Phê bình thơ với vấn đề đánh giá những hành động cách tân thơ hiện nay
Thơ Việt Nam hiện nay có một bộ phận mang ý hướng cách tân rõ rệt, nhưng thường bị phàn nàn là đánh mất ý thức công dân, bỏ rơi những truyền thống quý báu, sa vào những tìm tòi bí hiểm, rắc rối, cầu kỳ, nhai lại những cái bã của thơ phương Tây, đề cập chuyện tình dục lộ liễu, trắng trợn... Sự phàn nàn này chủ yếu xuất phát từ lớp độc giả trung thành của thơ cách mạng - nền thơ vốn được xây dựng và tuyên truyền trong suốt mấy chục năm qua. Nó cũng xuất phát từ lớp độc giả vốn quen với và chỉ chấp nhận cái chuẩn thẩm mỹ được kiến tạo từ phong trào Thơ mới, không có cơ hội hoặc không muốn tiếp cận những xu hướng phát triển, tìm tòi của thơ hiện đại thế giới...

Phê bình thơ với vấn đề đánh giá những hành động cách tân thơ hiện nay

                                                                                                     Phan Huy Dũng

 

         Thơ Việt Nam hiện nay có một bộ phận mang ý hướng cách tân rõ rệt, nhưng thường bị phàn nàn là đánh mất ý thức công dân, bỏ rơi những truyền thống quý báu, sa vào những tìm tòi bí hiểm, rắc rối, cầu kỳ, nhai lại những cái bã của thơ phương Tây, đề cập chuyện tình dục lộ liễu, trắng trợn... Sự phàn nàn này chủ yếu xuất phát từ lớp độc giả trung thành của thơ cách mạng - nền thơ vốn được xây dựng và tuyên truyền trong suốt mấy chục năm qua. Nó cũng xuất phát từ lớp độc giả vốn quen với và chỉ chấp nhận cái chuẩn thẩm mỹ được kiến tạo từ  phong trào Thơ mới, không có cơ hội hoặc không muốn tiếp cận những xu hướng phát triển, tìm tòi của thơ hiện đại thế giới...

        Trong một thời kỳ khá dài, thơ Việt Nam (đúng hơn là thơ bắc Việt Nam) tồn tại cách biệt với những trào lưu, xu hướng phát triển của thơ thế giới (trừ nền thơ chính thống trong lòng các nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa). “Ta là ta mà lại cứ mê ta” (Chế Lan Viên) - thái độ chính trị đó gần như chi phối thái độ đối với văn học. Độc giả sống riết trong một môi trường văn học có vẻ an bình, thuần nhất (thực sự khác với cái gay gắt, dữ dội của cuộc đấu tranh chống lại “hai đế quốc to”) nên dễ có ảo tưởng rằng văn học (hoặc thơ) chỉ có bấy nhiêu hình thức, thể loại, bấy nhiêu đề tài, chủ đề và các mặt hình thức, nội dung này của văn học (hoặc thơ) Việt Nam đã đạt đến độ hoàn hảo, tiến bộ, khiến cho nó có thể “đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học chống đế quốc trong thời đại ngày nay”. Nhận thức này được lý luận, phê bình một thời ra sức củng cố, quả đã in sâu vào tim óc của mấy thế hệ độc giả, tạo nên trở ngại không nhỏ cho sự tiếp nhận những mạch thơ khác, những nội dung, hình thức, thể loại khác của thơ xuất hiện sau này, khi đất nước đã bước vào thời kỳ phát triển mới.

         Điều đáng nói nữa là, sau Cách mạng tháng Tám, do điều kiện đặc thù của đời sống chính trị, ở miền Bắc, Thơ mới bị đẩy vào quên lãng. Chỉ sau Đổi mới (1986), Thơ mới mới được phục hồi vị trí vẻ vang. Từ chỗ không có điều kiện (đôi khi tối thiểu) để tìm hiểu về một giai đoạn phát triển đáng tự hào của thơ Việt, độc giả lúc này lại có quá nhiều cơ hội để đọc và thưởng thức nó. Như một sự bù đắp cho những thiệt thòi mà phong trào thơ này phải gánh chịu, Thơ mới bây giờ được “nâng niu”, “chiều chuộng” hơi quá mức, và cái hay mang tính đặc thù (và dĩ nhiên là có giới hạn) của nó phần nào đã được nhìn nhận như là cái hay chung của thơ mọi thời. Chính điều này cũng dựng lên một khó khăn, cản trở cuộc tiếp xúc giữa độc giả với thứ “thơ bây giờ”1 vốn sẵn tinh thần nổi loạn đòi vượt qua Thơ mới.

