ của nhà thơ cũng là do tình cảm tha thiết đặc biệt trong lời thơ diễn đạt chúng.
Tuy nhiên tôi không hề có ý định bàn luận dài dòng về những ưu điểm của những gì tôi đọc cho các bạn. Những ưu điểm này chắc chắn sẽ tự khẳng định. Boccalini, trong tác phẩm "Những thông báo từ Parnassus" kể cho chúng ta rằng Zoilus một lần nói với Apollo một lời phê bình cay độc về một cuốn sách rất đáng khâm phục – vị thần bèn hỏi ông ta về những nét đẹp của tác phẩm. Ông ta trả lời rằng ông ta chỉ để tâm tới những sai sót. Nghe vậy Apollo bèn đưa một bao tải lúa mì còn nguyên vỏ rồi bảo ông ta tuốt vỏ, đống trấu tuốt được, đó là phần thưởng.
Câu chuyện ngụ ngôn này giáng trả rất đích đáng những nhà phê bình thời nay – nhưng tôi chẳng có tin là vị thần đã đúng. Tôi chẳng có tin là những giới hạn thực sự của nhiệm vụ phê bình đã được hiểu đúng , mà thực ra đã bị hiểu lầm một cách thô thiển. Cái hay xuất sắc, đặc biệt là trong một bài thơ, có thể được xem xét trong ánh sáng của một định đề, chỉ cần được đặt ra một cách thỏa đáng là trở thành hiển nhiên ngay tự bản thân nó. Phẩm chất xuất sắc chẳng còn là xuất sắc nữa nếu nó đòi hỏi phải được chứng minh hẳn hoi – và như vậy chỉ ra đích danh một cách quá cụ thể, tỉ mỉ những ưu điểm trong một tác phẩm Nghệ thuật là thừa nhận rằng chúng hoàn toàn chẳng phải là ưu điểm nữa.
Trong "Những giai điệu" của Thomas Moore có một giai điệu mà tính chất đặc sắc thơ đích thực dường như bị lãng quên một cách bất thường. Tôi muốn nói đến những dòng thơ mở đầu: "Tới đây, ngơi nghỉ trên vòm ngực này". Năng lượng mãnh liệt từ sự biểu cảm của chúng không một câu thơ nào Byron vượt qua được. Có hai dòng trong đó được truyền đạt một tình cảm hiện thân cho đam mê tình yêu thần thánh muôn thủa - một thứ tình cảm có lẽ vang vọng trong nhiều trái tim đam mê của con người hơn bất cứ tình cảm đơn lẻ nào đã từng hiện thân trong từ ngữ:
Hãy tới, nghỉ ngơi trong vòm ngực này, con nai bị thương tổn của ta,
Dù bày đàn đã trốn chạy bỏ ngươi lại, nhà của em vẫn ở đây;
Nơi đây vẫn là nụ cười mà không đám mây nào có thể che phủ;
Và một trái tim và một bàn tay tất cả vẫn là của em cho tới giây phút cuối
Ồ! điều gì xứng với tình yêu, nếu không giống thế
Xuyên qua mừng vui và xuyên qua đau khổ, xuyên qua vinh quang và nhục nhã?
Tôi không biết, tôi không thắc mắc, nếu tội lỗi trong trái tim kia,
Tôi chỉ biết tôi yêu em, dù em có thế nào đi nữa.
Em gọi tôi là thiên thần của em trong những phút giây tột cùng hạnh phúc,
Và tôi sẽ là thiên thần của em, giữa những khủng khiếp cuộc đời này
Băng qua hiểm nguy, liều mình, lần theo từng bước chân em
Và che chở em, cứu vớt em. - hoặc bỏ mạng cùng em!
Gần đây có cái kiểu phủ nhận Trí tưởng tượng của Moore, trong khi đó lại ban cho ông tính Ngông - một ý kiến độc đáo bắt nguồn từ nhà phê bình Coleridge – không một ai lĩnh hội được những tài năng vĩ đại của More hơn vị này. Thực tế là, tính ngông của nhà thơ này cho đến nay lấn át tất cả những năng lực khác của ông, và hơn cả tính ngông của những người khác, có sức thuyết phục, một cách rất tự nhiên. Ý kiến cho rằng ông ta chỉ là một nhà thơ ngông , chưa có ý kiến sai lầm nào thô thiển hơn ý kiến này, nó làm tiêu tan danh tiếng nhà văn. Trong phạm vi Anh văn, tôi không thể đưa ra bài thơ nào có trí tưởng tượng sâu xa hơn, kỳ lạ hơn, gợi cảm hơn, những dòng thơ mở đầu bằng câu: " I would I were by that dim lake", do Thomas Moore soạn tác. Tôi tiếc là tôi không thể nhớ hết được.
