Ngôn từ nghệ thuật của Ma Văn Kháng trong truyện ngắn viết về miền núi
Dù viết về miền xuôi hay viết về miền núi, Ma văn Kháng cũng gửi vào đó tất cả tình yêu, tâm huyết và năng lực cá nhân với hi vọng đứa con tinh thần của mình được người đọc đón nhận và yêu mến.
NGÔN TỪ NGHỆ THUẬT CỦA MA VĂN KHÁNG TRONG TRUYỆN NGẮN VIẾT VỀ MIỀN NÚI
Đào Thủy Nguyên
Nghệ thuật văn chương là nghệ thuật ngôn từ. "Ngôn từ là yếu tố thứ nhất của văn học"(Gorki). Bằng ngôn từ, nhà văn dẫn dắt người đọc vào thế giới nghệ thuật của tác phẩm. Qua ngôn từ, người đọc nhận ra và phân biệt được nhà văn này với nhà văn khác, phong cách này với phong cách khác. Thực tế cho thấy, cái làm nên sức sống lâu bền của tác phẩm không phải là nội dung mà chính là ngôn ngữ. Nhà văn có thể đặt ra trong tác phẩm của mình những vấn đề quan trọng, thiết cốt của đời sống mà người đọc vẫn dửng dưng bỏ qua. Trái lại, có những tác phẩm, nội dung hình như không có gì quá đặc sắc mà cứ làm người ta mê đi. Theo Ma Văn Kháng thì chính là bởi "câu chữ nó hút hồn ta đấy.". Cũng theo nhà văn, trong truyện ngắn, một thể loạị mang tính hàm súc, có độ nén và sự bùng nổ cao thì "câu chữ ...nó lên men, nó toả hương, nó rủ rê, dẫn dắt, nó quyến rũ ta, nó là cái hồn của câu chuyện" (1). Nội dung nào - ngôn ngữ ấy. Phong cách ngôn ngữ phù hợp là yếu tố quan trọng hàng đầu làm nên thành công của tác phẩm. Bởi vì "Cái gì đã sống trong ngôn ngữ thì sẽ sống cùng ngôn ngữ"( Ma Văn Kháng). Ý thức rất sâu sắc về vai trò của nghệ thuật ngôn từ, ở những truyện ngắn viết về miền núi, Ma Văn Kháng đã có những tìm tòi, sáng tạo trong câu chữ để những gì ông viết ra đến được với người đọc trong sự cảm nhận đủ đầy cả cái riêng và cái chung, cả cái xa và cái gần của một vùng đất và những con người miền biên ải cực Tây Tổ quốc. Trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi chỉ đi sâu tìm hiểu chất miền núi trong ngôn từ nghệ thuật của một nhà văn người Kinh như những điểm nhấn quan trọng góp phần làm nên thành công của Ma Văn Kháng ở những truyện ngắn viết về miền núi.
