Hội thảo quốc tế Nghiên cứu ASEAN năm 2026: Kết nối phát triển, Đổi mới và Bản sắc văn hóa
Hội thảo Quốc tế Nghiên cứu ASEAN năm 2026 với chủ đề “ASEAN-ROK Partnership in the Era of Crisis: Bridging Development, Innovation, and Cultural Identity” (Quan hệ đối tác ASEAN - Hàn Quốc trong kỷ nguyên khủng hoảng: Kết nối phát triển, đổi mới và bản sắc văn hóa) đã được tổ chức tại Hà Nội trong hai ngày 23 và 24 tháng 10 năm 2026. Viện Văn học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) phối hợp cùng Khoa Đông Phương học (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) và Viện Nghiên cứu ASEAN - Đại học Ngoại ngữ Busan (KIAS-BUFS) đồng tổ chức Hội thảo, cùng sự đồng hành của nhiều viện nghiên cứu và đại học uy tín của Việt Nam và khu vực Đông Á, Đông Nam Á. Hội thảo đã quy tụ đông đảo các học giả quốc tế đến từ Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Brunei, Indonesia, Mỹ, Singapore, Nhật Bản,… nhằm thảo luận các vấn đề về phát triển bền vững, biến đổi khí hậu, bản sắc và văn hóa của các quốc gia ASEAN trong mối quan hệ với Hàn Quốc.

Sáng ngày 23 tháng 10, Hội thảo chính thức được khai mạc và bắt đầu các phiên thảo luận tại Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội). Phiên khai mạc diễn ra trong không khí trang trọng với phát biểu chào mừng của đại diện ba đơn vị đồng tổ chức: Viện Nghiên cứu ASEAN - Đại học Ngoại ngữ Busan (KIAS-BUFS), Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Đại diện cho Viện Văn học, TS. Nguyễn Huy Bỉnh khẳng định hợp tác ASEAN - Hàn Quốc có ý nghĩa về kinh tế và ngoại giao, cũng như về sự kết nối trong nghiên cứu, giáo dục, văn hóa và trao đổi học thuật. Hội thảo lần này chính là minh chứng cho sự kết nối đó. TS. Nguyễn Huy Bỉnh nhấn mạnh: Với thế mạnh về nghiên cứu văn học Việt Nam, lý luận văn học, văn học so sánh, văn học nước ngoài và dịch thuật, Viện Văn học chúng tôi hy vọng có thể đóng góp thêm góc nhìn của văn học và khoa học nhân văn vào những trao đổi chung của hội thảo.

Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Huy Bỉnh, Phó Viện trưởng phụ trách Viện Văn học phát biểu tại Phiên Khai mạc
Anh-tin-bai
Slide giới thiệu về Viện Văn học tại Hội thảo

Tiếp nối phiên khai mạc là phiên toàn thể. Trong phiên này, đại diện 20 viện nghiên cứu và trường đại học của Hàn Quốc, Việt Nam, Philippines, Indonesia, Thái Lan, Hà Lan đồng chủ trì sẽ giới thiệu về đơn vị mình nhằm thể hiện sự kết nối và khả năng hợp tác trong tương lai. PGS.TS. Phạm Phương Chi đại diện Viện Văn học giới thiệu về Viện.

Phiên làm việc của các tiểu ban cụ thể chính thức bắt đầu từ 10 giờ ngày 23/10/2026. Hội thảo được chia làm 3 phần với 21 tiểu ban, gắn với các chủ đề cụ thể về văn hóa, văn học, giáo dục, điện ảnh, di sản, môi trường, năng lượng, lao động, di cư, tính bền vững, bản sắc, giới, ký ức… Viện Văn học đề xuất hai tiểu ban (tiểu ban 5, tiểu ban 7); các nhà nghiên cứu Viện Văn học chủ trì và đồng chủ trì 4 tiểu ban (tiểu ban 1, tiểu ban 5, tiểu ban 7 và tiểu ban 8); các nhà nghiên cứu Viện Văn học tham gia thuyết trình tại 3 tiểu ban (tiểu ban 5, tiểu ban 7, tiểu ban 10).