Một trong những nhà thơ hiện đại cao quý nhất, và nói về ngông thì ông là một trong những người ngông khác thường nhất. Bài "Ines xinh đẹp” của ông đối với tôi có một sức mê hoặc khó tả:
Ồ! Bạn không thấy Ines xinh đẹp ư ?
Nàng đi về phía Tây,
Để lóa mắt khi mặt trời hạ xuống,
Và cướp của thế giới sự yên bình:
Nàng mang theo ánh sáng của chúng ta
Những nụ cười mà chúng ta yêu nhất,
Với buổi sáng ửng hồng trên má nàng,
Và chuỗi ngọc trai trên ngực nàng.
Ồ! Ngoảnh lại một lần nữa, Ines xinh đẹp,
Trước khi màn đêm buông
Thay vì sợ hãi ánh trăng cô độc,
Và những vì sao vô song rực sáng;
Kẻ được ban phước lành sẽ là người tình
Đi dạo dưới ánh sáng trăng sao
Thở ra tình yêu áp lên má nàng
Tôi chẳng dám viết nữa!
Ines xinh đẹp, giá mà tôi là
Chàng kị sĩ hào hoa kia
Người cưỡi ngựa vui vẻ bên nàng
Và thì thầm rất gần bên nàng!
Phải chăng không quý bà xinh đẹp nào chốn quê nhà
Hay không có cả những người tình thực sự
Nên chàng mới băng qua bốn biển để dành lấy
Người đàn bà yêu quí nhất?
Tôi thấy nàng, Ines thân thương,
Đi xuống bờ biển
Cùng với lũ lượt đám quí ông trưởng giả,
Và những ngọn cờ phất phơ phía trước;
Cùng với những chàng trai trẻ dịu dàng và những thiếu nữ vui tươi,
Và những chiếc lông chim mới trắng muốt làm sao;
Cảnh tượng này mãi là một giấc mơ tuyệt đẹp
Cho dù mọi sự đã qua đi!
Chao ôi, chao ôi, Ines xinh đẹp!
Nàng bỏ đi với tiếng hát,
Với những tiếng nhạc đón chờ bước chân nàng,
Và tiếng reo hò của một đám đông;
Nhưng có vài người buồn bã không vui
Nhưng tiếng nhạc sao mà lạc lõng,
Với lời ca Biệt ly, Biệt ly
Cho người con gái bạn yêu từ lâu lắm
Tạm biệt, tạm biệt, Ines xinh đẹp,
Con tàu đó chưa bao giờ chở trên boong,
Một giai nhân tuyệt vời đến thế
Nó cũng chưa bao giờ nhún nhảy nhẹ nhàng đến vậy
Chao ôi, vui thú trên biển cả,
Và đau buồn lại ở bãi bờ
Một nụ cười ban phúc cho một trái tim yêu
Làm tan vỡ thêm nhiều trái tim nữa.
Bài "Ngôi nhà có ma" của cùng tác giả là một trong những bài thơ đích thực nhất từng được viết ra - một trong những bài thơ đích thực nhất - một trong những bài thơ hoàn mỹ nhất - một tác phẩm thuần túy nghệ thuật nhất về cả đề tài cũng như cách thể hiện. Hơn thế nữa, cả trí tưởng tượng và lý tưởng đều mạnh mẽ. Tôi tiếc rằng độ dài của nó không thích hợp cho mục đích của Bài nói chuyện này. Thay vào đó, cho phép tôi được giới thiệu bài "Cây cầu của những tiếng thở dài" được dư luận chung đánh cao.
Thêm một người bất hạnh
Thở hắt mỏi mệt
Vội vã, thôi thúc
Đến với cõi chết
Hãy đỡ em thật nhẹ nhàng
Nâng em thật khẽ khàng;
Hình hài sao mong manh
Trẻ và thật đẹp!
