“Vũ khúc Tày” đã góp phần hoàn chỉnh sự nghiệp văn chương của Y Phương, cho thấy một tài năng đa dạng, sáng tạo bền bỉ và mang đến cho bạn đọc một vẻ đẹp mới từ những góc nhìn mới về văn hóa dân tộc và nhà thơ Tày Hứa Vĩnh Sước - Y Phương
VŨ KHÚC TÀY: NHẬP HỒN CÙNG LÊN ĐỒNG
(Đọc tập thơ song ngữ Việt-Tày Vũ khúc Tày của nhà thơ Y Phương do
Nhà xuất bản Đại học Thái Nguyên ấn hành-2015)
LÊ THỊ BÍCH HỒNG
Chạm mắt vào bản thảo song ngữ “Vũ khúc Tày” (Tủng Tày), tôi thực sự bị cuốn hút, bị thôi miên, bị dẫn dụ đến mê muội ngay từ lời đề từ “Xin thưa” (Xo chiềng) cho tập thơ song ngữ Việt - Tày:
“Khi chưa có tình yêu
Con người chỉ là từng hạt thóc riêng lẻ
Có tình yêu rồi
Con người mới trở thành cơm nghi ngút trắng”
(Pửa xằng mì slim điếp
Tuô cần tồng khẩu cóc táng lé
Mì slim điếp dá
Tuô cần chắng pền pát khẩu khao)
Thế là sau gần 9 năm tập thơ song ngữ đầu tiên “Thất tàng lồm” (Ngược gió, 2006) ra đời, bạn đọc đã “thỏa nỗi nhớ mong” được đón “Vũ khúc Tày” - tập thơ song ngữ Việt - Tày tiếp theo của anh. Vượt qua cảm giác lống loáng rỗng ruột vắt kiệt mình cho trường ca “Chín tháng”, “Đò trăng”, người con trai làng Hiếu Lễ không cho phép ngừng viết dù bất cứ lý do nào, dẫu bất cứ hoàn cảnh nào, kể cả khi chân chậm, mắt mờ theo tuổi tác “Đêm đêm” chỉ còn “chân gác chăn”, kể cả đang mang tâm trạng bải hoải mệt mỏi “Bung buồn”, “Cô đơn lên chót vót”, “Nhai đau”... Phải viết, phải viết… đó là “mệnh lệnh trái tim” cất lên những hồi róng riết và thế là “bầu khí quyển thơ” Y Phương trở lại với 108 bài thơ đầy đặn, nói đúng hơn là 108 bài thơ tình yêu nồng ấm yêu thương tung tẩy, quậy cựa như “một bầy ngựa hoang”, “ngùn ngụt núi lửa”, “trùng điệp nhớ”, “giông bão chờ”, trái tim đỏ máu “khe khẽ người”… Cũng chẳng lạ, nói như nhà văn Phạm Quang Trung kẻ “Tử vì Đạo - Đạo yêu” lại không say, không viết thơ tình. 108 bài chứ đến 1080… bài cũng là lẽ thường, là “chuyện thường ngày ở huyện”, quá hiển nhiên với một nhà thơ được bạn bè yêu mến “tróc nã” đến tận cùng trúng phóc “tim đen” để rồi “Nhà yêu học” chỉ cười trừ và thầm nghĩ “họ chỉ được cái nói đúng”. Anh đã từng tự bạch hồn nhiên, chân thật chẳng kiêng dè, giấu giữ trên Fabook cho cả thế giới biết về một Y Phương “Chỉ biết yêu thôi chả biết gì”, yêu dẫu cho “ngày mai trời sập”, đã yêu thì đừng “đắn đo, đừng băn khoăn, đừng tính toán thiệt hơn”, đã yêu thì bất chấp “Mưa ngập đường anh vẫn tới - Hổ báo đón đường anh vẫn tới - Đến nơi có một Tình yêu lớn”… với tuyên ngôn xanh rờn của kẻ được bạn yêu thơ phong là “Thủ lĩnh vương quốc ái tình”: “Nếu không yêu và làm thơ thì khói tôi chả còn biết làm gì nữa. Hãy yêu đi bạn ơi. Cuộc sống không có tình yêu khác nào khu vườn không có ánh nắng. Biết rằng mình đang yêu và đang được yêu làm cho cuộc sống ý nghĩa, ấm áp và giàu có - điều mà ngoài tình yêu ra, không có gì có thể làm được…”. Tôi mới cắt nghĩa được câu hỏi vì sao nhà thơ tự nhận mình là “Thánh Valentine” (vị linh mục dám chống lại Vua Claudius với điều luật điên rồ cấm những đôi lứa yêu nhau để rồi phải chịu cuộc hành hình vào đúng ngày 14/2 năm 270 TCN) trong một cuộc nói chuyện thơ với thanh niên sinh viên một trường đại học. Với chất giọng trầm ấm (trẻ hơn nhiều so với tuổi), nhà thơ xúc động rưng rưng khi nhắc tới vị linh mục nhân ái ấy “Tôi yêu Valentine bởi vị linh mục này đã dũng cảm bênh vực tình yêu, đã bất chấp cả cái chết để bí mật làm phép cưới cho những đôi lứa yêu nhau. Chỉ có yêu và được yêu thì con người mới làm nên sự vĩ đại. Nếu không có tình yêu thế giới sẽ trở nên hỗn mang”. Thế là “Thần ái tình Cupid” Y Phương công khai “cái tạng” của mình và trở thành một “fan ruột”, một tín đồ trung thành của “Ông hoàng thơ tình” Xuân Diệu, đồng điệu với phát ngôn: “Làm sao sống được mà không yêu
Không nhớ, không thương một kẻ nào”
Dẫu biết: “Yêu là chết ở trong lòng một ít”
Nhưng có lẽ điều kỳ diệu trong thơ tình yêu của Y Phương nói chung và “Vũ khúc Tày” nói riêng chính là nội lực yêu, cường độ yêu phập phồng, quậy cựa đến tận cùng sinh nở.