Tiểu ban 1: Cultural Heritage, ASEAN Regional Integration, and Korea's Role (tạm dịch: Di sản văn hóa, hội nhập khu vực ASEAN và vai trò của Hàn Quốc)

Anh-tin-bai
Tiểu ban 1: Cultural Heritage, ASEAN Regional Integration, and Korea's Role (tạm dịch: Di sản văn hóa, hội nhập khu vực ASEAN và vai trò của Hàn Quốc) do PGS.TS. Phạm Phương Chi (Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) chủ trì điều phối

Tiểu ban 1 do PGS.TS. Phạm Phương Chi chủ trì. Đây là phiên thảo luận bàn tròn đặc biệt do Trung tâm Thông tin và Mạng lưới quốc tế về di sản văn hóa phi vật thể khu vực châu Á - Thái Bình Dương của UNESCO đề xuất với các tham luận tập trung về vấn đề bảo tồn và phát triển di sản văn hóa, kết nối và duy trì bản sắc, công nghệ sáng tạo, chuyển đổi số và hợp tác khu vực ASEAN trong bối cảnh phát triển công nghệ hiện nay. Phiên thảo luận quy tụ các diễn giả đến từ Thái Lan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Indonesia, Philippines…

Tiểu ban 5: Stories from the Plantation: Labor, Landscape, and Vietnamese Modernity (tạm dịch: Những câu chuyện từ đồn điền: Lao động, cảnh quan và tính hiện đại của Việt Nam)

Phiên hội thảo này do TS. Nguyễn Phương Thảo và TS. Đỗ Thị Hường (Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) cùng chủ trì. Trong phiên hội thảo, có 3 tham luận được trình bày: tham luận của TS. Đỗ Thị Thanh Nga (Trường Khoa học Liên ngành và nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội), TS. Đỗ Thị Hường (Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), TS. Đoàn Ánh Dương (Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên) - nhà nghiên cứu Lê Nguyên Long (Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).

Anh-tin-bai
Tiểu ban 5: Stories from the Plantation: Labor, Landscape, and Vietnamese Modernity do TS. Nguyễn Phương Thảo và TS. Đỗ Thị Hường (Viện Văn học) cùng chủ trì điều phối.
 TS. Đỗ Thị Thanh Nga trình bày tham luận “The Plantation as an Ontological Lens: Juxtaposing Rural Construction in the Works of Tự Lực Văn Đoàn and the Anthropological Research of Sophie Chao” (tạm dịch: “Đồn điền như một lăng kính bản thể luận: Đặt cạnh nhau sự kiến tạo nông thôn trong các tác phẩm của Tự Lực Văn Đoàn và nghiên cứu nhân học của Sophie Chao”). Bài trình bày của TS. Đỗ Thị Thanh Nga đã xem xét lại ý nghĩa của các đồn điền được khắc họa trong văn học Việt Nam - cụ thể là trong các tác phẩm của nhóm Tự Lực văn đoàn - bằng cách đặt chúng bên cạnh khuôn khổ lý thuyết nhân học do học giả đương đại, Tiến sĩ Sophie Chao đề xuất trên cơ sở những nghiên cứu về đồn điền cọ dầu ở Tây Papua. Bài thuyết trình đã mang đến một góc nhìn liên ngành đầy thú vị.

TS. Đỗ Thị Hường trình bày tham luận “The Livelihoods of Vietnamese Village Residents in Contemporary Poland - The Case of Tran Quoc Quan’s Village Shadow” (tạm dịch: “Sinh kế của cư dân làng Việt tại Ba Lan đương đại - Trường hợp Bóng làng của Trần Quốc Quân”). Trong tham luận, TS. Đỗ Thị Hường đã cung cấp những thông tin về cộng đồng người Việt tại Ba Lan, sinh kế của người Việt tại Ba Lan qua tập truyện ngắn Bóng làng của Trần Quốc Quân và cách người Việt giữ gìn bản sắc văn hóa làng khi đang sinh sống tại Ba Lan. Đó là biểu hiện của tinh thần cố kết cộng đồng, sự đồng cảm và chia sẻ, giúp đỡ hỗ trợ nhau của người Việt ở xa quê hương.