Hãy nhìn vào xiêm y của em
Sao trông như vải liệm;
Sóng vỗ vào em
Giờ từ áo em ròng ròng nhỏ xuống
Hãy đỡ em ngay đi,
Với thương yêu chứ đừng ghét bỏ.
Hãy chạm vào em đừng trách móc
Hãy nghĩ về số phận thê lương của em
Nâng niu, nhân ái;
Đừng nghĩ về những vết nhơ của em
Tất cả những gì còn ở em lúc này
Thuần khiết con gái.
Đừng soi mói
Sự nổi loạn
Bột phát, ngỗ nghịch của em:
Hãy bỏ qua tất cả
Danh dự đánh mất,
Cái chết mang em đi
Chỉ còn vẻ đẹp vương lại
Nói gì nữa mọi lầm lỡ của em
Cùng với Eva, chị em một nhà
Thôi thì lau đôi môi em tội nghiệp
Nước rỉ ra sao mà ướt quá.
Gài lại những lọn tóc của em
Lâu rồi trốn tránh lược chải đầu,
Những lọn tóc nâu vàng đẹp đẽ;
Ngỡ ngàng, những câu hỏi dò la
Nhà em ở nơi đâu?
Ai đã từng là cha em?
Ai đã từng là mẹ em?
Em có chị?
Em có anh?
Liệu có một ai thân thiết hơn thế
Thậm chí, ai đó gần gũi hơn
Hơn tất cả những ai kia?
Hỡi ôi!
Lòng từ thiện đức tin Thiên chúa
Quá hiếm hoi trên thế gian này!
Ôi, đáng thương sao!
Cả một đô thành
Em chẳng có nhà.
Này anh, này chị, này mẹ, này cha
Lòng dạ và tình cảm đã thay đổi
Một sự thật tàn nhẫn
Tình yêu, bị quăng xuống vực sâu
Thậm chí Chúa trời bao dung
Dường như cũng lạnh nhạt
Em đã từng đứng đây
Nơi từ trước đến giờ
Những ngọn đèn run rẩy trên mặt sông,
Cùng với nhiều quầng sáng
Từ cửa sổ và cửa ban công,
Từ buồng áp mái đến tầng ngầm,
Em bàng hoàng đứng đó
Không nhà trong đêm.
Gió tháng ba lạnh lẽo
Làm em run rẩy rùng mình;
Không phải vì khung cửa tối tăm kia
Hay dòng nước đen tuôn chảy:
Mà phát điên vì những chuyện đời
Em thích thú với huyền vi cõi chết
Mong được ném tới bất cứ nơi đâu -
Nằm ngoài cõi đời này!
Chẳng quản nước lạnh giá
Em liều mình lao xuống
Dòng sông dữ dằn chảy
Tới tận bờ miệng vực,
Hãy hình dung và nghĩ về chuyện này
Gã đàn ông phóng đãng!
Hãy ngập chìm trong đó rồi nốc cạn đi
Nếu ngươi có thể
Hãy đỡ em thật nhẹ nhàng
Nâng em thật khẽ khàng;
Hình hài sao mong manh
Trẻ và thật đẹp!
Trước khi tay chân em buông xuôi
Chúng cứng đờ làm sao
Hãy duỗi chúng nhẹ nhàng, thương xót
Hãy vuốt đôi mắt lại
Mở trừng trừng nhưng nào có thấy gì!
Nhìn trừng trừng kinh hãi,
Xuyên qua cõi trần nhơ bẩn
Như lúc em liều lĩnh
Với ánh nhìn tuyệt vọng
Ấn định tương lai.
Bỏ mạng thê thảm
Trò nhục mạ
Thói bất nhân, lạnh lùng
Thói điên rồ hùng hổ
Vẫn bủa vây em nơi yên nghỉ cuối cùng
Hãy đặt hai tay em bắt chéo ngực khiêm nhường,
Như thể đang lặng thinh cầu nguyện!
Em yếu đuối
Em lầm lạc
Với vẻ nhu mì
Phó mặc tội lỗi mình cho Chúa!