Nếu như trong các tập thơ trước, anh mới rón rén thả thơ tình (có khi là bài, có khi chỉ là câu) trải vào các tập thơ “Tiếng hát tháng Giêng”, “Lời chúc”, “Đàn then”, “Chín tháng”, “Thơ Y Phương”, “Thất tàng lồm”, “Đò trăng”… Đến “Tuyển thơ Y Phương”, vượt qua sự dè dặt, anh dành một phần “Những người đội rượu” cho thơ tình, nhưng phải đến “Vũ khúc Tày” cảm xúc ùa ập, tràn trào như núi lửa phun trào nham thạch, anh “trình làng” cả một tập thơ trọn vẹn 100% thơ tình. Vâng. 108 bài thơ tình rút từ “kho thơ yêu vô tận” của một nhà thơ sắp bước vào cái ngưỡng tuổi “xưa nay hiếm”. Thật cảm phục. Thế mới biết “tình yêu không tuổi, ngàn đời vẫn xanh”. Có lẽ vì thế mà bạn đọc không lạ khi Y Phương tâm đắc câu ca: “Người ta có thể no đủ vật chất Nhưng lại luôn đói khát tình yêu” Có ai đó đã nói yêu là để sống thêm một cuộc đời khác nữa rất trùng với suy nghĩ của anh: “Yêu nghĩa là sống
Nhân lên trăm ngàn lần
Sống nghĩa là sung sướng
Sung sướng nghĩa là dâng mình cho tình yêu”
(Vu vơ người)
Người nặng trái tim yêu như Y Phương luôn vịn vào thơ và tình yêu như chính quan niệm về thơ: “Thơ cũng giống như tình yêu. Không có sự run rẩy thì không có thơ”. Khi nhạc sĩ Trịnh Công Sơn thao thiết rằng “về sau sỏi đá cũng cần có đôi”, thì Y Phương cũng luôn xoắn bện thơ với tình yêu thành... cặp như anh với em, như cây với đất, như bến với thuyền... Anh cho rằng đến như thời gian 12 tháng vận chuyển “bướm ong còn làm bạn với hoa” huống chi con người đầy cảm xúc mà lại sống thiếu tình yêu. Một mệnh lệnh thức yêu: “Hãy yêu thương nhau, xin đừng nhìn như vỏ trấu” (Hỡi con người). Với Y Phương, thơ và tình yêu luôn song hành, cộng hưởng như trai gái “phải lòng nhau”, là một “cặp bài trùng”, hay nói đúng hơn một “cặp đôi hoàn hảo” để tình yêu thăng hoa cho thơ và và đến lượt mình thơ kỳ diệu hóa tình yêu thành một loài “Hoa bất tử”.
