Chiếu nghỉ giữa khoảng thơ
Miệt mài trên từng trang sách, Y Phương tâm đắc câu danh ngôn của Dolly Parton “Chúng ta không thể thay đổi hướng gió, nhưng chúng ta có thể thay đổi cánh buồm”.

“CHIẾU NGHỈ” GIỮA KHOẢNG THƠ

(Đọc tản văn Fừn nèn – Củi tết của Y Phương

 do Nhà Xuất bản Phụ nữ ấn hành năm 2016)

LÊ THỊ BÍCH HỒNG

 

Hứa Vĩnh Sước – Y Phương sinh ra trong một gia đình nông dân ở làng Hiếu Lễ, xã Lăng Hiếu, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Cái tên cha mẹ đặt cho anh như ký thác những điều tốt đẹp, nhân văn và “đặt cược” niềm tin vào cậu con trai duy nhất sớm bộc lộ tư chất thông minh, hiếu học và cũng rất hiếu động. Thân phụ anh là cụ Hứa Văn Cường biết chữ nho, làm thầy tào và chữa bệnh điên cứu người. Trong tâm thức người con, cha anh hiện lên là một nhà nho yêu sách: “Thầy tôi - Bắc cầu qua sông bằng chữ” (Bắc cầu), “Đêm nối đêm chong đèn đọc sách” (Chín tháng). Ngày bé, cậu bé Sước hiếu động đã theo cha gõ trống, đánh não bạt cho đám ma. Cậu cũng đã từng ước ao ước có được những phép thuật của thầy tào, học được những bài thuốc của cha, nhưng nhìn thấy số mạng Vĩnh Sước không hợp nghề đó, cha nói “Thầy biết con là người nóng tính, ham hố nhiều như tóc. Riêng hai điều đó không thể học được để làm thày tào”. Cha tôn trọng thiên hướng bẩm sinh và bài học đầu tiên là dạy con là cách xử thế nhân văn:

 “Không bao giờ quỳ gối và nói lời cong

 “Con phải sống thẳng băng như đường mực

Thân mẫu anh là bà Nông Thị Lộc - một phụ nữ, tảo tần, đảm đang, tháo vát, hiểu biết rộng, giàu đức hy sinh, luôn khích lệ con trai lòng can đảm, ý chí phấn đấu vươn lên, quý trọng tinh thần tự chủ: "Tốc đin rà mạ tấc. Tốc đin than mạ mè" (Sống tại  đất mình thành ngựa đực. Sống ở nơi người là ngựa cái). Mẹ luôn răn dạy anh: “Hãy giữ mình như giữ lửa - Cứ ngồi - Đừng sợ bóng người cong”; phải biết sống đẹp, ngẩng cao đầu kiêu hãnh “Không bao giờ nhỏ bé được nghe con”. Ghi nhớ lời me, anh đã gửi thông điệp đó vào bài thơ “Nói với con” và cũng chính bài thơ được đưa vào chương trình giảng dạy văn học lớp 9 đã đưa tên tuổi anh đến gần hơn với công chúng, với giáo viên, học sinh, với những người yêu thơ…

Hứa Vĩnh Sước lớn lên trong niềm từ hào về truyền thống của quê hương, gia đình, dòng họ Hứa, nhất là ông Hứa Văn Khải (anh gọi bằng ông) ở làng Hiếu Lễ. Năm 1947, ông Hứa Văn Khải đã dùng khẩu đại bác do mình tạo ra bằng gỗ nghiến, đặt tên Sàng Là, bắn giặc Pháp khi chúng đang hành quân qua đèo Keng Phác - một trận đánh có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới. Cảm phục chiến công của ba ông lão du kích Co Xàu, trong đó có ông Hứa Văn Khải, Bác Hồ đã tặng bài thơ “Tuổi cao chí khí càng cao” và khẩu súng kỳ lạ đó hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Pháo binh (Hà Nội).

Muộn hơn so với bạn bè cùng trang lứa, lên 9 tuổi, anh mới tập nói tiếng Kinh. Ngày đầu tiên mẹ đưa đến học trường cấp I thị trấn Trùng Khánh, cậu bé Vĩnh Sước lạ lẫm nhìn thầy cô, bạn bè, chỉ bám riết lấy áo mẹ nằng nặc đòi về. Sự nghiêm khắc và cả sự kiên trì của thầy mẹ khiến anh mới dần quen với bảng đen, phấn trắng, thầy cô, bạn bè. Phương tiện đi học của anh ngày đó là ngựa. Hàng ngày, Vĩnh Sước cưỡi ngựa đến trường. Vào lớp, anh buộc ngựa ngoài sân. Chiều về, người trai làng Hiếu Lễ thả ngựa ăn cỏ, uống nước suối. Con ngựa đã vượt qua ý nghĩa là phương tiện đi lại, mà nó trở thành một người bạn gắn bó với anh suốt chặng đường thơ ấu không ít nỗi cô đơn, phiền muộn “Kể từ ngày tậu được chú, chúng tôi trở thành đôi bạn thân đầu đời. Tôi với chú đi đâu cũng có nhau. Chỉ trừ lúc tôi ngủ và khi ăn. Tôi lên nhà còn chú dưới chuồng. Cả ngày tôi mê mẩn chú như người yêu mới cưới. Mình chú hôi hám thế nhưng tôi thấy rất đỗi bình thường. Sáng nào đi học, tôi cũng dắt chú theo. Tôi buộc chú gặm cỏ ở góc sân trường"...