         Không chỉ có vậy. Thơ Việt Nam từ xưa vốn đề cao chức năng tải đạo, không thích sự viển vông, xa xôi, và truyền thống này được thơ cách mạng củng cố. Nền thơ cách mạng lại được định hướng phát triển theo con đường của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, dị ứng trên tinh thần chung với các tìm tòi hiện đại chủ nghĩa của thơ phương Tây. Chính vì vậy, tiêu chuẩn “Chân, chân, chân! Thật, thật, thật!” (chân, thật theo một cách giải thích đơn giản) gần như được coi là tiêu chuẩn cao nhất của thơ, của văn học. Mang sẵn cách nhìn ấy, niềm tin ấy để đi vào “thơ bây giờ” vốn chứa đầy thí nghiệm nhằm khám phá cái bí ẩn của thế giới tâm linh, vô thức, tiềm thức, nhằm hóa giải những "đại tự sự" hay nhiều khi đơn giản chỉ để khiêu khích một cái gì đã quá cũ, nhàm,... sự không hài lòng (thậm chí bất bình) tất yếu phải xảy ra trong tâm lý tiếp nhận của độc giả. Đó là chưa kể tới sự "khó hiểu" như một trong những đặc trưng của thơ hiện đại (theo sự xác nhận của nhiều nhà nghiên cứu) đã làm mệt óc người thưởng thức thơ, củng cố thêm định kiến đã nói ở họ.

        Do thấy mình "không có trách nhiệm" với sự thăng trầm của thơ (một ngộ nhận có thể cảm thông!), sau khi buông xong lời phàn nàn về tình trạng "thơ bây giờ" xuống cấp, độc giả có thể quên đi tất cả, không còn để ý đến nó nữa. Bao nhiêu món ăn tinh thần khác do các phương tiện giải trí đa dạng của thời đại truyền thông cung cấp đã lôi cuốn họ. Trước tình hình đó, phê bình đã làm gì?

        Ta đang chứng kiến hàng ngày cảnh phê bình trên nhiều tờ báo, tạp chí hoặc quay lưng lại "thơ bây giờ", hoặc phụ họa với “dư luận của công chúng”, đưa ra những tiêu chí cũ để đánh giá thơ và tỏ thái độ nghi ngờ những giọng điệu thơ có khuynh hướng cách tân. Trong nhiều tiêu chí, tiêu chí "tính dân tộc" và "bảo vệ thuần phong mỹ tục" thường vẫn được nêu lên vào những lúc cần có quyết định tối hậu. Thật khó đối thoại với những lập luận được xây dựng dựa trên sự đối lập “thơ bây giờ” với những mẫu mực cổ điển. Nói khác đi dễ bị cho là phủ nhận truyền thống, là lai căng, mất gốc. Từ tình hình này, những nỗ lực tìm tòi con đường mới cho thơ rất dễ bị cản trở. Điều đó vừa không có lợi gì cho thơ  nói riêng, cho văn học nói chung, vừa không có lợi gì cho độc giả. Tầm đón nhận của độc giả không được nâng lên và khả năng hưởng thụ nghệ thuật của họ chỉ đạt được mức độ thấp. Độc giả thành ra đã bỏ phí bao nhiêu cơ hội được tham gia sáng tạo cùng nhà thơ nhằm làm giàu có thêm vốn kinh nghiệm thẩm mỹ của mình.

        Để có thái độ hợp lý trước những hành động cách tân thơ hiện nay, có lẽ phê bình nên xác định rõ hơn chức năng của mình. Chúng tôi tán đồng với Nguyễn Hưng Quốc khi ông cho rằng hai chức năng chính của phê bình là phát hiện cái đẹp quy phạm hóa cái đẹp. Cũng có thể nói đến chức năng thứ ba: phủ định các quy phạm cũ, xây dựng quy phạm mới. Việc phủ định và xây dựng này là một quá trình không bao giờ hoàn tất. Thực ra, chức năng thứ ba  đã được bao hàm trong chức năng thứ hai, bởi công việc quy phạm hóa bao giờ cũng chỉ được triển khai trên nền sự phủ định những quy phạm từng tồn tại trước đó. Thực tế, quy phạm cũ không mất đi đâu hết. Cái bị mất đi chỉ là uy thế tuyệt đối hay vị trí tiên phong mà quy phạm ấy từng có thôi. Nhìn chung, cả ba chức năng của phê bình gắn với nhau chặt chẽ và cùng tồn tại trong mọi thời đại2.