1. Hệ thống từ ngữ gắn với cuộc sống và con người miền núi
Trong một lần trả lời phỏng vấn báo Thái Nguyên Thứ Bảy, Ma Văn Kháng đã nói đến hai vấn đề quan hệ đến chất lượng một văn phẩm, đó là: chất liệu và cách biểu hiện. Theo nhà văn thì cuộc sống ở miền núi và với đồng bào miền núi cho ông nhiều lợi thế. Đó là sự hiểu biết về nhiều mặt con người và cuộc sống miền núi - một chất liệu tươi ròng sự sống. "Không có chất liệu thì tài năng mấy cũng chịu. Cũng như thế, cách biểu hiện đậm đà màu sắc dân tộc cũng có sẵn ở trong lối kể chuyện, giao tiếp của bà con. Có thể học ở đó, bổ sung làm giàu cho văn phong của mình"(2). Quả như thế, nhờ sự am hiểu sâu sắc đời sống miền núi, Ma Văn Kháng đã có được "một kho chữ rủng rỉnh để tiêu dùng"(Phong Lê). Lan toả, quấn quyện và nồng đượm trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng cái khí vị miền núi, cái màu sắc miền núi. Bước chân vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, người đọc được "sống" trong môi trường đậm chất miền núi bởi bao quanh ta là cả một thế giới sinh động những tên đất, tên người, những sự vật, sự việc, những sinh hoạt, những cách cảm cách nghĩ mang đặc trưng miền núi. Phả vào ta hơi thở miền núi nồng nàn, thuần hậu mà hoang dã, bạo liệt. Này là tên những miền đất lạ xa xôi mà ai đã đặt chân đến một lần thì không thể nào quên: Pả kha, Liềng Phan, Pa Cheo, Sơn Tùng, bản Quẫn, bản Lùng, Mường Hum, bản Miệt...Những địa danh Tây Bắc ghi dưới tên mỗi truyện ngắn của Ma Văn Kháng thời kỳ đầu đã ghi dấu chân nhà văn trẻ trong sự gắn bó đến hết mình với mảnh đất vùng cao. Sau này, khi đã trở về miền xuôi, Ma Văn Kháng vẫn "không hề cắt đứt với những ngày sống đó". Kỷ niệm đọng lại thành dấn vốn tinh thần và những cái tên: Y Tí, Lầu Thí Ngài, San Cha Chải, Seo Mi Tý, Túng séng Sui, Bát Xát, Mường Cang... vẫn hiển hiện một tâm hồn Tây Bắc vương vấn và quấn quyện lòng người: "Hương sắc bản quê San Cha Chải, ấy là những triền núi vàng suộm cỏ gianh như một biển nắng chiều. Là cái khoảng xanh mờ ảo tít xa của những vùng rừng vầu cổ xưa. Là cái mùi hoa thảo quả thơm lựng hoà trộn với làn khí trời tê mát dưới tán rừng nguyên thuỷ thuần một loại Pơ mu lão đại". Nơi đây là vùng rừng nguyên sinh còn lưu giữ nhiều loài thực vật và động vật quen mà lạ: cây lá ngón, cây xoán xủ, cây sa mu, cây tông qua mu, cây mí, cỏ gianh, vầu đắng, hoa tục đoạn, hoa tam thất, hoa thuốc phiện..., gà rừng, lợn rừng, trâu rừmg, tinh hổ, vuốt gấu, ruồi vàng, mãnh thú...Và chỉ có nơi đây mới còn giữ được cái "không khí thanh sạch mùi hoa lá, yên bình như thời mới mở đất. Chó nhà thiu ngủ trong nắng chỉ hậm hực đánh hơi nếu có thú lạ về..., gà rừng ăn lẫn gà nhà, én làm tổ đầu hồi, trâu thả rông, mắt chưa thấy màu gì hơn màu chàm đen, màu lá rừng xanh..."
Thấp thoáng xa gần trong bức tranh thiên nhiên sơn thuỷ ấy là những chủ nhân của núi rừng, có người trẻ và người già, có người cũ và người mới, có người hiền và kẻ ác, có kẻ khôn và người dại...Họ gặp gỡ và neo lại trong ta một tình yêu, một tình thương, một nỗi lo hay một niềm căm giận với những cái tên quen thuộc như Giàng Xa Phủ, Seo May, Seo Mùa, Mã Đại Câu, Thào A Hoá, Sề Sảo Lỉn, Lý A Lừ, Giàng Tả...Họ đại diện cho các tộc người cư trú nơi đây: Người Mông, người Hoa, người Thái, người Giáy, người Hà Nhì, người UNí, Người Dao. người La Chí, người Mán, người Xá, người Phù lá, người Tày...Đời sống vùng cao lần lần được tái hiện nhờ một hệ thống từ ngữ sinh hoạt mang đặc trưng vùng miền mà nhà văn đưa vào: A Đa (Cha), AMá(mẹ), Ông Chày, Bà Chày (Ông Trời, Bà trời), thắng cố, túi bột ngô, lù cở, chõ đồ máo của, khu chê bạc, chũa củi, hội quán, bãi chơi, tục cấm bang, lễ lập tỉnh, lễ hội A Tha Chin Đơ, lễ cống ma.. Nhiều lúc, để giúp người đọc hiểu hơn về con người và cuộc sống miền núi, Ma Văn Kháng còn thêm vào đó những yếu tố thuyết minh. Nhờ đó, mối dây liên kết giữa cái riêng và cái chung trong ngôn ngữ miền ngược và miền xuôi dễ dàng được tạo lập. Sau đây là một số ví dụ: "Hố pẩu tức bô lão, tức người gốc", "Trời đây không phải là giàng, là lùng", "lãi cho vay từ lệ cha- pửi", "làm gái gầu phàng ăn ở không công", "prầusray tức thầy kèn", "già chỉm là bà then hát", "người Mông có từ nđù tức trời", 'những đêm vườn Giáy- hát Giáy"...