Niềm đam mê văn chương manh nha và phát lộ khi cha thấy cậu con trai chắm chúi, nghiền ngẫm sách như một “con mọt”. Vĩnh Sước tâm sự “Tôi coi sách như bạn. Vì tôi không có hứng thú ham chơi thả diều, đá bóng như nhiều bạn cùng lứa…". Ghi nhớ lời cha dạy “tiền ở trong sách”, cậu bé Vĩnh Sước lẳng lặng mở rộng “thư viện nhỏ” của mình bằng nguồn sách dành dụm từ số tiền ít ỏi mẹ cho mỗi sáng ăn quà cùng với những cuốn sách thừa hưởng từ cha. Sách và ngựa đã trở thành người bạn thủy chung không bao giờ ruồng bỏ anh, chẳng bao giờ xa lánh anh. Sách bên anh như hình với bóng, như bến với thuyền, như người yêu nhớ người yêu... Những khi thấy lòng buồn, nao nao, hoang hoải, nhà thơ lại trốn vào cái “góc sách” như một kẻ ẩn dật. Chỉ ở nơi ấy, anh mới tìm thấy một người bạn thực sự hiểu mình. Cũng chỉ ở bên “người bạn” ấy, anh mới được xoa dịu vết thương lòng, được động viên, an ủi, vỗ về, được tiếp nguồn năng lượng… Nhìn thấy tố chất bẩm sinh trong con trai, cha đã ủng hộ, nâng bước cho thiên hướng lựa chọn của anh. Việc truyền nghề cho con là điều thầy mẹ đã từng nghĩ tới, nhưng không thành.

Thời ấu thơ sống trên đá, thở trong đá, làm bạn với với đá "không chê đá gập ghềnh". Sau này cái tên Y Phương đã trở thành tên tuổi quen thuộc trong làng văn chương, tâm sự của anh vẫn là nỗi niềm thủy chung với đá: “Tôi nói với núi đá. Núi đá vọng lại. Tôi hát với núi đá. Núi đá vọng lại. Chúng tôi thân thiết nhau hơn sáu chục năm trời. Nay tôi đang trở thành người già. Còn núi vẫn... non”. Núi non Cao Bằng – nơi thế kỉ XV là kinh thành của nhà Mạc, nơi các ngọn núi từ thấp đến cao đều lao vút lên trời nhọn hoắt đã góp phần hun đúc, dung dưỡng tố chất văn chương trong anh.

Miệt mài trên từng trang sách, Y Phương tâm đắc câu danh ngôn của Dolly Parton “Chúng ta không thể thay đổi hướng gió, nhưng chúng ta có thể thay đổi cánh buồm”. Vì thế, đang học dở cấp III Trùng Khánh, lại là con một trong gia đình chỉ có hai chị em, nhưng anh đã sớm có một "lựa chọn thông minh" với ý thức "vượt lên số phận”, với mong muốn “thay đổi cuộc đời” vốn đã không ít nỗi cô đơn, phiền muộn như chính lời tự bạch “Tôi cô đơn và hay buồn ngay từ khi còn ít tuổi. Cảm giác của đứa trẻ bị bỏ rơi, bị rẻ rúng cứ vây bọc, ám ảnh tôi trong suốt cuộc đời…. Y Phương thành thật lý do đành bỏ dở chương trình 10 năm phổ thông “Tôi là đứa con của làng Hiếu Lễ. Từ bé tôi chỉ quanh quẩn ở làng. Chưa bao giờ ra khỏi đất Co Xàu. Hiện tại là nỗi cô đơn vây buở. Con đường phía trước dẫu giàu trí tưởng tượng đến mấy vẫn chưa thể tưởng tượng ra, nhưng tôi quyết tâm làm đơn xin nhập ngũ. Lá đơn của tôi nhanh chóng được ban tuyển quân huyện Trùng Khánh chấp nhận. Tôi sung sướng khoác ba lô lên đường cầm súng đi đánh giặc. Xem đó như một cơ hội tốt nhất, tìm được lối thoát cho riêng mình. Đành gác lại mộng văn chương và con đường thi vào đại học…”. Thế là năm 1968, chàng trai làng Hiếu Lễ rời quê gia nhập nhập Binh chủng Đặc công:

Sáng tháng tư năm sáu tám
Mẹ thả ra đồng
Đứa con tên Sước
Mẹ cầm chặt nỗi lòng 
Mẹ trao con cho đất nước..
.

(Chín tháng)

Như người cầm bút cùng thời, anh biết tạm gác “cái tinh tế cỏ hoa”, nhưng chính cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã “kích hoạt”, “châm ngòi”, dung dưỡng, tạo nên một hồn thơ cho chàng lính trẻ đặc công. Khởi nghiệp con đường thi ca với cái tên Hứa Vĩnh Sước và trình làng hai bài thơ đầu tiên “Bếp nhà trời” và “Dáng một con sông” do nhà thơ Văn Thảo Nguyên chọn đưa vào Tạp chí Văn nghệ Quân đội (số 6 năm 1973). Với anh thời điểm đó, tạp chí Văn nghệ Quân đội đã tạo “cú hích” quan trọng, một “bà đỡ mát tay” trân quý tác phẩm của người lính từ chiến trường gửi ra. Cảm giác hạnh phúc ấy đã tạo men say. Say như ong say phấn “Mùa hoa”, như cây say đất, như chim ca say trời, như đàn ông say đàn bà... Chất men ấy là chất kích thích cho niềm say, đeo đẳng chung thân suốt cả đời văn nghiệp. Mỗi khi nhớ về “Ngôi nhà số 4 Lý Nam Đế”, anh thường nói với lòng biết ơn sâu sắc “Tất cả những gì tôi có được hôm nay bắt đầu từ những bài thơ đầu tiên đăng trên tạp chí văn nghệ quân đội ấy”…Nhưng chỉ sau các tập “Lửa hồng một góc”, “Lời chúc”, “Đàn then”, anh đã sớm tạo ra tiếng nói riêng, không nhòe lẫn “có sự bồi hồi dân tộc đặc trưng và có sự khao khát chiếm lĩnh đỉnh cao” và từ đó Hứa Vĩnh Sước khẳng định một lối đi riêng, một phong cách cá nhân với một gia tài thi ca “săn chắc, vạm vỡ”.