Anh-tin-bai
Nhà nghiên cứu Lê Nguyên Long trình bày tham luận tại Tiểu ban 5

Diễn giả Lê Nguyên Long thay mặt nhóm tác giả Đoàn Ánh Dương, Lê Nguyên Long trình bày tham luận “Plantations and Mines as New Social and Literary Spaces in Colonial Vietnam” (tạm dịch: “Các đồn điền và hầm mỏ: Những không gian xã hội và văn học mới tại Việt Nam thời thuộc địa”). Bài thuyết trình của diễn giả Lê Nguyên Long-Đoàn Ánh Dương đã mang đến những góc nhìn đầy thú vị về bối cảnh xã hội Việt Nam cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, đặc biệt là sự xuất hiện của các đồn điền và hầm mỏ. Bài thuyết trình cũng cung cấp những thông tin đáng chú ý về các chính sách của thực dân Pháp, chẳng hạn như “cải cách hành chính nông thôn” và “di dân”. Bên cạnh đó, diễn giả còn chia sẻ những thông tin hữu ích về các tác phẩm văn học Việt Nam đầu tiên đề cập đến chủ đề này.

Các tham luận đã nhận được những trao đổi sôi nổi từ TS. Nathanoot Udomlamun (Đại học Kasetsart, Thái Lan), TS. Hán Thị Thu Hiền (Đại học Hùng Vương) và các học giả khác đến từ Indonesia, Việt Nam…

Tiểu ban 7: “Laboring Bodies, Colonial Modernity, and Cultural Resistance in Vietnamese Texts” (Những thân thể lao động, sự hiện đại thời thuộc địa và sự kháng cự văn hóa trong các văn bản Việt Nam)

Tiểu ban 7 diễn ra trong không khí học thuật sôi nổi và giàu tinh thần phản biện. Dưới sự điều phối của TS. Nguyễn Huy Bỉnh và ThS. Mai Thị Thu Huyền, năm tham luận của tiểu ban 7 đã làm rõ một tiến trình lịch sử: từ những thân thể lao động bị đày ải, bóc lột và tổn thương dưới ách cai trị thực dân đến bước chuyển mình để trở thành những chủ thể lịch sử trong giai đoạn 1954-1975.

Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Huy Bỉnh trình bày tham luận và cùng ThS. Mai Thị Thu Huyền (Viện Văn học) điều phối Tiểu ban 7: “Laboring Bodies, Colonial Modernity, and Cultural Resistance in Vietnamese Texts”

Mở đầu phiên làm việc, TS. Nguyễn Huy Bỉnh đưa khán giả ngược dòng thời gian về vùng mỏ Quảng Ninh thời Pháp thuộc qua tham luận “Labor Landscape and Miners’ Resistance in French Colonial Quảng Ninh: A Study of Mining Folk Verses” (tạm dịch: “Cảnh quan lao động và sự phản kháng của người thợ mỏ ở Quảng Ninh thời Pháp thuộc qua ca dao vùng mỏ”). Khám phá một kho lưu trữ văn hóa dân gian là ca dao vùng mỏ, diễn giả tái hiện bức tranh lao động khắc nghiệt với môi trường phi nhân tính, bạo lực trong hầm lò, sự đọa đày và lạm dụng nữ phu mỏ, đồng thời làm nổi bật bước chuyển dịch từ phản kháng tự phát sang đấu tranh có tổ chức của công nhân mỏ Quảng Ninh đầu thế kỷ XX.