Người dân miền núi sống gần với tự nhiên. Cuộc sống của họ khi vui hay khi buồn, ngày hạnh phúc hay lúc đau thương vấn vương muôn vạn sự tự đan dệt trong những màu sắc, âm thanh, hình ảnh của cuộc đời thường nhật. "Đọc truyện của Ma Văn Kháng ta có cái thú được nhập ngay vào mạch truyện chảy trôi một cách tự nhiên như cuộc sống trải bày trước mắt. Tác giả miêu tả các sự kiện khá tỉ mỉ bằng những lời văn mộc mạc, ân tình, cảm động, chân thực như chính đời sống, tâm hồn, tiếng nói của những người miền núi"(3)
Đây là những âm thanh quen thuộc và gắn bó biết bao với con người miền núi: tiếng gió thổi ù ù, tiếng gà gáy ke ke ke, tiếng lợn xốc tộp tộp, tiếng con ngựa hồng nhai bắp côm cốp rồi dậm chân trước kêu brừ brừ.... tiếng đục đá cách cách, tiếng chạm đá đều đều vang lên khô khan... Và lời ca, tiếng hát - nhất là lời ca tiếng hát thì không thể bao giờ quên được:
"Cỏ ngải tàn cỏ ngải lại xanh
Như câu hát hết rồi câu hát lại bắt đầu..."
"Trời đêm nay hơn đêm qua
Trăng rằm đêm nay đẹp hơn trăng rằm đêm qua..."
"Chợ Lùng Sán sáu ngày họp một phiên
Người xa không hẹn mà cứ đến
Giống gai không vót mà vẫn nhọn
Chợ xa không hẹn họp vẫn nên"
"Em đẹp như con gà trống thiến
Xa em, hồn anh phảng phất ở vạt áo em"...
Còn đây là những hình ảnh chỉ có thể gặp ở không gian vùng cao: "Những con dốc cao ngửa ngực"; "Trời không ba ngày nắng, đất không ba thước bằng, suốt ngày sương phủ ủ ê nương thuốc phiện"; "Bãi cỏ mọc đầy cây ngải cứu và rải rác phân ngựa khô trắng mốc";" Lửa lên phơi phới, xua cái buốt như triệu mũi kim"; "Một mình, một ngựa"; "Mùa thu trên vùng cao, trời xanh thắm thiết và bắp ngô phô hàng hạt vàng ửng đỏ trên nương"; "Bên trái đường là một hốc đá nhỏ, bên trong có một bát hương và ba cồ đá quàng vải đỏ từa tựa hình người. Tục truyền đó là miếu thờ Phật bà Quan Âm"...