Đúng là tạo hóa sinh hoa cỏ cho mùa xuân. Trời đã sinh đàn bà để cho đàn ông. Cũng như Y Phương là người sinh ra để yêu, để làm thơ, để ca ngợi vẻ đẹp của đàn bà và tình yêu… Sẽ không lạ sắc màu chủ đạo trong “Vũ khúc Tày” là màu… yêu… với đầy đủ những gam màu, những cung bậc. Tình yêu là bạn đồng hành của nỗi nhớ. Thơ Y Phương đốt lòng cho nỗi nhớ khắc khoải khi yêu: “Ta nhớ em đến chín - Ta nhớ em đến sống - Ta quên mình đang thai”... để rồi chỉ còn biết “đổi nỗi nhớ em” và “Tiếp tục đếm tóc chờ” (Gửi người vào chốn rừng sâu). Yêu đi liền với giận hờn, ghen tuông. Giận cũng thật khủng khiếp, cũng đày đủ cung bậc “Cơn giận ngoi từ đất - Bò lên bàn chân - Leo đến đầu gối - Trườn lên eo lung - Ngậm vào bầu ngực - Giận dừng lại - Rồi bùi ngùi thương” (Giận thương). Nhưng ấy là “giận thì giận mà thương thì càng thương”. Yêu là chết trong lòng một chút. Chỉ có yêu thì mới làm cho trái tim đau đến vậy. Sự đau khổ làm cho tâm hồn thêm nhẹ nhàng và thanh cao. Nhà thơ cảm nhận hơn hết để câu thơ “Cùng nhiu nhíu đau” (Gửi người vào chốn rừng sâu). Con người nhỏ bé, hữu hạn trước cái vô cùng. Tránh sao được quy luật thời gian ấy. Trái tim nghệ sĩ rất mực nhạy cảm, khắc khoải đầy dự cảm vào một ngày “Khi tình yêu mủn rồi - Những nụ hôn ra sao?”. Câu hỏi lớn cho tình yêu lớn đã có lời đáp khi nhà thơ nhìn thấy trong “nhập nhoạng hoàng hôn đã le lói bình minh”:
“Ồ không sao
Khi mặt trời rời bầu trời
Những đứa con của họ bắt đầu chín”
Nhìn bằng mắt thường sao mà thấy được, sao mà hiểu được: “Gió làm sao hiểu nổi Lá làm sao hiểu nổi Người làm sao hiểu nổi” (Khúc quành) Chả biết tự lúc nào anh đã tự biến mình thành tên “cai ngục dễ thương” trái với quy luật thông thường là tên “cai ngục” lại trở thành kẻ bị “cầm tù” cho “mê cung tình ái”.
Không chỉ là tín đồ “Tử vì đạo”, anh còn là tín đồ “Tử vì đẹp”. Ta bắt gặp trong “Vũ khúc Tày” là kẻ mê say, săn tìm cái đẹp một cách hồn nhiên. Hồn nhiên và thành thật, ấy là thơ anh. Giàu cảm xúc trước cái mới, cái đẹp, ấy là con người anh. Trân trọng tôn vinh phụ nữ, ấy là phẩm chất của anh… Thơ tình Y Phương xây dựng nhiều thi tứ, nhiều thi ảnh đẹp, độc đáo tràn đầy yêu thương về người phụ nữ. Cái đẹp tỏa và sống động trong từng con chữ “sinh nở”, “cựa quậy”, “phập phồng”... Tác phẩm của anh một cách tự nhiên đã nói lên một phẩm chất truyền thống của văn hóa Việt là tôn trọng và đề cao phụ nữ:
“Người đàn ông tựa lưng vào người đàn bà
Người đàn bà tựa lưng vào biển cả”
“Vũ khúc Tày” có bao bài thơ thắt lòng, đắng đót vì sự “trái gió” nhức buốt, hoang hoải ấy. Kể cả khi khoác bên ngoài vẻ lặng yên thì bên trong trời vẫn trở gió, vẫn là núi lửa trào sôi, phun trào nham thạch để mỗi mảnh vỡ của nó là miền yêu quậy cựa, thăng hoa một loài “Hoa bất tử”:
“Sinh con rồi Tình yêu ta chưa sinh
Sinh cháu rồi Tình yêu ta mới đến”
Xâu chuỗi trong tất cả những bài thơ tình của anh, người phụ nữ có cái tên rất chung mà cũng rất riêng, là “EM”. Có lúc anh ví người phụ nữ yêu là sen tôn quý, ngoài vẻ đẹp trong sáng chính là đức hy sinh:
“Em là sen
Sen của đời thường
Sen nhận hết về mình
Bùn đen
Nước đục”
Em có sức mạnh cảm hóa bởi cái Đẹp:
“Em như cây hoa
Ai gần em cũng đẹp
Em như chum rượu
Ai gần em cũng say
Em như bếp lửa
Ai gần em cũng ấm...”