          Nhìn vào thực tế, có thể thấy phê bình chưa thực hiện tốt cả ba chức năng đã nói. Trên văn đàn, loại phê bình thực hành (xét trong hệ thống gồm ba bộ phận: phê bình thực hành, phê bình lý thuyết và phê bình học thuật) có vẻ được nhiều người theo đuổi hơn cả. Tuy nhiên, sự thực hành thường hướng đến việc đưa ra những phán đoán thẩm mỹ về các hiện tượng thơ đã được khẳng định. Ích lợi của hướng thực hành này là giúp độc giả tiếp nhận được sâu sắc hơn về những tác phẩm thơ mà họ đã quen, đã yêu, chí ít thì cũng đã... không ghét. Nhưng chính vì chỉ dầm chân ở đây, phê bình rất dễ đóng vai trò kéo dài bất thường sự tồn tại của những quy phạm cũ, khiến cho sau đó, việc tiếp nhận cái mới trong thơ của độc giả diễn ra khá khó khăn. Ca ngợi Thơ mới, thơ cách mạng và những mẫu mực của nền thơ cổ điển là việc tự nhiên cần làm. Cũng có thể trong việc này, nhà phê bình đạt được những khám phá mới và đưa ra được những cách tiếp cận mới. Nhưng nói cho cùng, nhà phê bình chỉ làm chủ được cách tiếp cận mới khi cái nhìn của anh ta về những hiện tượng cách tân văn học (bao hàm những hiện tượng cách tân đang diễn ra hiện nay) không mang tính chất hẹp hòi, cứng nhắc. Cá nhân một nhà phê bình có thể không bao quát được mọi đối tượng, có thể chỉ chọn cho mình một “khoảnh ruộng thơ” đã được vỡ hoang để tiếp tục thâm canh. Nhưng nếu số đông các nhà phê bình đều ngoảnh mặt (theo những cung cách khác nhau) với “thơ bây giờ” thì hiện tượng đó rõ ràng là tiêu cực. Hậu quả là những quy phạm nghệ thuật lỗi thời không chịu nhường chỗ cho những quy phạm nghệ thuật mới. Cuối cùng hiện tượng đem "thước ngắn" để đo "người dài" tất yếu sẽ xảy ra và nếu có sự không phù hợp thì lỗi thuộc về cái "người quá cỡ". Còn có quá ít những bài phê bình tìm hiểu thật sâu sắc về các hiện tượng thơ “mới” theo hướng phát hiện và khẳng định để mở rộng biên độ của sự cảm thụ thẩm mỹ ở người đọc, giúp họ vượt qua được các rào chắn thẩm mỹ mà tìm đến với các sáng tác có tính cách tân3. Tất nhiên, đã không có sự thực hành trên đối tượng mới thì sự điển phạm hóa, quy phạm hóa cũng chưa thể được bắt đầu, và do vậy, tình trạng thiếu lý thuyết trong phê bình sẽ rất khó tránh (khi nêu luận điểm này, chúng tôi không quên M.M.Bakhtin hay R.Barthes - những người chỉ tập trung nghiên cứu các tác gia cổ điển mà vẫn xây dựng được những quy phạm nghệ thuật mới, những cách nhìn mới cho phê bình văn học. Phải thấy rằng ở đây, hai bậc thầy ấy đã chọn hướng đi vào thi pháp thể loại hay vào cơ chế nội tại của tác phẩm văn học nói chung, còn Dostoievski hay Balzac nhiều khi chỉ tồn tại như những ví dụ minh họa cho các khám phá lý thuyết của họ).