Tuy nhiên, không phải cứ đưa vào tác phẩm nhiều từ ngữ miền núi là có được khí vị miền núi. Thất bại của Tô Hoài ở những sáng tác viết về miền núi thời kỳ đầu là minh chứng rõ rệt nhất về điều này. Ta hãy nghe nhà văn kể lại: "Muốn cho có màu sắc miền núi, tôi tương vào câu văn nguyên xi những tiếng của người miền núi nói, mà mới nghe người miền xuôi thấy lạ tai. Ví dụ "Cái bộ đội" chẳng hạn. Sau một câu bằng tiếng Kinh nói không đúng mẹo mực, tôi thêm một tiếng "lố" ở cuối. Tôi cho thế là đắc sách... Tôi đã có một thời ấu trĩ như thế. Bây giờ nhìn lại thấy mình lố bịch một cách khôi hài. Đã không biết mà làm ra vẻ biết, lúc biết thật sự lại không cần làm ra mình biết ..."(4). Ma Văn Kháng từng tâm sự: Một trong những lí do quan trọng khiến ông tự nguyện lên vùng cao dạy học chính là vì say mê những trang viết về miền núi của Tô Hoài. Từ bài học của người đi trước, Ma Văn Kháng sớm rút ra bài học cho mình. Nhà văn học theo lối sử dụng cách nói miền núi của Tô Hoài ở những trang thành công nhất. "Và cái chính là anh đã sống nhiều năm với đồng bào miền núi, sống có tình. Anh miêu tả các dân tộc bằng một thứ tình cảm anh em ruột thịt. Những con người xa lạ tưởng như khó hiểu và man rợ trên vùng biên cương bỗng gần gũi thân quen, những cảnh sắc tưởng như buồn tẻ hoang sơ từ thuở khai thiên lập địa bỗng rực rỡ đẹp...Ma Văn Kháng đã làm như Tô Hoài là vẩy hồn vào cảnh vật, khiến chúng lung linh, rực rỡ, hấp dẫn và kích thích..." (5)
2. Sử dụng lối phô diễn của người miền núi
Sự sống động của ngôn ngữ trong văn chương Ma Văn Kháng viết về miền núi đã khiến cho "nhiều người đọc sách cứ đinh ninh tác giả là người Mèo. Tất nhiên không phải loè thiên hạ bằng những ngôn từ cụ thể, lối so sánh chất phác với các tên cây cối trong rừng, ví von với con hươu con nai bằng tiếng địa phương là lạ hoặc đôi lúc nhét một vài từ dân tộc trong lời thoại cho nó có sắc thái miền núi, nghe cứ tức anh ách"(6). Quan trọng hơn là ông gửi vào đó điệu hồn người vùng cao qua cách tư duy và lối diễn đạt của người miền núi. Điều này, không chỉ thể hiện qua ngôn ngữ nhân vật mà ngay ngôn ngữ người trần thuật cũng đầy biến hoá: lạ mà quen, quen mà lạ với lối tư duy giàu tính hình tượng, ngôn ngữ giàu chất thơ, những so sánh ví von giàu hình ảnh...
Hãy thử đọc một đoạn văn Ma Văn Kháng kể chuyện Giàng Tả đi thồ xăng thuê cho Ly Si Gơ: " Ôi trời, cái phuy xăng to tổ bố, thế mà hập cái lên lưng, phắt cái sợi sợ dây da vít lên trán. Rồi tun tút đi xuống dốc, phăm phăm đi ngược trở lại". Lời kể ở đây mang đậm nét tư duy người miền núi trong lối diễn đạt mang tính khẩu ngữ (ôi trời, to tổ bố) và sự tập trung miêu tả một cách vô cùng gợi tả những chi tiết hành động( hập cái, phắt cái, tun tút đi, phăm phăm đi).