Từ cái thuở ban đầu ấy, cái tên bút danh Y Phương như chính lời tự bạch “Tôi dùng bút danh này xuất phát từ ý nghĩa trong Hán tự. Chữ Y gồm có bộ “kỳ” đi cùng với bộ “vi” hợp thành. Y là điều tốt đẹp. Căn cứ vào điều tốt đẹp mà thực hiện. Còn “Phương” có thảo đầu, tôi lấy chữ cuối của bức hoành phi “Đức Lưu Phương” thật hay, thật ý nghĩa về mặt văn hóa đạo đức. Đức là đạo đức. Phương là thơm. Lưu là lưu truyền, để lại. Lưu phương là để lại tiếng thơm”. Y Phương bắt đầu khẳng định một “thương hiệu” thi ca trên văn đàn và tên tuổi nhà thơ dân tộc Tày “tự đục đá kê cao quê hương” đã góp sức làm phong phú sự nghiệp văn học dân tộc thiểu số và nguồn nước đó đổ ra hòa cùng dòng sông rộng lớn văn học nước nhà.

Niềm say con đường học vấn đưa anh đi xa hơn trên con đường đã chọn. Anh luôn tự nhủ “Cái ta biết chỉ như một giọt nước. Cái ta chưa biết là biển cả mênh mông”. Với tinh thần ấy, khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, việc đầu tiên anh lính đặc công nghĩ tới là tiếp tục trở lại con đường học vấn dang dở khi mình và bạn bè cùng trang lứa tình nguyện “Xếp bút nghiên lên đường chiến đấu”. Từ chiến trường xốc tới mái trường, năm 1976, Hứa Vĩnh Sước về học Trường Điện ảnh Việt Nam. Năm 1982, anh tiếp tục học Trường Viết văn Nguyễn Du (khóa II, 1982-1986). Năm 1986 về công tác tại Sở Văn hóa - Thông tin Cao Bằng. Từ 1991-1993 là Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin. Từ 1993, anh đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội văn học Nghệ thuật Cao Bằng cho đến năm 2002, rời Cao Bằng về Hà Nội tham gia Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam (khóa VI)…

Với quan niệm, “Văn chương là một việc làm trả ơn những người sinh thành và nuôi dưỡng mình”, hơn 30 năm qua, anh lặng lẽ sáng tác, lặng lẽ thử nghiệm và không ngừng sáng tạo để có thể công bố khối lượng tác phẩm không hề “khiêm tốn”, gồm một tập kịch “Người núi Hoa” (1982); tám tập thơ, trường ca: “Tiếng hát tháng Giêng” (1986), “Lời chúc” (1987), “Đàn then” (1996), “Chín tháng” (trường ca, 1998), “Thơ Y Phương” (2000), Thất tàng lồm (Ngược gió, song ngữ Tày-Việt, 2006), “Đò trăng” (2009), “Bài hát cho Sa” (2011), “Vũ khúc Tày” (song ngữ Tày-Việt, 2015); hai tập tản văn “Tháng Giêng – tháng Giêng một vòng dao quắm” (2009, Nhà xuất bản Phụ nữ) và “Kungfu người Co Xàu” (2010)…

Như “con tằm rút ruột nhả tơ”, tên tuổi anh gắn với "mùa hoa bội thu" những giải thưởng: Giải A cuộc thi thơ tạp chí Văn nghệ Quân đội 1984; Giải thưởng loại A của Hội Nhà văn Việt Nam (1987) với tập thơ "Tiếng hát tháng Giêng"; Giải A của Hội đồng Văn học dân tộc – Hội Nhà văn Việt Nam với tập thơ "Lời chúc"; Giải B của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học, Nghệ thuật Việt Nam, Giải B của Bộ Quốc phòng với trường ca "Chín tháng" (2001). Y Phương vinh dự được nhận Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007.

"Hữu xạ tự nhiên hương", người con trai làng Hiếu Lễ đã trở thành một nhà thơ được bạn đọc yêu quý, nhất là với bài thơ "Nói với con” (sách giáo khoa lớp 9) đã mang tên tuổi anh gần hơn với công chúng, với giáo viên, học sinh, với người yêu thơ…