Anh-tin-bai
ThS. Đặng Thị Thái Hà (Viện Văn học) trình bày Tham luận

Tiếp nối mạch trần thuật về thân thể lao động, ThS. Đặng Thị Thái Hà chuyển trọng tâm từ hầm mỏ tối tăm lên không gian đô thị qua tham luận về chiếc xe kéo và người phu xe dưới lăng kính nam tính của R. Connell: “Means of Transportation, Labor, and Colonial Masculinities (Rickshaw Pullers in the Context of Vietnamese Colonial Urbanism and Literature)” (tạm dịch: “Phương tiện giao thông, lao động và những nam tính thời thuộc địa (Phu xe kéo trong bối cảnh đô thị và văn chương Việt Nam thời thuộc địa”). Thông qua các tác phẩm như “Tôi kéo xe” của Tam Lang, “Người ngựa - Ngựa người” của Nguyễn Công Hoan và “Tố Tâm” của Khái Hưng, diễn giả chỉ ra nam tính bị lề hóa của người phu xe, đồng thời cho thấy cơ chế giám sát của không gian công cộng đối với phụ nữ qua chi tiết chọn xe bánh sắt hay bánh cao su. Hai tham luận của TS. Nguyễn Huy Bỉnh và ThS. Đặng Thị Thái Hà gặp nhau ở việc khám phá sự bạo liệt của cơ chế bóc lột thể xác con người ở Việt Nam thời thuộc địa.

Anh-tin-bai
ThS. Quách Thị Thu Hiền (Viện Văn học) trình bày Tham luận

Những suy ngẫm về thân phận của những con người ở dưới đáy xã hội đô thị tiếp tục được gợi mở qua tham luận của ThS. Quách Thị Thu Hiền về nhà thổ và hệ thống mại dâm hợp pháp tại Hà Nội đầu thế kỷ XX: “Brothels, Prostitution, and Colonial Chastity Politics (Prostitutes in Hanoi in Early Twentieth Century Vietnamese Newspapers and Novels)” (tạm dịch: “Nhà thổ, mại dâm và chính trị trinh tiết thời thuộc địa: Gái mại dâm ở Hà Nội trong báo chí và tiểu thuyết Việt Nam đầu thế kỷ XX”). Khảo sát báo chí và tiểu thuyết Việt Nam giai đoạn này, tác giả nhấn mạnh lăng kính kiểm soát phụ nữ từ góc nhìn nam quyền của trí thức đương thời, đồng thời đặt ra câu hỏi: Liệu khẩu hiệu “mại dâm không phải lỗi của người phụ nữ” hay khái niệm “trinh tiết tinh thần” ở Việt Nam những năm 1930 có thực sự là bước giải phóng hay chỉ là một hình thức kiểm soát ngầm dưới vỏ bọc tiến bộ?

Anh-tin-bai
ThS. Nguyễn Kim Nhạn (Viện Văn học) trình bày Tham luận

Đến lượt mình, ThS. Nguyễn Thị Kim Nhạn mở rộng tầm nhìn của khán giả sang bình diện xuyên quốc gia với tham luận “Vietnamese Laborers and Miners in Imperial France: From Forgotten History to the Second Generation's Attempt to Restore Honor (The Case of Clément Baloup's Graphic Novels)” (tạm dịch: “Lính thợ và phu mỏ Việt Nam ở đế chế Pháp: Từ lịch sử bị lãng quên đến những nỗ lực khôi phục phẩm giá của thế hệ thứ hai”). Nghiên cứu hai tiểu thuyết hình họa của Clément Baloup viết về lính thợ trong Thế chiến II và phu mỏ tại Nouvelle-Calédonie, diễn giả vận dụng lý thuyết quyền lực của Foucault kết hợp khái niệm “hậu ký ức” của Marianne Hirsch để nêu bật những nỗ lực khôi phục ký ức bị đứt gãy, đòi lại phẩm giá cho những người lao động Việt Nam bị bóc lột và đày ải nơi xứ người. 