Còn đây là đoạn miêu tả cảnh ông lão Tài vì khuyên vợ lên nông trường với mình không được mà trót lỡ lời để rồi ân hận thì không còn kịp nữa: "...Không hết câu, ông vội bập miệng. Lòng tự trọng, tính ngay thẳng không cho phép ông quá đà. Cỗ xe không lao xuống dốc nhưng con ngựa thì lồng lên bất kham...". Diễn tả cái tình thế chông chênh của mối quan hệ vợ chồng đang bị đưa đẩy đến nguy cơ của sự rạn vỡ, tác giả mượn những hình ảnh quen thuộc, gần gũi với đời sống của đồng bào miền núi (cỗ xe, con ngựa). Lấy cái hữu hình để diễn tả cái vô hình là một đặc điểm của lời trần thuật trong truyện ngắn Ma Văn Kháng viết về miền núi do sự nhập cảm sâu sắc của nhà văn vào đời sống tinh thần của người vùng cao mà có được.
Đặc biệt, ngôn ngữ trần thuật của Ma Văn Kháng nhiều khi còn tan hoà cùng những câu thành ngữ hoặc những câu dân ca quen thuộc của người dân vùng cao, tạo nên màu sắc miền núi tự nhiên và sống động. Chẳng hạn: "Bằng hành vi ấy mà hai bên thực hiện được nguyên lý anh là lửa em là củi"(Người bị ruồng bỏ); "Vào tuổi bẩy mươi, sau khi đã ăn muối nhiều hơn kẻ khác ăn cơm như câu thành ngữ người Giáy quen thuộc ...Lỉn bỗng nhận ra tính chất độc đáo của mỗi đời người."(Móng vuốt thời gian), "Phật phù hộ leo dốc chân không mỏi, xuống dốc gối không chồn, đường xa gặp nhiều điều may mắn"(San Cha Chải); "Dân ca Giáy hát Mường Hum nơi bến nước có nhiều hoa đào"( Người bị ruồng bỏ), hoặc:"Bốn năm, bốn lần cỏ ngải tàn rồi cỏ ngải lại xanh"(San Cha Chải)...Thành ngữ, dân ca vốn giàu tính nhạc, giàu chất thơ. Vì vậy, đưa thành ngữ, dân ca vào lời văn trần thuật, Ma Văn Kháng đã tạo nên chất thơ cho truyện ngắn viết về miền núi của mình. Thiên nhiên miền núi hùng vĩ và thơ mộng, con người miền núi hiền hoà, tình nghĩa và cũng còn nhiều bí ẩn là cơ sở cho ngòi bút giàu chất thơ, chất nhạc và chất hoạ của Ma Văn Kháng thoả sức thể hiện. Cảm hứng lãng mạn bay bổng cùng với tài năng sử dụng tổng hợp các phương tiện và biện pháp tu từ như : đối, điệp, liệt kê, đồng nghĩa kép và đậm đặc những từ láy tạo cho câu văn của Ma Văn Kháng một sức cuốn hút và ám ảnh đến ma mị:
"Na Le là một bức tranh hoang đường hư ảo. Anh yêu khung cảnh thôn bản mập mờ sau những búi mai xanh như khói. Khu ruộng trước làng lờ mờ những đường nét uốn lượn. Sườn đồi cỏ lùng bùng nhằng nhịt sau cái mảng xanh như mực của loài vầu đại, vầu đắng. Con suối dưới chân ruộng ồn ào cuộc đời làm ăn nhộn nhịp. Bờ đá trắng ngoằn ngoèo nét trầm tư. Những cây đào toè toè xoè lá sau mùa quả sai, Con dốc đá hun hút đi lên những tầng rừng già. Những đám mây nguyên thuỷ ôm trùm bản quê mỗi chiều đông giá...
Na Le, nhà lẩn trong rừng giao hoà với rừng. Lợn rừng kết nghĩa cùng lợn nhà. Gà nhà ăn lẫn gà rừng cùng cất tiếng gáy buổi rạng đông. Na Le, tháng tư chim gáy gù tiếng đầm ấm nuột nà như trai ngọc. Mặt ruộng lóng lánh như thuỷ ngân. Sấm ran trên đỉnh núi giục nấm nở rộ trong rừng. Người rời bếp lửa cùng tiếng chân lội âm vang khe lũng...