Thành công trong sự nghiệp thi ca, nhưng người nghệ sĩ vẫn không ngừng khắc khoải tìm kiếm một cách viết mới, ngoài thơ. Vượt qua cảm giác lống loáng, rỗng ruột, anh vịn câu nói của cổ nhân người Tày: "Chỗ nào còn nước thì làm ruộng, hết nước thì làm rẫy". Thế là con tằm ấy lại “rút ruột nhả tơ”, “lão nông tri điền” ấy lại miết mải “cày bừa trên cánh đồng con gái trinh nguyên” để tìm một cách thể hiện mới. Từ thơ, đến trường ca, anh tiếp tục thử sức với tản văn - loại văn xuôi ngắn gọn, hàm súc, dài ngắn tuỳ ý, lối thể hiện đời sống mang tính chất chấm phá, tái hiện nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội, bộc lộ trực tiếp tình cảm, ý nghĩ mang đậm bản sắc cá tính tác giả. Anh chọn thể loại này vì có nét gần thơ – gần với thế mạnh bản năng trời cho vốn tiềm ẩn trong từng thớ thịt, từng mạch máu nhà thơ dân tộc Tày dưới chân núi Bo Păn. Thơ gần tản văn vì không nhất thiết phải có cốt truyện phức tạp, nhân vật hoàn chỉnh, nhưng lại đòi hỏi nghiêm ngặt là cấu tứ độc đáo, có giọng điệu, có cách thể hiện đa dạng để có thể miêu tả phong cảnh, khắc hoạ nhân vật, bộc lộ cảm xúc trữ tình, tính tự sự, đặc biệt là thể hiện nổi bật chính kiến và cá tính tác giả…

Là người thân thiện, dễ gần trong cuộc sống, nhưng anh lại là người cực khó tính với nghề. Anh thật thà bộc bạch “Tôi viết như nã đạn súng kíp hàng trăm viên vào một con thú. Tôi yêu từng con chữ nhưng quyết khai tử những xác chết của chữ nghĩa”, những non bấy nhạt nhòa không thương tiếc. Thậm chí tôi đã phải bỏ đi cả trăm con chữ long lanh chỉ để có được một dấu phẩy sinh động tươi rói…”. Sự thử thách lòng kiên trung với văn chương đã ghi nhận thành công thử nghiệm của anh. Sau hai tập tản văn “Kungfu người Co Xàu” (Giải thưởng Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2011) và “Tháng Giêng – tháng Giêng một vòng dao quắm” (Bằng khen của Hội Nhà văn Việt Nam, năm 2010) được bạn đọc cả nước đón nhận nồng nhiệt, anh tiếp tục viết cuốn tản văn mới có tên là “Fừn Nèn” (Củi Tết).

Hứa Vĩnh Sước - Y Phương đã trở thành nhà thơ có phong cách riêng bởi sự ý thức đi tìm cái mới, cái độc đáo. Với anh, sáng văn chương nghệ thuật không mới, không độc đáo thì khó lòng tạo được dấu ấn, thu hút được độc giả và không thể có chỗ đứng, có đời sống trong lòng công chúng. Văn chương với anh là “một thứ chơi. Chơi cho mình thích và cho người ta thích”. Lao động sáng tạo mang dấu ấn cá nhân đậm nét và không bao giờ là dễ dàng như kiểu vận hành sản xuất để ra sản phẩm hàng loạt. Anh tâm sự “Khi con tim không rung, đôi tay không buồn, cầm cây bút sao nổi. Cầm bút không nổi lấy đâu ra thơ ca. Người ta phải yêu tiếng mẹ đẻ cái đã. Yêu hết mình mới có thơ ca. Yêu từ tim gan bên trong xương thịt mình. Cảm xúc sáng tạo không phải là thứ đặt hàng”.

Ngoài lời tựa của tác giả, giới thiệu “Chiếu nghỉ giữa khoảng thơ” của TS – nhà văn Lê Thị Bích Hồng, tản văn “Fừn Nèn” gồm 32 bài. Dấu ấn, bản sắc văn hóa Tày hiện lên đậm nét, độc đáo trong 32 tản văn. Chất Tày còn được thể hiện trong trải nghiệm cuộc đời, ở  một tầng vỉa làm lộ dần tầm cao và chiều sâu văn hóa. Tập tản văn thứ 3 của anh vẫn đi theo mạch riêng, tạo nên một phong cách nhất quán trong việc thể hiện thái độ coi trọng giá trị văn hóa, coi văn hóa là nền tảng tinh thần bền vững nhất, là “cái còn lại sau khi người ta đã quên đi tất cả”. Văn hóa là sức mạnh nội sinh, là cội cuồn giá trị của làng Tày “Vách nhà ken câu hát” với niềm tin vững chắc “Còn quê hương thì làm phong tục”. Nhưng điều đáng trân trọng hơn là tản văn của nhà thơ Tày ấy không "đóng đinh" bó hẹp trong cuộc sống sinh hoạt của người Tày mà vượt lên, vươn xa như một dấu nối với văn học các dân tộc khác trong thời kỳ hội nhập.

Tản văn “Fừn nèn” mở rộng biên độ, phong phú đề tài về cuộc sống, con người miền núi, miền xuôi, tình yêu đất nước – quê hương, tình cảm gia đình – bạn bè - tình yêu lứa đôi…và điều quan trọng là thẫm đẫm bản sắc văn hóa “người đồng mình”. Tình yêu với đồng bào dân tộc mình đã cho anh nguồn xúc cảm cùng bản sắc văn hóa Tày khó lẫn.

Thừa kế và sở hữu một kho tàng văn hóa Tày truyền thống và vững chắc, 32 tản văn vừa đủ để giãi bày, truyền tải và đương nhiên vẫn phải bám vào tính thời sự đời sống nóng hổi đang diễn ra từng ngày. Đó là những lát cắt muôn màu về đời sống, sinh hoạt, phong tục tập quán, ngôn ngữ, ẩm thực…“Sống trên đá không chê đá gập ghềnh-Sống trong thung không chè thung nghèo đói”, anh chăm chút viết về những kỷ niệm sinh hoạt thường ngày ở ngôi làng người Tày của mình với những phong tục tập quán từ đời này truyền sang đời khác. Anh thổi cảm xúc yêu thương đắm say vào các phong tục độc đáo, nhất là ngày tết.      