          Để biện minh cho cách ứng xử nêu trên, nhà phê bình có thể viện lí lẽ: thì nhà thơ cứ viết cho hay đi, tôi sẽ ủng hộ! Có thể ở bộ phận thơ mang ý hướng cách tân chưa có những tác phẩm thật sự xuất sắc và những tìm tòi không phải bao giờ đạt được kết quả mong muốn, thậm chí có lúc đưa nhà thơ lâm vào ngõ cụt, nhưng lẽ nào bản thân những tìm tòi ấy lại không đáng được quan tâm? Từ chúng, ta vẫn có thể thấy ló dạng những tiêu chuẩn thẩm mỹ mới cần được khẳng định để mở đường cho thơ phát triển. Luận điểm này có thể bị phản bác: "mới" gì mà "mới", đó chỉ là thứ nhảm nhí, phá phách thôi! Quả thật, cái "nhảm" bao giờ và thời nào chả có, nhưng một khi cái "nhảm" kia không dừng ở mức cá biệt mà kéo thành vệt, cuốn thành trào lưu thì chúng ta không thể đánh giá nó theo cung cách thiếu chuyên nghiệp, đơn giản và hời hợt. Cái hay mà ta thường đòi hỏi ở sáng tác chỉ thực sự hiện ra dưới con mắt biết nhìn, dưới sự phân tích theo những tiêu chuẩn thẩm mỹ phù hợp, và cùng với nó, thậm chí trước nó (trong điều kiện sống của chúng ta bây giờ) là những tiêu chuẩn đạo đức mới giàu tính nhân bản, biết tôn trọng sự tự do của con người. Người ta có thể phê phán hiện tượng "sinh dục hóa thơ ca" (chữ dùng của nhà văn Trần Vũ), nhưng sự phê phán đó chỉ mang tính chất đối thoại nghiêm túc một khi nó được luận chứng chặt chẽ, chứ không phải được phát biểu dựa vào ấn tượng chủ quan hay cái "gu" riêng của người viết như ta đã thấy ở một số bài phê bình về tập thơ Linh của Vi Thùy Linh hay về thơ của một số cây bút nữ trẻ Sài Gòn. Cũng tương tự, việc phàn nàn về sự thiếu vắng ý thức công dân trong "thơ trẻ" thường vẫn xuất phát từ một ý niệm khá cũ về chính cái gọi là "ý thức công dân" kia. Ý thức công dân trong thơ bây giờ có đặc điểm riêng, khác với thơ thời chống Mỹ. Chẳng phải bao giờ nhà thơ cũng nói thẳng ra được điều muốn nói, đó là chưa kể tới điều, họ, hoặc muốn biểu lộ tinh thần công dân trên tư cách một người làm nghệ thuật và theo kiểu của nghệ thuật, hoặc phủ nhận nó, không xem nó là một yếu tính của thơ...

         Tiếp tục nói chuyện khen chê đối với thơ, độc giả này có thể buông lời “thơ bây giờ không ra gì” nhưng độc giả khác lại có thể nói ngược hẳn và sẵn sàng đưa ra một danh sách dài những bài hay theo góc nhìn của họ. Trước những tác phẩm như Bóng chữ, Ngó lời của Lê Đạt, Ngựa biển, Người đi tìm mặt của Hoàng Hưng, Sự mất ngủ của lửa, Những người đàn bà gánh nước sông, Bài ca những con chim đêm của Nguyễn Quang Thiều, Đêm mặt trời mọc, Khí hậu đồ vật, Của căn cước ẩn dụ của Nguyễn Quốc Chánh, Bầu trời lông gà lông vịt của Trần Tiến Dũng, Chất trụ, Vỉa từ của Nguyễn Hữu Hồng Minh, Nằm nghiêng của Phan Huyền Thư, Mặc xanh áo em của Trần Nguyễn Anh, thơ của các thành viên nhóm Mở miệng, thơ Phan Bá Thọ, thơ Phan Nhiên Hạo, thơ Nguyễn Hoàng Tranh v.v., ý kiến đánh giá thật khác nhau, khen có, mà chê (thậm chí mạt sát) cũng có. Như người ta quen nói, đây là chuyện hết sức bình thường, có thể tạo cho phê bình có nhiều cơ hội tự đổi mới mình. Cú va chạm giữa những tác phẩm thơ nêu trên đối với các quy phạm cũ có thể làm công chúng thơ hoang mang nhưng lẽ nào lại làm rối trí những người phê bình có ý thức cao về nghề nghiệp?