Nếu bốn tham luận đầu tiên vẽ nên một bức tranh toàn diện về những thân phận lao động chịu đựng nhiều tầng chấn thương và bất công dưới bóng tối của cấu trúc thực dân, thì tham luận cuối cùng của ThS. Mai Thị Thu Huyền - “Labor Hero and Exploiter: Reimagined Identities of Thạch Sanh and Lý Thông in North Vietnam, 1954-1975” (tạm dịch: “Anh hùng lao động và kẻ bóc lột sức lao động: Những căn tính mới của Thạch Sanh và Lý Thông ở miền Bắc Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975”) đã chỉ ra sự chuyển biến mang tính bước ngoặt khi người lao động bước lên đài danh dự. Bằng phương pháp so sánh lịch sử văn hóa, tham luận phân tích cách các nghệ sĩ và học giả Marxist ở miền Bắc trong những năm 1954-1975 đã kiến tạo và củng cố căn tính anh hùng lao động cho Thạch Sanh và kẻ bóc lột cho Lý Thông. Diễn giả cho rằng việc tái định hình căn tính cho hai nhân vật hư cấu này có sự gắn bó chặt chẽ với việc thiết lập và tôn vinh hình mẫu “con người mới” thuộc giai cấp vô sản ở miền Bắc lúc bấy giờ.

Năm tham luận của Tiểu ban 7 đã phục dựng sinh động một dòng chảy lịch sử ở Việt Nam thế kỷ XX: từ những thân thể lao động bị bóp nghẹt, đày ải và phân tầng dưới ách đô hộ của thực dân Pháp (qua ca dao mỏ Quảng Ninh, hình tượng người phu xe, thân phận kỹ nữ đô thị cho đến những người lính thợ tha hương nơi đất khách), bước qua những đứt gãy và chấn thương của ký ức tập thể, để rồi vươn lên mạnh mẽ, tự chủ và được tôn vinh xứng đáng trong vai trò “con người mới” của công cuộc kiến thiết xã hội chủ nghĩa giai đoạn 1954-1975.

Anh-tin-bai
Tiểu ban 5 chụp tấm ảnh chung sau phiên hội thảo

Phần thảo luận sôi nổi với những nhận xét sắc sảo và gợi ý thú vị từ TS. Trần Thị Ánh Nguyệt, TS. Nguyễn Thị Kim Tiến, Nhà nghiên cứu trẻ Vũ Hồng Mai Phương cùng các diễn giả đã góp phần làm nên chiều sâu học thuật của Tiểu ban 7. Các vấn đề được đặt ra bao gồm tiềm năng của việc đối chiếu giữa ca dao đất mỏ Quảng Ninh với văn học thành văn để tìm ra những tiếng nói kháng cự của các cơ thể bị trị; giải phẫu mối liên hệ ngầm giữa cơ chế quyền lực thuộc địa và cấu trúc gia trưởng qua hình tượng người phu xe và sự giám sát không gian của phụ nữ; lằn ranh mỏng manh giữa sự giải phóng và kiểm soát ngầm trong tư tưởng nam quyền thập niên 1930 đối với vấn đề mại dâm và trinh tiết; bản chất và những động lực thúc đẩy việc trưng dụng nhân vật Vương Thúy Kiều trong các tranh luận của trí thức Việt Nam đầu thế kỷ XX; ưu thế của tiểu thuyết hình họa so với các thể loại truyền thống trong việc trình hiện và khôi phục ký ức của lính thợ, phu mỏ; và những căn nguyên khiến thế hệ thứ nhất lựa chọn im tiếng thay vì tự biểu đạt những chấn thương của mình.

Tiểu ban 8: Literature - Arts - Cultural Industries and the ASEAN-ROK Creative Economic Value Chain (tạm dịch: Văn học - nghệ thuật - công nghiệp văn hóa và chuỗi giá trị kinh tế sáng tạo Asean-Hàn Quốc) 

Anh-tin-bai
TS. Nguyễn Phương Thảo (Viện Văn học, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) điều hành Tiểu ban 8: Literature - Arts - Cultural Industries and the ASEAN-ROK Creative Economic Value Chain

Tiểu ban 8 do TS. Nguyễn Phương Thảo điều phối. Phiên làm việc này đã quy tụ các tham luận hấp dẫn về chủ đề công nghiệp văn hóa, các hoạt động bảo tàng, văn hóa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam - Hàn Quốc, cái nhìn hòa giải và hòa hợp qua các tác phẩm viết về thời hậu chiến của Việt Nam… Các tham luận được các học giả đến từ Việt Nam, Hàn Quốc, Brunei… thảo luận sôi nổi.