Anh khéo léo giới thiệu về ngày tết của người Tày mà ở hai tản văn trước anh đã dốc sức viết tưởng như đã “cạn kiệt” nguồn, với “Tết cả”, “Tết thanh minh”, “Tết Slip Sli thịt vịt”, “Tết Hạ chí”, “Tết trâu”, “Tết cốm”... Như “mảnh hồn làng”, tản văn mang bao nỗi háo hức, sự bận rộn của “Tết tháng Giêng hẹn từ tháng Bảy”. Đến tản văn “Fừn nèn”, Y Phương đã bổ sung thêm các tản văn về lễ tết “Tết Tày có gì khác”, “Tết về nghe sương muối vỗ tay”, “Chú ngựa hồng mao đi tết”. Ở tản văn này, anh khéo léo so sánh sự khác biệt giữa Tết Tày với Tết chung. Điểm độc đáo của Tết Tày phải kể đến các loại bánh không thể thiếu được đó là “các loại bánh khảo, bánh khẩu sli thúc théc, pẻng phạ, lau cau là hai loại bánh ngọt. Bánh được nặn bằng bột nếp, tròn như viên bi. Bánh chiên qua dầu làm chín. Đường phên giã mịn, bắc lên chảo nấu, chảy ra như nhựa đỏ. Cho bánh vào đảo qua đảo lại. Đường mật bám bánh lên màu nâu sáng tươi. Pẻng phạ lau cau lúc này như chưng diện áo mới. Xong xuôi, các chị các mẹ cho bánh ra mẹt làm nguội. Mẹt bánh ngồi ôm nhau thành từng nhóm. Mỗi nhóm năm bảy đứa. Mỗi đứa tròn thu lu ngơ ngác nhìn đời”.

  Nếu người Kinh dùng lá mùi già tắm gội trong ngày Tết, thì người Tày đều tắm gội bằng lá khau lồm (là cây lá gió, thuộc họ nhà dây). Anh miêu tả “lá khau lồm mọc tự nhiên trên đá răng mèo, thành từng búi. Chúng tự vo tròn vào nhau như vòm. Mỗi vòm từ cao đến thấp, nhấp nhô như bày đặt. Trong vòm lá, như có gió đang thiu thiu ngủ. Hễ bước chân tới gần, tự nhiên thấy quanh mình rười rượi mát”.  Văn hóa lễ tết người Tày trong tản văn của anh vừa trong dòng chảy lễ tết của “ngôi nhà chung”: “Tết của người Tày hầu như không mấy khác lạ, so với tết của nhiều dân tộc anh em. Nghĩa là chỉ xảy ra trong cùng một thời điểm nhất định” (Tết Tày có gì khác).

Sống cùng đá, thở cùng cây, xênh xang đằm mình chốn non nước Cao Bằng, anh rất khéo giới thiệu văn hóa ẩm thực của “người đồng mình” như một “vị đại sứ” quảng bá văn hóa Tày với một tình yêu máu thịt. Chùm bài về văn hóa ẩm thực khá ấn tượng với “Cháo ngựa”, “Phúng xàng lủng lẳng”, “Bánh xì chen chạy lung tung”… Anh miêu tả cách làm cháo mạ đơn giản mà sao hấp dẫn “Ngưới ta múc cơm thừa trong nồi ra. Đấy là thứ cơm nguội, nấu từ bữa tối. Người ta cố tình nấu nhiều, để dư ra, ăn không hết. Sáng sớm mai họ bắc chảo lên bếp, đun cho khi nào có cảm giác mùi gang nướng. Trong hơi gang nướng có hơi thảo quả, hơi của rượu, mùi tanh tôm cua. Những thứ đó ngấm sẵn trong xương thịt chảo gang rồi. Lập tức người ta chà xát một muôi mỡ lợn eo éo xì xồ. Mỡ tan ra như dầu luyn bóng nhẫy. Người ta cho một ít hành tỏi khô thái chỉ vào phi để lấy mùi thơm. Rồi mới đổ cơm nguội vào rang. Rang cho cơm ngấm kỳ hết muối mỡ. Rang thật kỹ đến mức hạt cơm săn chắc lại như  đậu mèo mới đạt. Tiếp đến, người ta bỏ thêm mấy củ gừng tươi đập nát như nghiền vào xào cùng. Nên nhớ phải là gừng chín tháng. Nếu thấy gừng còn non bấy như trứng chim cút luộc, chớ nên dung”. Với “Bánh xì chen chạy lung tung”, anh huy động tối đa các giác quan cuả cơ thể để “thăng hoa” một cách tự hào văn hóa ẩm thực Tày thật hấp dẫn “Ở phố cổ Co Xàu kể đến món nào cũng thấy nghi ngút khói bốc lên trước mắt. Mồm miệng luôn xuýt xoa vì cảm giác nóng bỏng trên răng dưới lưỡi. Nào bánh cuốn ăn với giò lụa. Nào cóng phù chan nước gừng mật mía. Nào bánh áp chao nhân đùi vịt. Nào phở lạp sườn xá xíu tổng hợp. Nào bánh bao nhân trứng chim. Nào xôi trám đen, xôi trứng kiến, xôi ngũ sắc... Nói đến món nào cũng làm người nghe muốn chảy  nước miếng. Dân xứ lạnh chúng tôi rất thích thứ quà nóng bỏng. Càng nóng càng thích. Nó cứ phải sôi sùng sục trên kiềng ba lá mới đã. Ăn ngay bên bếp củi nghiến đỏ rực càng thú. Vừa ăn vừa được sưởi ấm. Cái ăn đã vào tới bụng. Cái ăn còn òng ọc sôi thêm một lần nữa ở trong người,  được như thế càng sướng. Ăn như vậy nó mới khác người”. Ẩm thực đã vượt ra ngoài chuyện ăn uống kiểu cơ học “Cắn một miếng phúng xàng nghĩa là bạn đang ngậm sông núi ở trong bụng” (Phúng xàng lủng lẳng)…