Em được ví với mùa thu:
“Người làng mình tung tăng từ mùa thu đi ra
Vừa đi vừa sáng”
Người đàn ông trong thơ ý thức lời truyền dạy của cổ nhân “Hồi đầu thị ngạn” (Quay đầu là bờ). Cha ông người Tày cũng có câu “Ni khẩu cốc dáng” (chạy lại đằng chuôi). Sự thành thực với mình, với tình yêu là phẩm chất cần có. Tình yêu luôn làm đẹp nhau, tôn nhau, làm đầy nhau. Biết sai phải sửa để trở thành người tốt. Ấy mới là CON NGƯỜI viết hoa:
“Có em về
Anh mất dần thói xấu
Biết ăn năn trước lúc bình minh”
Biết ơn tình yêu, biết ơn người đàn bà yêu trong thơ khi câu thơ đầy niềm tôn vinh:
“Những gì anh có được Đều bắt đầu từ em”
(Em - cơn mưa rào, ngọn lửa)
Cái tình trong thơ Y Phương xuất hiện trong nhiều trạng thái khi trầm khi bổng; trong nhiều tâm trạng vui, buồn, khi bâng khuâng, khi nghẹn ngào… Trái tim nhà thơ cực kỳ nhạy để thấy mình đôi khi giống như một “ốc đảo cô đơn một cách kiêu hãnh giữa xã hội xô bồ chen chúc”, nhưng lại thường trực nhu cầu giao tiếp với đời, với người. Đã hình thành một phong cách, một ý thức sâu sắc là tự tắm mình, tự dung dưỡng trong “bầu khí quyển” cội nguồn bản sắc văn hóa Tày để bằng nội lực, phát huy tầng sâu văn hóa của dân tộc thiểu số để có được tư duy của “người đồng mình”. Anh tự trang bị cho mình một hệ mỹ cảm nhất quán. “Nhốt nỗi buồn này lại - rồi thả khát khao ra cùng với gió trời”. Điều đặc biệt vẫn trên nền thừa kế và sở hữu một kho tàng văn hóa Tày truyền thống vững chắc cùng một tình yêu với trách nhiệm của một người cầm bút “cực khó tính” với nghề: “Văn chương với tôi là một thứ chơi. Chơi cho mình thích và cho người ta thích”. Nhà thơ đã từng “viết như nã đạn súng kíp hàng trăm viên vào một con thú”. Nhưng anh quyết “khai tử những “xác chết của chữ nghĩa”, đã bỏ đi những bản nháp không thương tiếc, bởi những non bấy, nhạt nhòa”. Bỏ đi “bản nháp” trong đời văn, đồng nghĩa với việc “phải bỏ đi cả trăm con chữ bấy bớt, nhạt nhẽo chỉ để có được một dấu phẩy sinh động tươi rói…”. Có trải nghiệm đó, anh mới càng trân quý cái “đích thực” hôm nay.
“Anh loay hoay tìm
Bạc đầu không ra
Em như trầm tích
Một mai vỡ òa”
“Người con làng Hiếu Lễ” ý thức bảo tồn văn hóa “người đồng tình” bằng dùng tiếng mẹ đẻ: “Người ta phải yêu tiếng mẹ đẻ cái đã. Yêu hết mình mới có thơ ca. Yêu từ tim gan bên trong xương thịt mình. Khi con tim không rung, đôi tay không buồn, cầm cây bút sao nổi. Cầm bút không nổi lấy đâu ra thơ ca”. Đây là tập thơ tình yêu song ngữ Việt - Tày đầu tiên của anh. Trân trọng tiếng nói của dân tộc, nhà thơ như thấy:
“Tiếng Tày
Nói ra là sáng
Tiếng Tày
Nói xong là ấm
Tiếng Tày
Thẳng ngay như đường kẻ
Tiếng Tày
Thật thà như chị, nồng nàn như mẹ
Tiếng Tày Trong ta đi từng giây”
“Vũ khúc Tày” đã góp phần hoàn chỉnh sự nghiệp văn chương của Y Phương, cho thấy một tài năng đa dạng, sáng tạo bền bỉ và mang đến cho bạn đọc một vẻ đẹp mới từ những góc nhìn mới về văn hóa dân tộc và nhà thơ Tày Hứa Vĩnh Sước - Y Phương đã và sẽ tiếp tục chinh phục những người yêu thơ, yêu nền văn hóa Tày rực rỡ, độc đáo, tràn đầy sức sống một cách tự nhiên. Tôi như thấy “Vũ khúc Tày” mướt mát như cỏ, mềm mại như gió, sáng long lanh như sương, ấm nồng màu tình yêu, ngọt ngào hương cánh đồng con gái… Trên từng con chữ bỗng nghe có thanh âm trong trẻo của giọt đàn, của “vũ điệu nàng Hai”, của “câu hát Hà Lều” rất... ngọt rằng:
“Ta yêu nhau sinh ra nhau em ơi”...
“Vũ khúc Tày” dành cho những ai đã yêu, đang yêu và sắp yêu. Có thể sẽ thấy mình trong “gương thơ tình” đó.
Nguồn: Bài đăng trên Cổng thông tin Viện Văn học do tác giả cung cấp