Sự mãnh liệt của bài thơ này ấn tượng không kém sự bi ai của nó. Nghệ thuật làm thơ ở đây, dù đẩy cái ngông chạm sát giới hạn của sự kỳ ảo, tuy vậy vẫn phỏng theo tài tình tâm trạng điên điên hoang dại, đây là luận điểm của bài thơ.
Trong số những bài thơ ngắn của Huân tước Byron có một bài rất đáng được tán dương vậy mà nó chưa bao giờ nhận được lời khen nào của các nhà phê bình.
Dù ngày của vận mệnh tôi đã hết
Và ngôi sao chiếu mệnh tôi đã tắt
Trái tim yếu mềm của em từ chối phát giác
Những sai lầm mà nhiều người có thể nhìn thấy
Dù tâm hồn em đã quen với nỗi đau buồn của tôi
Nó vẫn khép lại không cùng tôi chia sẻ
Và tình yêu mà hồn tôi tô vẽ
Chẳng bao giờ tìm thấy ngoại trừ ở nơi em
Khi thiên nhiên xung quanh tôi mỉm cười
Nụ cười cuối cùng đáp nụ cười tôi
Tôi không tin là thiên nhiên khách sáo, đãi bôi
Vì nó gợi nhớ đến em
Và khi những cơn gió gây chiến với đại dương,
Biển phập phồng như vòm ngực tôi tin yêu,
Nếu những cơn sóng làm dậy lên cảm xúc
Đó là vì sóng cuốn tôi xa em.
Mặc dù tảng đá hi vọng cuối cùng của tôi bị đập vỡ,
Và những mảnh vỡ chìm xuống dưới sóng xô,
Dù tôi cảm thấy rằng tâm hồn mình bị trao
Cho đau khổ - nó sẽ không thành nô lệ của khổ đau.
Có nhiều nỗi đau săn đuổi tôi;
Chúng có thể đè nát, nhưng sẽ không khinh miệt tôi;
Chúng có tra tấn, nhưng không khuất phục được tôi
Tôi nghĩ đến em, đâu có nghĩ đến chúng.
Dù cũng chỉ là con người, em đã không lừa dối tôi;
Dù cũng chỉ là đàn bà, em đã không bỏ rơi tôi;
Dù đã yêu ai, em cũng không làm tôi đau khổ;
Dù họ đặt điều, em chẳng hề dao động;
Dù tin họ, em vẫn không từ bỏ tôi;
Bị chia rẽ, cũng không bay đi;
Nghĩ ngợi xa xôi cũng không làm tôi mất mặt
Em cũng không câm lặng để thiên hạ đặt điều về tôi.
Tôi không trách cứ hay dè bỉu thiên hạ
Cũng không lên án đám đông xúm đánh một người -
Hoặc gây hấn với nhiều người vì chuyện thị phi
Thật điên rồ nếu không mau tránh xa
Và hơn một lần đành rằng biết trước,
Sai lầm khiến tôi trả giá đắt
Tôi vẫn thấy có mất mát gì đi nữa
Cũng không thể làm tôi mất em.
Từ đổ nát của quá khứ tàn lụi,
Từ đó ít ra tôi cũng có thể gợi lại:
Nó cho thấy người tôi yêu thương nhất
Đáng là người yêu dấu nhất trên tất cả
Trong sa mạc một suối nguồn hiện ra,
Trên đất hoang rộng lớn vẫn còn một cây xanh,
Và một con chim hót lên trong tĩnh lặng
Kể với linh hồn tôi về em.
Dù nhịp thơ ở đây là một trong những nhịp phức tạp nhất, khó mà thay đổi vận luật ở đây. Không có chủ để nào cao quí hơn đã từng gắn với ngòi bút của nhà thơ. Nó là một ý tưởng cao thượng nâng tâm hồn lên, , không người nào có thể tự cho mình quyền than thở Định mệnh khi mà, trong hoàn cảnh khốn đốn, người đó vẫn giữ được tình yêu kiên định với người đàn bà.