Tản văn của anh coi trọng các lề thói ứng xử quan hệ trong họ ngoài làng, với trời đất, cỏ cây, súc vật. Y Phương dành sự quan tâm đặc biệt ca ngợi những con người mộc mạc, ân tình. Hình ảnh con người và tình cảm trong sáng, đôn hậu, trọng nghĩa tình, thường trực ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc thể hiện sâu đậm trong tản văn, như: Những người đàn bà hút sục dín”, “Một kiếp người”, “Người Bạc Liêu là... trăng”, “Đêm nằm nghe sông kể”, “Ngày mới ngày mới ngày mới ngày mới ngày...”... Đó là “Những người đàn bà hút sục dín” trùm khăn kẻ ca rô, áo chàm ngắn ngang hông. Bà đang ngồi trên chiếc ghế trúc, hơ tay qua bếp lửa. Bên cạnh bà là ống điếu. Bên cạnh ống điếu là một chú mèo tam thể. Lâu lâu buồn buồn, người đàn bà quờ tay tìm túi thuốc. Rồi bà lơ đễnh cầm ống điếu lên. Mắt thì nhìn vào chốn vô định. Tâm hồn bà thả lỏng như một chú ngựa hoang”. Đó là chú Mạc với tiếng cười giòn sáng giá “Đó là tài sản duy nhất đời chú sở hữu. Khi chú cất tiếng cười, chùm âm thanh va bắn vào nhau, vỡ ra trăm ngàn mảnh thủy tinh sáng lấp lánh. Cả một vùng rừng giòn vang tiếng cười. Những chùm âm thanh vui vang rền vọng vào vách đá. Vách đá liền truyền đi không dứt. Làm cho ai nấy đều lú lí sướng và cả thèm. Đó là tiếng cười sảng khoái vô lo nghĩ. Nó nhẹ như lá rơi trong thinh không. Nó tự tin thanh thản như dòng nước chảy. Tiếng cười đánh tan nỗi buồn ở trong lòng người ta. Chẳng có ai bực bội khi được nghe tiếng cười chú Mạc”.

Tôi đặc biệt ấn tượng với tản văn mới “chưa bóc tem” của anh “Ngày mới ngày mới ngày mới ngày mới ngày...” viết trong một đêm trắng mới đây với thông điệp nhân văn mỗi ngày hãy sống đẹp hơn ngày hôm qua. Gợi ý từ lời dặn của Bác Hồ: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền lại khó hơn nhiều”, Y Phương đã gửi gắm vào tản văn của mình tấc lòng có sám hối, có ân hận, có nỗi dày vò… nhưng tất cả không ngoài mục đích vượt lên chính mình, để tự lớn lên “Tôi bỗng thấy mình thấp xuống. Thấp xuống gần bằng bó củi tạp. Bó củi tạp nham chóng mủn. Tạp nham đã che lấp khuôn mặt thật của mình. Khuôn mặt thật buồn nâu thâm niên, nay thêm buồn trắng. Ôi! Nỗi niềm bất đắc chí cỏn con hữu danh vô thực. Văn chương làm chốn đi về, làm nơi tụ hội và đàm đạo. Vậy thôi. Văn chương có gì đâu mà nóng lạnh tình người. Than ôi! Thế này thôi sao?”. Sự thức nhận của người cầm bút đã cho anh ý thức sâu sắc trách nhiệm đó “lấy được danh nhà thơ đã khó, giữ được danh nhà thơ còn khó hơn nhiều. Yêu được mình đã khó, giữ được mình trọn vẹn còn khó hơn nhiều…”.

Không chỉ với quan hệ trong họ ngoài làng, tản văn của Y Phương còn cập tới khá đậm tình cảm, sự trân trọng với những vật dùng gắn bó với mình. Anh coi chiếc máy khâu của một thuở hàn vi là “Ân nhân”: “Chiếc máy khâu con bướm hầu như không được nghỉ, chỉ trừ khi chủ nhân đi ngủ. Người ngủ nó mới được ngủ. Người toát mồ hôi hột. Nó khô dầu mỡ, mỗi khi làm việc, nó long sòng sọc như người già ho hen. Khi đấy, tiếng nó rên kinh khủng khiếp. Khi nó gào như con mèo hoang. Lúc như chó già ho hen cò cử. Thậm chí có lúc tả lài xỉ, nó không thèm động đậy. Khi đến bữa, người ngồi ăn, nó đứng chân ngậm chỉ, giữ kim”.