          Những người quan tâm đến sự phát triển của thơ Việt mong đợi phê bình từng bước giúp độc giả làm quen và thưởng thức được những giọng thơ mới lạ để cải tiến “khẩu vị” cho họ, thu hẹp khoảng cách thẩm mỹ giữa họ với thành tựu của các nhà cách tân; trong nỗ lực này, cần phối hợp giới thiệu các thành tựu của thơ thế giới đương đại trên một tinh thần cởi mở và hiểu biết, có thuyết minh, dẫn giải cẩn thận4. Người ta cũng muốn thấy phê bình xây dựng được những quy phạm mới phù hợp với giai đoạn phát triển mới của thơ thông qua việc phân tích, cắt nghĩa lý do có mặt hợp quy luật của các hiện tượng thơ ly khai với truyền thống cũ; ủng hộ việc lập nên những giải thưởng chuyên dành cho các sáng tác mang tính cách tân. Sau nữa, người ta chờ đợi phê bình đặt vấn đề nghi ngờ tính hợp lý, hợp pháp của sự tồn tại các quy phạm cũ trong bối cảnh mới - những quy phạm mà chính phê bình trước đó đã cổ súy, ủng hộ; thấm nhuần "tinh thần lịch sử" khi thực hiện các công trình nghiên cứu chuyên sâu về những hiện tượng thơ của một thời đã qua.

          Những niềm mong mỏi (cũng là yêu cầu) nói trên không hề quá đáng đối với phê bình. Chẳng qua người ta muốn thấy phê bình chứng tỏ được sự tồn tại của nó trong ba mối quan hệ chính (cũng là những quan hệ xác định vai trò quan trọng của phê bình trong đời sống văn học): phê bình với độc giả, phê bình với sáng tác và phê bình với bản thân phê bình.

       Xin nói kỹ hơn về một điểm từng được đề cập. Hiển nhiên trong thơ vẫn có chuyện chạy theo mốt này mốt nọ giống như  trong lĩnh vực thời trang, nhưng về nguyên tắc, giữa cái theo mốt và cái cách tân thật sự có sự phân biệt khá rõ. Hoàng Ngọc Tuấn có ý kiến về vấn đề này rất xác đáng: “Người có ý thức về nghệ thuật cần phân biệt được đâu là tiền phong và đâu là thời trang. Trong nghệ thuật, điểm dễ phân biệt nhất nằm ở chỗ: cái tiền phong thì thường không mang tính thương mại, trong khi cái thời trang thì bán rất chạy. Đi vào sâu hơn, ta thấy cái tiền phong ra đời hôm nay là để tạo tiền đề cho một hệ thẩm mỹ mới được phổ cập trong tương lai, còn cái thời trang ra đời hôm nay là nhằm thỏa mãn cái thị hiếu “fast food” hôm nay mà thôi. Đi vào sâu hơn nữa, ta thấy cái thời trang bao giờ cũng là sự tập hợp những trò tiểu xảo lượm được từ kho đồ cũ của những cái tiền phong từ ngày xưa để lại. Vì thời trang là những trò tiểu xảo như thế, tự bản chất, cái thời trang hầu như hoàn toàn được xây dựng trên những cơ sở thẩm mỹ cũ, và nhắm đến việc làm trò giải trí nhẹ cho đám đông. Do đó, nó là một thứ bán chạy”5. Như vậy, muốn có được một sự phân định đúng đắn đâu là cách tân và đâu là “ngụy cách tân”, nhà phê bình phải thực sự đi vào thế giới của thơ đương đại với tư cách là người bạn đồng hành chứ không thể chỉ đứng ngoài mà xét nét. Người ta chỉ nên "mất ngủ" (mượn chữ của Trịnh Thanh Sơn trong bài Thơ trẻ... mất ngủ6) vì mải tìm lối tiếp cận "thơ trẻ"7 chứ không phải vì định kiến đối với nó. Sự dè bỉu đây đó đối với "thơ trẻ" nhiều khi chỉ bộc lộ tính bảo thủ của người phê bình hay nỗi bất lực của anh ta trong việc mở cánh cửa bước vào những hệ thẩm mỹ mới. Tệ hơn, nhiều lúc nó mang tính chất của một trò gian lận: ta không thực sự nói về đối tượng hiện hữu mà nói về chính sự hình dung sai lệch, đôi khi méo mó của ta về đối tượng. Đối tượng và sự hình dung (hay gán ghép) về đối tượng rõ ràng là hai phạm trù khác nhau. Cũng trên vấn đề này, người phê bình phải có tầm bao quát rộng rãi và có đủ tư liệu để đánh giá (việc này thật khó khăn trong điều kiện "bùng nổ" của các phương tiện truyền thông, báo chí, các hình thức xuất bản8 bây giờ). Chỉ thấy từng mảnh của một hiện tượng thơ hay chỉ nhìn hiện tượng thơ ấy trong thế cô lập (cô lập với sự vận động của cả một phong trào, trào lưu thơ - trong nước và trên thế giới), hiển nhiên, nhà phê bình khó mà đưa ra được những phán đoán có sức thuyết phục. Có lẽ, chưa khi nào tham vọng muốn bao quát đường nét vận động của cả một nền thơ lại gặp nhiều cái "khó" như bây giờ.