Từ sáng tác của Alfred Tennyson - cho dù hết sức thành thực tôi coi ông như là nhà thơ cao quý nhất từ trước đến nay, thế nhưng tôi chỉ trích dẫn ở đây một đoạn thơ mẫu rất ngắn thôi. Tôi gọi, và nghĩ ông ấy là người cao quí nhất trong các nhà thơ - không chỉ vì những ấn tượng ông ấy tạo ra, là thứ sâu thẳm nhất trong mọi thời đại - không chỉ vì thi hứng ông ấy đem lại, là điều mãnh liệt nhất trong mọi thời đại - mà còn vì đó là chất thơ thanh tao nhất của mọi thời đại - nói cách khác, cao nhã nhất và thuần khiết nhất. Không có nhà thơ nào lại ít chất trần ai đến vậy. Những gì tôi sắp đọc được lấy từ bài thơ dài cuối cùng của ông, "Công chúa":
Nước mắt, những giọt nước mắt vu vơ, tôi không biết chúng muốn nói gì,
Những giọt nước mắt từ chiều sâu của nỗi tuyệt vọng thiêng liêng nào
Dâng lên trong tim, và tụ lại đôi mắt,
Trong khi ngắm nhìn những cánh đồng mùa thu hạnh phúc,
Và nghĩ về những ngày không còn nữa
Thanh khiết như tia nắng đầu tiên lấp lánh trên cánh buồm
Mang những bạn bè của ta về từ bên kia thế giới,
Buồn như tia nắng cuối cùng rọi ánh hồng lên cảnh vật
Rồi chìm xuống cùng tất cả những gì ta yêu thương;
Rất buồn, rất trong, những ngày không còn nữa.
Ôi, buồn và xa lạ như những buổi bình minh mùa hạ tối tăm
Tiếng hót sớm nhất của những con chim còn ngái ngủ
Vọng tới những vành tai, những đôi mắt đang chết dần
Cửa sổ chậm mở một hình vuông le lói
Rất buồn, rất lạ, những ngày không còn nữa.
Thương mến như những nụ hôn được nhớ lại sau cái chết,
Và ngọt ngào như những nụ hôn được tạo ra bởi trí tưởng tượng tuyệt vọng
Trên đôi môi dành cho kẻ khác; sâu thẳm như tình yêu
Sâu thẳm như tình yêu đầu tiên, và cuồng điên với mọi tiếc nuối;
Ôi cái Chết trong Đời, những ngày không còn nữa!
Như vậy, dù cách làm của tôi rất vội vàng và không hoàn hảo, tôi đã cố gắng truyền đạt tới các bạn quan niệm của tôi về Nguyên lý Thơ. Mục đích của tôi là gợi ý tưởng này, trong khi Nguyên lý này tự thân nó, một cách chính xác và đơn giản, là Khát vọng của loài người đạt tới Cái Đẹp Siêu Phàm thì sự biểu hiện của Nguyên lý thơ thường được tìm thấy trong một sự kích thích nâng cao của tâm hồn (elevating excitement of the soul) - hoàn toàn độc lập với đam mê là sự đầu độc Trái tim - hay hoàn toàn độc lập với chân lý là sự thỏa mãn của Lý trí. Bởi lẽ, Đam mê, hỡi ôi! Có chiều hướng làm suy thoái tâm hồn nhiều hơn là nâng cao nó. Tình yêu, trái lại, đây là tình yêu đích thực của Eros thần thánh – đây là Venus dòng dõi Uranius khác với Venus truy hoan, phóng đãng - không nghi ngờ gì nữa là chủ đề thuần khiết nhất và chân chính nhất trong tất cả những chủ đề thi ca. Về Chân lý thì nếu như thông qua việc đạt được chân lý, chúng ta đi đến chỗ nhận thức được một sự hài hòa ở nơi mà trước đó chẳng có gì rõ ràng, chúng ta cảm thấy, ngay lập tức, hiệu quả thơ thực sự - nhưng hiệu quả này chỉ dính dáng đến một mình sự hài hòa thôi, và chẳng có liên quan tí nào tới chân lý đơn thuần phục vụ cho việc làm cho sự hài hòa hiển lộ.