Trả ơn nơi đã sinh ra – Trùng Khánh là vùng đất đầy tinh thần thượng võ và giàu truyền thống văn hóa, là nơi bảo tồn những làn điệu dân ca dung dưỡng tâm hồn nhà thơ để anh viết nên “Từ Phủ Trùng xa xôi tôi đi”, “Rượu Trùng Khánh đầy phè lè”. Nơi ấy chắp cánh niềm đam mê văn chương “Ôi! Văn chương. Trong văn chương dòng dòng máu và nước mắt. Dòng dòng chan chứa lòng nhân từ. Chữ chữ bao dung, thương cảm, xót xa thân phận con người... Giọng thầy đầy trầm ấm, nghe êm êm như ru, như hát. Tôi còn nhớ thầy bảo rằng như thế nào mới được coi là văn chương. Như thế nào mới được xem một tác phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh…Và thực sự tôi ngưỡng mộ, khâm phục thầy. Coi thầy là một thần tượng. Cho tới tận bây giờ, nghĩa là vừa tròn 5 chục năm, tôi cứ thắc mắc mãi. Tại sao ngày đấy có lắm người đẹp và tử tế thế. Học trò ai ai cũng xinh tươi mơn mởn như nụ hoa, như lá cỏ muà xuân. Còn các thầy thì đẹp trai lồng lộng, cao to, lún phún lông măng ria mép. Tôi trông thầy Nguyễn Thái Vận như bước ra từ kiệt tác tượng David. Còn thầy Bùi Ngọc Anh như chàng Andrei Nikolaievich Bolkonsky. Cô Lã Mỹ Anh dạy địa như nàng tiểu thư Natasa, trong tiểu thuyết Chiến tranh và hòa bình” (Từ Phủ Trùng xa xôi tôi đi).

Dù là với với văn hóa ẩm thực, văn hóa tâm linh hơn hết là khát vọng bảo tồn những giá trị tốt đẹp của văn hóa Tày trong thời kỳ hội nhập và giao lưu quốc tế. Anh tự hào với một bầu khí quyển văn hóa Tày độc đáo vùng núi Cao Bằng để thỏa sức sáng tạo. Và dẫu vết gì đi nữa thì cảm hứng chủ đạo trong tản văn của anh vẫn là sự tiếc nuối - tiếc nuối những ngày đã xa, sắp rời xa, hoặc sẽ vĩnh viễn mất trong xã hội người Tày. Những cảnh sinh hoạt văn hóa làng xã của bà con Tày Nùng, đang dần dần mai một. Lời ăn tiếng nói đậm đà mặn ngọt, tiếng Tày cứ rơi rụng đến rơi nước mắt. Chữ viết "Slư Nam" (Nôm Tày) do cha ông sáng tạo trên cơ sở kết cấu lục thư của chữ Hán, nay đang bị đào thải một cách tự nguyện. Và còn một điều cứ dăn dở tản văn của anh không yên là nỗi lo trước tâm lý tự ti dân tộc của một bộ phận người Tày. Lòng tự tôn quê hương trong anh như một liều thuốc giúp trợ giúp cho lòng tự tin được tôn cao “Ngôi làng ấy biến nước lã thành máu, chảy thấm qua và nuôi hàng trăm nghìn vạn tế bào quanh thân xác tôi”…

Ngôn ngữ văn học mang bản sắc dân tộc và hiện đại được thể hiện rõ nhất trong tản văn của Y Phương. Anh biết chọn lọc trong văn học dân gian những tinh chất cần có để tạo nên ngôn ngữ nghệ thuật riêng của văn xuôi dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại. So với các nhà văn khác, Y Phương là người sử dụng tiếng Tày nhiều và nhuần nhụy nhất trong tác phẩm. Anh biết Tày hóa tiếng Việt trên cơ sở thông thạo cả hai thứ tiếng Tày và Việt. Nên tuy viết bằng tiếng Việt, nhưng sắc thái Tày vẫn thể hiện rõ. Trước hết là ở ngôn ngữ ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu:. Điều đó rất gần gũi với cách nói của người Tày, thể hiện một khẩu khí, một thái độ rõ ràng, dứt khoát của họ. Y Phương có biệt tài dùng những từ ngữ sóng đôi vừa Kinh, vừa Tày làm cho ý nghĩa của Tiếng Việt khái quát, mở rộng hơn, vượt qua ý nghĩa ban đầu bởi đã pha thêm nghĩa của tiếng Tày, tâm hồn Tày, văn hóa Tày. Anh chú trọng dùng tiếng Tày trong tản văn. Tản văn của Y Phương không chỉ có sự kiện, hiện tượng thân quen gần gũi mà còn có cả hình dạng, âm thanh màu sắc của sự vật, hiện tượng. Trong nhiều tản văn, anh lấy tên Tày 100%, như: “Fừn nèn”, “Phúng xàng lủng lẳng”… “Phúng xàng lủng lẳng” của người Cao Bằng “Người Kinh gọi là lạp xường. Nhưng tôi chưa hề thấy lạp xường ở dưới xuôi nó như thế nào. Lạp xường quê tôi ngon nức tiếng xưa nay. Ai đã từng một lần thưởng thức, sẽ phải nhớ phúng xàng đến ngày bạc đầu…”.

Nhiều tản văn lênh láng chất thơ vốn là thế mạnh bản năng tiềm tàng làm nên một Y Phương “Sau mỗi giờ thầy giảng, vẻ đẹp văn chương như rót mật vào tai. Một thế giới lung linh huyền ảo vờn bay trước mặt. Tôi cảm giác có một người con gái nào được đẽo gọt bằng ánh trăng. Từng giọt trăng huyền ảo khi thì vàng vàng, khi thì trong suốt. Trăng rơi ra nát vụn như bụi dưới bàn chân người đẹp. Trăng chảy lênh láng trên tấm trên tấm thân ngọc ngà của nàng. Trăng trong suốt. Trăng vàng vàng như bột. Trăng mềm oặt như bùn. Rồi trăng gieo mình xuống lòng sông đục ngầu. Trăng quyên sinh một cách ngu ngốc. Trăng mất đi giây lát trong làn nước buốt”.