           Hiện nay, không ít người, cứ nghe nói đến các cụm từ đa đa, siêu thực, tượng trưng, hiện sinh, hiện đại chủ nghĩa, hậu hiện đại... là dị ứng. Thơ nào bị liệt vào các loại đó đều có vẻ đáng ngờ. Hiện tượng đặc biệt này nảy sinh trên cơ sở một sự hiểu biết hạn chế, thậm chí méo mó về các trào lưu  thơ, trường phái thơ của phương Tây và thế giới - sự “hiểu biết” mà phê bình  từng truyền bá nhân danh sứ mệnh giữ gìn sự thuần khiết của nền thơ Việt (ở đây ta đang nói tới trách nhiệm chung của nền phê bình chứ không phải đang phê phán một ai cụ thể). Thực tế đòi hỏi, đối với nhà phê bình, hoạt động “phê” phải đi sau hoạt động nghiên cứu có bài bản về đối tượng phê bình và học hỏi lý thuyết. Kiểu nói cảm tính và thiếu sở cứ trước hết sẽ làm hại thơ, làm hại độc giả và sau nữa, sẽ làm hại chính phê bình. Nhà thơ Nguyễn Quốc Chánh từng phát biểu: “Cái thiếu của thơ trẻ cũng là cái không có của thơ Việt”. Như vậy, việc đánh giá về những tìm tòi của thơ “trẻ” dựa vào các chuẩn cứ đã có là không phù hợp. Nguyễn Quốc Chánh còn khẳng định: “Cái thiếu của thơ trẻ là thiếu những nhà phê bình. Những bài gọi là phê bình trên sách báo là sự lúng túng cùng quẫn của gà mắc tóc giữa giáo điều và cảm xúc. Cái đạo đức dày cộm giấu trong những bài phê bình là để che cái trịch thượng và quan liêu từ những biến thái của đức tin về tàn dư của chữ Tâm và xa hơn chút xíu là chữ Đạo. Và cái học kem sữa thì chỉ mỏng dzính đủ để diễn cho hoa mỹ các con chữ [...]. Cái khốn cùng của phê bình là tiêu biểu cho cái tiêu điều ở đỉnh cao của tình trạng người đọc”9. Lời phê phán gay gắt thể hiện tâm trạng bức xúc kia hoàn toàn không xa sự thật!