Tiểu ban 10: Green Transition and Sustainable Development: South Korea's Experience and Policy Implications for ASEAN (tạm dịch: Chuyển đổi xanh và phát triển bền vững: Kinh nghiệm của Hàn Quốc và định hướng chính sách cho ASEAN)

Tiểu ban 10 có sự tham gia thuyết trình của nghiên cứu viên Vũ Hồng Mai Phương với tham luận “Colonial exploitation and environ-mental change: Literary perspectives from Korea and Vietnam” (tạm dịch: “Khai thác thuộc địa và biến đổi môi trường: Góc nhìn văn học từ Hàn Quốc và Việt Nam”). Từ góc nhìn phê bình sinh thái, tiếp cận tác phẩm The Soil của Yi Kwang-su và Phú Riềng đỏ của Trần Tử Bình, bài thuyết trình phân tích những hoạt động nông nghiệp được thực hiện dưới sự kiểm soát của chính quyền thực dân đã thay đổi như thế nào, đồng thời khám phá mối quan hệ giữa cộng đồng dân cư bản địa với môi trường. Cùng đặt trong hệ thống kinh tế của hai quốc gia Hàn Quốc và Việt Nam lúc bấy giờ, tác giả đã đem đến những gợi ý về sự phát triển bền vững và nền kinh tế xanh trong bối cảnh toàn cầu. Phần trình bày đã nhận được sự trao đổi của điều phối viên chính trong Tiểu ban - TS. Alfredha Shinta Putri (Đại học Hồi giáo Indonesia) và TS. Phùng Thị Thảo (Khoa Đông Phương học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội).

Anh-tin-bai
Nghiên cứu viên Vũ Hồng Mai Phương (Viện Văn học) tham luận và trao đổi với học giả điều phối viên chính trong Tiểu ban - TS. Alfredha Shinta Putri (Đại học Hồi giáo Indonesia)

Bên cạnh đó, các diễn giả và người tham dự của tiểu ban cũng có những trao đổi thú vị xung quanh vấn đề biến đổi khí hậu (diễn giả Nguyễn Thị Thùy Trang, Việt Nam), vấn đề lãng phí tài nguyên (diễn giả Hồ Thị Thành, Việt Nam), vấn đề hợp tác năng lượng Hàn Quốc-Việt Nam (diễn giả Phùng Thị Thảo, Việt Nam), vấn đề thách thức quản lý (diễn giả Phạm Thị Thu Hà, Việt Nam)…

Hội thảo Quốc tế “Quan hệ đối tác ASEAN - Hàn Quốc trong kỷ nguyên khủng hoảng: Kết nối phát triển, đổi mới và bản sắc văn hóa” thực sự đã quy tụ những nghiên cứu chất lượng cùng những trao đổi học thuật đầy cởi mở, tâm huyết.

Anh-tin-bai
PGS.TS. Phạm Phương Chi phát biểu bế mạc Hội thảo tại Hội trường nhà E, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội

Anh-tin-bai

Các học giả quốc tế tại Hội trường Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội trong phiên Bế mạc

Trong phiên bế mạc, PGS.TS. Phạm Phương Chi đã gửi lời cảm ơn và bày tỏ sự trân trọng đối với những đóng góp của các cơ quan, đơn vị đồng tổ chức và phối hợp; của các học giả từ khắp Việt Nam cũng như các học giả quốc tế đã có mặt tại Hà Nội; của đội ngũ những người tổ chức và những người hỗ trợ đã âm thầm cống hiến để cùng làm nên một ngày hội thảo ý nghĩa. Thành công của Hội thảo hôm nay không chỉ là kết quả của những trao đổi học thuật đã được vun đắp thông qua các hội nghị, ấn phẩm, dự án nghiên cứu và các hoạt động trao đổi trước đó giữa các học giả từ Hàn Quốc, Việt Nam và các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á mà còn khẳng định và mở ra những kết nối, những cơ hội hợp tác tốt đẹp trong tương lai.

Đỗ Hường, Mai Huyền, Mai Phương
Nguồn bài viết: Viện Văn học
Tin mới
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1