Na Le, một sưu tập về chuyện hổ, chuyện tinh hổ, ma quái. Na Le, gốc hát trăm họ trong vùng. Các ca sĩ dân gian từ đây toả tài năng đi các vùng Giáy, Phong thổ, Lào Cai, Bát Xát xa xôi...
Cổ tích ở Na Le như sỏi cuội ngoài suối..." (Mùa săn ở Na Le)
Ai đã một lần đọc những câu văn miêu tả khung cảnh Na Le này mà lòng không dâng lên một tình yêu tha thiết với cảnh và người nơi đây. Tình yêu của nhà văn gửi vào câu chữ tạo nên một giai điệu trữ tình lãng mạn đến say người. Là văn hay là thơ? Có lẽ phải gọi đây là thơ - một bài thơ xinh xắn được kết tạo bằng những màu sắc, âm thanh, hình ảnh thật ấn tượng dẫn dắt ta vào một thế giới nửa mơ nửa thực.
Và đây, hình ảnh nàng Seo Ly như là kết đọng những tinh tuý của trời đất, được hiện lên qua những điểm nhấn nghệ thuật giàu sức khái quát, giàu chất triết lý của một cây bút cao tay và lão luyện trong nghề:
"Nàng là trăng trên trời. Là chim quyên trong các loài lông vũ. Là măng tre trong các loại rau ăn. Là quả vải trong các thứ trái cây. Là mùa xuân của thiên nhiên... Nàng là đàn bà hơn tất cả đàn bà. Vì nàng gây thèm muốn được chế ngự thoả lạc của đàn ông. Cơn rừng động, đất rung khởi sự tự nàng..." (Seo Ly - kẻ khuấy động tình trường).
Tư duy người miền núi mang tính hình tượng, cụ thể. Vì thế, họ hay dùng những so sánh, ví von giàu hình ảnh. Học tập lối phô diễn của người dân tộc thiểu số, Ma Văn Kháng đã đưa vào những truyện ngắn viết về miền núi của mình rất nhiều những hình ảnh so sánh độc đáo, thú vị, gần gũi với đời sống của người dân miền núi, phù hợp với cách cảm, cách nghĩ của họ: "Dùng con dao phát, dao phát mòn thì làm thành thuổng, thuổng mòn thì làm con dao bài vót mây, dao vót mây mòn thì làm thành cái dùi chọc lỗ thả hạt bắp trên nương. Cái tiếng Phù Lá cũng thế";"Đánh giặc khó nói đến điều vẹn toàn được. Cái cuốc đem ra cuốc đất, va vào đá còn sứt mẻ nữa là", "Ông lão chịu nỗi đau như cái cây bị đốn không một lời kêu rên"; "Khi cây xuyên khung ra hoa thì ngắt đi để bồi bổ cho củ thêm mập. Xét ra đời Chẩn Hồ cũng vậy. Nó chết là để cho người khác được sống"(Bài ca trăng sáng); "Giàng Tả là hạt cỏ cứ bay đi, gặp đất tốt đậu lại, rồi gió thổi tới lại bay đi, vô định(Giàng Tả, kẻ lang thang); "Tình này lại là tình dục, giống cái bếp lò nuôi lửa thâu đêm"(San Cha Chải); "Ông già thợ bạc bé nhỏ, còm cõi như một chú quạ già vào mùa đông giá"(Người thợ bạc ở phố Cũ); "Vậy là được thiên thời, địa lợi, nhân hoà, đạo như lúa trổ bông, như hoa toả hương"(Cố Vinh, người xứ lạ)...