         Dĩ nhiên, việc trình bày những điều trên không đồng nghĩa với việc khẳng định thơ Việt bây giờ đang có những cách tân thực sự "tầm vóc", đáng khâm phục. Do điều kiện phát triển đặc thù của mình, nền thơ Việt, nhìn trên nét lớn, đã đi chậm so với thế giới (hoàn toàn có thể nói điều này nếu ta đã thừa nhận quy luật phát triển theo hướng hiện đại hóa của văn học Việt Nam kể từ đầu thế kỷ XX). Trong tình hình đó, những nỗ lực học hỏi thơ thế giới, kể cả thơ đương đại lẫn thơ của những thời đã qua thật rất đáng khuyến khích. Có những cái thế giới đã đi qua nhưng ta chưa đi qua, tại sao lại không thể tiếp nhận và vận dụng nếu thấy cần thiết? Chẳng phải ông cha ta xưa từng học (hay là tập làm theo mẫu) thơ Đường, thơ Tống, khi thời thịnh của chúng ở Trung Quốc đã từng qua rất lâu rồi hay sao? Sự thực, việc vận dụng hoàn toàn khác với việc lặp lại. Chẳng hạn, quan niệm về thơ của Lê Đạt “Chữ bầu lên nhà thơ” mang dấu vết quan niệm của S.Mallarmé, P.Valéry và sau đó là của J.P.Sartre - toàn là những người của “thời xưa” - nhưng sáng tác của ông đâu có phải là sự mô phỏng tầm thường sáng tác của các nhà thơ nước ngoài mà ông học tập? Và điều quan trọng là nó thực sự đã đưa lại những những điểm mới cho thơ Việt bây giờ. Cũng vậy, không thể vì nghe Nguyễn Hữu Hồng Minh tuyên bố muốn khai mở một dòng thơ siêu hình ở Việt Nam mà kêu lên rằng thứ đó có gì mới đâu, so với phương Tây! Ở đây, vấn đề chính yếu là loại thơ đó đã làm phong phú thêm cho thơ Việt hiện nay như thế nào, cả về cách nhìn thế giới lẫn cách biểu đạt (thật ra, có cách biểu đạt khác tức là đã có cách nhìn thế giới khác). Đó là chưa kể việc ta không thể vin vào những lời tuyên bố (nhiều khi chỉ mang tính chất giật gân để gây chú ý hay để "tiếp thị") mà đánh giá suông, không qua khảo sát thực tế sáng tác. Riêng với Nguyễn Hữu Hồng Minh, từ Chất trụ tới Vỉa từ rồi những bài thơ sau Vỉa từ, con đường tìm tòi đang mở ra nhiều hướng, đâu có gò vào một lối nhất định. Nói tóm lại, đối với những người đang nỗ lực làm mới thơ Việt, người đọc thơ nói chung, trước hết là nhà phê bình phải thấy rằng họ đang muốn đóng góp cho nền văn hóa, văn học dân tộc. Nhân danh việc bảo vệ bản sắc dân tộc để bài bác họ là một việc không đúng, và xét theo góc độ nào đó, là việc cản trở hành động làm phong phú thêm cái “bản sắc” đã có.

 

                                                                                                                                                                           2005

Chú thích và tài liệu tham khảo

1.       Khái niệm này không thực sự mang tính chuyên môn nhưng thường xuất hiện trên cửa miệng của nhiều độc giả. Xét theo cách dùng và hoàn cảnh dùng, có thể hiểu nó chỉ một bộ phận thơ hiện nay có nhiều tìm tòi, dổi mới theo hướng hiện đại chủ nghĩa hoặc hậu hiện đại.

2.       Xem: Nguyễn Hưng Quốc, Chức năng chính của phê bình trong thời điểm hiện nay, http://www.tienve.org.

3.       Gần đây, trên một số báo, tạp chí liên mạng, đã thấy xuất hiện những bài viết đáng chú ý của Inrasara, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Lý Đợi... đi sâu đánh giá các hiện tượng thơ cách tân từ các nguyên tắc mỹ học có thể xem là mới mẻ. Mấy tác giả nói trên đều là nhà thơ. Rõ ràng, họ không an tâm "thả nổi" sáng tác của mình, của thế hệ mình cho các nhà phê bình chuyên nghiệp.

4.       Điều này đã được một số dịch giả như Diễm Châu, Nguyễn Đăng Thường, Thủy Trúc, Cù An Hưng, Hoàng Ngọc Biên, Đinh Linh... làm rất có hiệu quả. Các bản dịch của họ về thơ hiện đại, đương đại thế giới được đăng tải đều đều trên các trang web như Tiền vệ, Tạp chí thơ...  

5.       Hoàng Ngọc Tuấn, Vấn đề viết và đọc văn chương, http://www.tienve.org

6.       Văn nghệ Trẻ, số 51, 21/12/2003.

7.       Khái niệm này cũng biến động và thiếu tính xác định. Cho đến bây giờ có thể tạm hiểu: nó dùng để chỉ bộ phận thơ có nhiều đổi mới về thi pháp của các thế hệ nhà thơ xuất hiện sau 1975, nhất là thế hệ được gọi là @. 

8.       Ở thành phố Hồ Chí Minh có hiện tượng các nhà thơ trẻ tự in lấy thơ của mình dưới hình thức photo. Từ đây, một thứ "văn hóa photo" dần được hình thành.

9.       Nguyễn Quốc Chánh, Cái thiếu của thơ trẻ cũng là cái không có của thơ Việt, http://www.talawas.org.

 

Phan Huy Dũng
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1