Tuy nhiên, chúng ta đạt được trực tiếp hơn một khái niệm rõ ràng Thơ thực sự là gì chỉ sự bằng tham khảo một ít những yếu tố đơn giản đem lại hiệu quả thơ thực sự trong bản thân Nhà thơ. Anh ta nhận ra thứ phấn ong thần thánh nuôi dưỡng tâm hồn anh ta trong những thiên thể rực rỡ tỏa sáng trên Thiên đường - trong những dây hoa leo xoắn xuýt - trong những bụi cây thấp bé - trong những gợn sóng của những cánh đồng ngũ cốc - trong dáng nghiêng nghiêng của những thân cây phương Đông cao lớn - trong những khung cảnh núi non xanh ngắt - trong những đám mây - trong sự lặng lẽ của những dòng suối ngầm chảy - trong ánh lấp lánh của những dòng sông bạc - trong sự yên tĩnh của những hồ nước ẩn dật - trong những vì sao soi bóng vào đáy giếng cô độc. Anh ta nhận thấy nó trong những bài ca của chim - trong tiếng đàn hạc của thần Aeolus - trong tiếng thở dài của gió đêm - trong giọng nói bực dọc của khu rừng - trong tiếng sóng vỗ thở than trên bờ biển - trong hơi thở tinh khiết của rừng cây - trong mùi hương của violet - trong hương thơm quyến rũ của dạ lan hương - trong làn hương khơi gợi bay đến chỗ anh ta, lúc chiều chạng vạng, từ nơi xa xôi, những hòn đảo chưa được khám phá, băng qua những đại dương mờ sáng, mênh mông và không dấu vết con người. Anh ta sở hữu nó trong tất cả những ý nghĩ cao quí - trong tất cả những chủ đề siêu phàm - trong tất cả những sự thôi thúc linh thiêng - trong tất cả những hành động hi sinh, hào phóng, nghĩa hiệp. Anh ta cảm thấy nó trong vẻ đẹp của người phụ nữ - trong vẻ duyên dáng toát lên từ bước chân nàng - trong ánh sáng rực rỡ của mắt nàng - trong điệu nhạc của giọng nàng - trong tiếng thở dài của nàng - trong sự hài hòa của những tiếng sột soạt từ những tấm áo choàng của nàng. Anh ta cảm thấy nó sâu sắc trong vẻ dễ thương lôi cuốn của nàng - trong sự nhiệt tình cháy bỏng của nàng - sự bao dung dịu dàng của nàng - trong vẻ nhẫn nại ngoan đạo của nàng - nhưng trên hết - chao ôi! trên hết tất cả - anh ta quì xuống trước nó - anh ta tôn thờ nó trong niềm tin, trong sự thanh khiết, trong sức mạnh, trong sự uy nghi thần thánh - của tình yêu của nàng.
Hãy để tôi kết luận bằng việc đọc một đoạn thơ ngắn khác nữa - nó rất khác với bất kỳ đoạn thơ nào tôi đã trích trước đó. Tác giả là Matherwell, bài thơ có tên "Bài ca Kỵ sĩ". Với những ý tưởng hiện đại và hoàn toàn duy lý của chúng ta về sự vô lý và nghịch đạo của cuộc chiến tranh tàn khốc, chúng ta sẽ không thực sự ở trong cái mà khung trí tuệ được điều chỉnh tốt nhất để đồng cảm với những tình cảm, và từ đó đánh giá sự tuyệt vời thực sự của bài thơ. Để làm điều này trọn vẹn, bản thân chúng ta phải đồng cảm, trong tưởng tượng, với tâm hồn của người kỵ sĩ già.
Lên ngựa nào! Lên ngựa đi, những chàng trai hào hoa dũng cảm, tất cả các bạn,
Đội mũ sắt thật nhanh
Những người đưa tin của thần Chết, Danh tiếng và Danh dự, vẫy gọi
Chúng ta một lần nữa tới sa trường.
Không có những giọt nước mắt dàn dụa đôi mắt
Khi cán gươm trong tay,-
Chúng ta dũng cảm ra đi và tịnh không một tiếng thở dài
Vì sự bình an của xứ sở;
Mặc cho cánh trai làng nhởn nhơ thổi sáo và bọn người hèn nhát
Tha hồ khóc, tha hồ gào
Công việc của chúng ta là chiến đấu như những người đàn ông
Và chết như những anh hùng
Hoàng Tố Mai dịch
Theo “The poetic principle” trong cuốn Truyện và thơ của Edgar Allen Poe (The complete tales and poems of Edgar Allen Poe), Penguin Books xuất bản, 1965.
Nguồn: Bài do dịch giả cung cấp