Ngôn ngữ nhân vật của Ma Văn Kháng cũng thể hiện thật rõ nét tâm hồn, tính cách và suy nghĩ của những con người miền núi với lối nói ví von, so sánh giàu hình ảnh : "Bố nó là ngô, là gạo, là sắn nên nó hiền lành? Vậy sao một chén vào bụng thì người uống đẹp như công như phượng. Nhưng đến chén thứ hai thì thành khỉ. Chén thứ ba thì thành lợn. Sau nữa thì thành hổ. Nó là con nhưng con hoang thôi!"(lời Phềnh - Ngựa bất kham). "Thưa thầy, em cảm ơn thầy vẫn dõi theo em. Em mong được thầy thông cảm. Vì suýt nữa em lại tủi hổ. Vì chả lẽ gạo ngon không có người nấu. Vì chả lẽ lại có chuyện người cầm cương, người cưỡi ngựa chống nhau hả thầy?...Ra tỉnh đi mất hai ngày đường. Hai ngày, không lâu, nhưng đường từ huyện ra tỉnh bằng phẳng nên mỏi chân quá, gần mà xa, xa mà gần là thế!..."(lời Pao - San Cha Chải).
Ngôn ngữ đối thoại của người miền núi trong truyện ngắn của Ma Văn Kháng thường rất ngắn gọn, thành phần câu được rút gọn chỉ vừa đủ lượng thông tin cho những câu hỏi trước đó. Điều này phù hợp với tính cách trầm lặng, ít nói, "thật thà như cục đất cục đá" của họ. Đây là đoạn thoại giữa Giàng Tả với đám trai làng:
- Sao họ không trả tiền mày à?
- Có trả.
- Thế sao không làm nữa? Sợ Việt minh lên cướp, giết à?
Đứng dậy, Giàng tả vỗ bèn bẹt vào ngực mình, sừng sộ:
- Tao làm gì nên tội mà nó giết? Tao có cái gì mà nó cướp?
- Mày thồ cả phuy xăng cho Tây!
- Ai bảo nó thách tao!
- Thế sao bây giờ bỏ đi?
- Nó đểu.
- Đểu thế nào? Nó trả tiền mày đấy thôi.
- Nó giết người, chúng mày không thấy à? Một người bạn thợ ngồi xây đá trên lô cốt ngã xuống chết , nó còn chửi. Nó không cho tiền mua quan tài chôn.
Bọn trai làng lắc lắc đầu, có đứa trêu:
- Có chết mày đâu mà mày tức.
Giàng Tả chỉ mặt nó:
- Mày không bằng con chó. Con chó nó không bao giờ ăn thịt bạn nó nhé...
Còn đây là đoạn thoại giữa bọn cướp và Khun:
- Khun, tao hỏi mày, mày nói thật đi.
- Tao không giấu!
- Mày đã giết bao nhiêu người
- Mười. Mười lăm. Không nhớ.
- Vì sao mày thích giết người thế?
- Tao bảo vệ ông chủ.
- Trời!
... - Mày là con lão Ký ư?
- Không.
- Mày là con chó nhà lão ư?
- Ừ.
Di chuyển điểm nhìn trần thuật từ bên ngoài vào bên trong thế giới tâm hồn nhân vật, bằng một ngôn ngữ nửa trực tiếp, Ma Văn Kháng còn có khả năng diễn tả lời nội tâm của người dân miền núi theo đúng cách cảm cách nghĩ của họ. Đây là đoạn văn viết về Giàng Tả và suy nghĩ của nhân vật khi được chia các vật dụng từ "cái tàu bay nó ị xuống"( lời Giàng Tả): "Tả cũng được chia mọi thứ. nhưng quần áo Tả không mặc vì chê dày, cứng. Giày da Tả cũng không đi vì trầy da chân...Tả cũng không thích chờ cơm Tây. Hay gì miếng ăn phải chầu chực mới có..."( Giàng Tả - kẻ lang thang) hoặc:"Lấy mấy đồng bạc trắng dự trữ của mình ra, ông đặt vào âu, rồi vừa làm công việc của người thợ bạc, ông vừa lẩm bẩm: "Lỗi tại ta! Lỗi tại ta. Ta nhìn lá vối ra chè!Ta lầm lỗi, ta phải đền bù"(Người thợ bạc ở phố Cũ).