Anh có cách kể và dựng đan xen, xem như một thủ pháp mà tác giả muốn thể nghiệm. Cách tả như có chút ngoa ngôn khi tung tẩy ý tứ theo bút pháp thơ. Nhà thơ miêu tả hoa, hoa như có linh hồn, hoa biết thở, biết đập nhịp đập của trái tim đỏ máu “Hoa tầm xuân có mùi thơm tức thở. Thơm một cách khủng bố. Đứng cách hoa một trăm bước, mùi thơm xộc thẳng vào hai cánh mũi. Cách một tầm tay, hoa đã tưới đẫm mùi hương lên khắp người. Đứng gần hoa mươi nhịp thở, đã thấy ngứa ngáy rần rật toàn thân. Mùi hoa khiến cho chân tay thò thụt muốn tìm kiếm người khác giới…” (Hoa có chân). Anh viết như dứt ruột, như cào gan, như chà xát trái tim đỏ máu về “Phong slư” vời vợi niềm tự hào giá trị văn hóa Tày: “Nhớ người yêu là ngâm phong slư. Nếu lòng này không nói ra được thì tóc ốm tám tháng và mắt đau một năm. Nỗi nhớ người yêu chảy ra từ mười đầu ngón tay, xuống đến gót chân. Nỗi nhớ không còn đường đi. Nỗi nhớ buộc phải nhả ra đằng miệng. Ôi! Giá mà các bạn được nghe người ta ngâm phong slư trong khoảng trời chiều. Người của bạn sẽ chảy ra như sáp ong như chì nướng. Bởi một nỗi buồn tím tái từ hoàng hôn loang ra, gặp phải lòng người đang buồn rầu. Nỗi lòng bất an bị nắng vàng nhuộm sang bãi cỏ, chuyển tiếp ngược lên đến đỉnh núi. Đá núi cũng thẫn thờ, huống chi trái tim các chàng các nàng đang yêu”…

Sẽ gặp trong hầu hết tản văn “Củi Tết” cái kiểu viết có vẻ như cường điều, có phần cực đoan, nhưng bạn đọc sẽ dễ chấp nhận cái tình ẩn giấu trong tầng sâu vỉa than óng ánh là vẻ đẹp chân chất, hồn nhiên, kín đáo và càng trân quý hơn tình người, tình yêu quê hương nồng đượm, yêu dân tộc mình da diết của kẻ tha hương tự nhận mình là một “que thử”, dù “bứng ra khỏi đất Tày, nhúng xuống thành phố vẫn cứ xanh một màu rừng”. Anh rất hồn nhiên, tự bộc lộ con người mình rõ ràng và chân thực như cái bánh bóc bóc đến tận cùng không cần đậy điệm, giấu giữ. Có lẽ ít ai như Y Phương lại “tự bạch” mình như vậy. Tản văn là bức chân dung tự họa, là chân dung tâm hồn người trai Tày và những con người xung quanh: “Giống như cái thùng tôn nhẵn gạo, tôi cứ bô lô, ba loa. Có gì ngứa ngáy trong ruột gan, tôi xả ra bằng hết…" và "Tôi coi cái làng Tày như da bọc lấy người tôi. Nó nghi ngút khói lửa cay đắng trong hồn tôi. Ngôi làng ấy biến nước lã thành máu, chảy thấm qua và nuôi hàng trăm nghìn vạn tế bào quanh thân xác tôi". Vì thế “bứng ra khỏi vùng Tày”, sống ở Thủ đô, nhưng không lúc nào anh nguôi nhớ quê hương “Có buổi sáng nào ngồi dậy, nhìn trời Hà Nội trong veo, lòng tôi không một chút mây bay. Nhìn ra ngoài đường, người đi người lại ung dung đung đưa trên phố dài. Bóng người thưa thớt như răng bừa. Tiếng chân nhọp nhẹp lướt qua. Nhìn cảnh này tôi bỗng gai gai, buồn buồn ở trong gan ruột” (Cháo ngựa).

Sau hai tập tản văn “Tháng giêng - tháng giêng một vòng dao quắm” và “Kungfu người Co Xàu”, tản văn “Fùn nèn - Củi Tết” đã mang đến cho bạn đọc một vẻ đẹp mới từ những góc nhìn mới về văn hóa Tày và Hứa Vĩnh Sước - Y Phương - một nhà thơ Tày đã đến và chinh phục những người yêu tản văn, yêu nền văn hóa Tày rực rỡ, độc đáo, tràn đầy sức sống một cách tự nhiên.

Đây là một tài liệu hữu ích cho việc tìm hiểu, học tập, nghiên cứu, bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Tày nói riêng và văn hóa dân tộc nói chung trong thời kỳ giao lưu và hội nhập quốc tế. Tin rằng cuốn sách sẽ làm hài lòng bạn đọc gần xa yêu mến nền văn học, văn hóa dân tộc.

Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn tản văn thứ ba có tên gọi “Fừn Nèn - Củi Tết” của nhà thơ Hứa Vĩnh Sước - Y Phương.

                                                Hà Nội, tháng 30 tháng 4  năm 2015

Nguồn: Bản đăng trên Cổng thông tin Viện Văn học do tác giả gửi

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1