Có ý thức sử dụng hệ thống từ ngữ và lối phô diễn mang đặc trưng cách cảm cách nghĩ của người dân tộc nhưng Ma Văn Kháng không hề lạm dụng. Nhà văn biết cách lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ miền núi ở mức độ vừa phải, thích hợp với điều kiện, hoàn cảnh của từng truyện. Có thể khẳng định: "Sự vận dụng ngôn ngữ và cách viết sao cho có được maù sắc bản địa mà vẫn không xa cách với lối diễn đạt hiện tại"(7) là một ưu điểm của Ma Văn Kháng .
Ngôn từ nghệ thuật linh hoạt, giàu sức biểu cảm và phù hợp trong từng cảnh huống cụ thể đã tạo nên hiệu quả thẩm mỹ cao trong nhiều truyện ngắn viết về miền núi của Ma Văn Kháng. Tuy nhiên, đôi lúc người đọc đột nhiên thấy xen vào giữa mạch trần thuật những đoạn trữ tình ngoại đề mang tính thuyết lý hoặc triết lý rất lộ, làm lấn át hình tượng nghệ thuật. Đoạn văn sau đây là một ví dụ: "Pao lầm lì. Miệng ngậm. Mắt gườm, suốt ngày không mỏi. Soi trong giếng nước có lúc giật thột, vội đưa tay lên rờ mặt: Ai thế nhỉ? Con người luôn xa lạ với chính mình. Con người luôn dao động giữa các cực căng thẳng. Chỉ có thể hiểu được nó bằng kinh nghiệm riêng, bí ẩn và sự từng trải cũng rất bí ẩn. Vì con người khó hiểu khôn lường. Như anh Tủa đó..."(San Cha Chải)
Dù viết về miền xuôi hay viết về miền núi, Ma văn Kháng cũng gửi vào đó tất cả tình yêu, tâm huyết và năng lực cá nhân với hi vọng đứa con tinh thần của mình được người đọc đón nhận và yêu mến. Thế nhưng, việc lựa chọn những điểm nhấn nghệ thuật riêng để có thể chuyển tải có hiệu quả ý đồ tư tưởng của mình về các vấn đề của đời sống vùng cao đến với người đọc vẫn là định hướng quan trọng chi phối ngòi bút của nhà văn. Sự hiểu biết và nhập cảm sâu sắc vào đời sống miền núi giúp Ma Văn Kháng có được một chất liệu ngôn từ tươi ròng sự sống với một hệ thống từ ngữ và lối phô diễn mang cách cảm, cách nghĩ của người vùng cao thích hợp cho sự chuyển tải những vấn đề của con người và cuộc sống nơi đây. Khí vị miền núi, điệu tâm hồn người miền núi thấm đượm trong câu văn và chữ dùng của nhà văn người Hà Nội, dẫn dắt người đọc vào một thế giới vừa gần gũi vừa xa xôi, để rồi trong ta dâng lên một niềm thích thú, một tình yêu, một sự đồng cảm tha thiết và chân thành.
____________________
Chú thích
1. Ma Văn Kháng (1999 ), Tôi viết truyện ngắn, Tạp chí Hồng Lĩnh, số 39.
2. Thanh Hằng (1998), Chất lượng và biểu hiện, BáoThái Nguyên Thứ Bảy, số 204 (19/9).
3.Văn Giá (2002), Tuyển tập Văn học dân tộc và miền núi (tập 4), NXB Văn học, Hà Nội, tr 101.
4,5. Hoàng Tiến (1980), Đọc Đồng bạc trắng hoa xoè, Tạp chí Văn học, số 1.
6. Ma Văn Kháng (2003 ), Móng vuốt thời gian, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, tr 6.
Nguồn; Bài viết do tác giả cung cấp, đã công bố trên Tạp chí Nhà văn, năm 2010.