Nghệ thuật diễn xướng trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển
Dân ca đám cưới của người Dao Tuyển phản ánh nhiều mặt trong đời sống văn hóa như: phong tục tập quán, tình cảm, tâm hồn, tính cách, những phẩm chất tốt đẹp, những quan niệm về hôn nhân gia đình truyền thống của họ, góp phần tô đậm bản chất văn hóa đặc sắc của đồng bào, làm nên diện mạo riêng, độc đáo của tộc người.

NGHỆ THUẬT DIỄN XƯỚNG TRONG DÂN CA ĐÁM CƯỚI

CỦA NGƯỜI DAO TUYỂN

                                                                                                 BÀN THỊ QUỲNH GIAO 

Tóm tắt

Khi nghiên cứu dân ca đám cưới của người Dao Tuyển chúng tôi nhận thấy nếu chỉ nghiên cứu chúng trên phương diện ngữ văn là chưa đủ bởi nó thiếu đi mặt rung cảm nghệ thuật, ca từ và diễn xướng. Để hiểu được một chỉnh thể nguyên hợp của văn hóa dân gian, thì nghệ thuật diễn xướng trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển là một thành tố cần được nghiên cứu và đánh giá một cách thỏa đáng. Qua tìm hiểu các ý kiến đề cập đến thuật ngữ diễn xướng, chúng tôi thấy ngoài những ý kiến chưa thống nhất thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều có chung nhận xét: Diễn xướng là hình thức biểu hiện, trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, điệu bộ, cử chỉ… Theo đó chúng tôi thống nhất với cách hiểu trên và tìm hiểu diễn xướng trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển qua  năm phương diện đó là:  Chủ thể diễn xướng, thời gian diễn xướng, không gian diễn xướng, quá trình diễn xướng và nghệ thuật diễn xướng. Qua đó, chúng ta thấy dân ca đám cưới giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Dao Tuyển, nó vừa là những tác phẩm nghệ thuật, vừa là những tri thức dân gian hướng dẫn thực hành nghi lễ.

Trong tổng thể văn hóa dân gian của người Dao Tuyển, dân ca đám cưới chiếm một vị trí vô cùng quan trọng, chúng phong phú cả về nội dung và nghệ thuật diễn xướng, dân ca đám cưới nằm trong dòng dân ca nghi lễ và phong tục. Khi nghiên cứu về thể loại này chúng tôi nhận thấy nếu chỉ nghiên cứu chúng trên phương diện ngữ văn là chưa đủ bởi nó thiếu đi mặt rung cảm nghệ thuật, ca từ và diễn xướng. Vì thế để hiểu được một chỉnh thể nguyên hợp của văn hóa dân gian, thì nghệ thuật diễn xướng trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển là một thành tố cần được nghiên cứu và đánh giá một cách thỏa đáng.

        Theo Từ điển tiếng Việt, diễn xướng là “trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, nhịp điệu”(1). Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thu thì “Thuật ngữ diễn xướng là để chỉ chung việc thể hiện, trình bày những sáng tác văn nghệ của con người gồm nhiều yếu tố hợp thành (..) diễn xướng là tất cả những phương thức sinh hoạt văn nghệ mang tính chất nguyên hợp của loài người từ lúc sơ khai cho đến thời đại văn minh hiện nay”(2). Minh chứng cho định nghĩa ấy tác giả Nguyễn Hữu Thu đã liệt kê ra các yếu tố cấu thành diễn xướng như: con người, văn bản dân gian, địa điểm, thời gian, ngôn ngữ, động tác… nhưng ông đặc biệt nhấn mạnh vào yếu tố con người -  chủ thể của nghệ thuật biểu diễn. Cũng đề cập đến tính chất nguyên hợp của diễn xướng nhà nghiên cứu Hoàng Tiến Tựu lại chỉ ra : “diễn xướng dân gian là hình thức sinh hoạt của văn nghệ của nhân dân… là cái nôi sinh thành của văn nghệ dân tộc”(3) , ông nhận định đánh giá như vậy là đúng nhưng chưa đủ mà phải hiểu diễn xướng dân gian theo hai nghĩa rộng và hẹp. Nghĩa rộng, diễn xướng dân gian là tất cả mọi hình thức diễn xướng (hình thức biểu diễn) và nó mang tính nguyên hợp (tính chất tổng hợp tự nhiên); còn nghĩa hẹp nó chỉ bao gồm các thể loại diễn ( như trò diễn dân gian, các trò tế lễ dân gian, trò chơi đồng dao trẻ em…). Còn nhà nghiên cứu Richrd Bauman trong công trình nghiên cứu Nghệ thuật ngôn từ truyền miệng như một hình thức diễn xướng đã nhấn mạnh: “Về cơ bản, sự diễn xướng với tư cách một phương thức thông tin bằng miệng bao gồm cả giả thiết về trách nhiệm trước thính giả về một sự thể hiện năng lực truyền đạt. Năng lực này nằm ở chỗ kiến thức và khả năng nói theo những cách thích hợp về mặt xã hội (…). Như vậy sự diễn xướng thu hút sự chú ý đặc biệt và nhận thức được nâng cao về hành động biểu đạt và cấp phép cho thính giả xem hành động biểu đạt và người thực hiện với một cường độ đặc biệt”(4). Bauman cũng chỉ ra các yếu tố cấu thành của hình thức diễn xướng đó là: các luật lệ, công thức, đặc điểm cận ngôn ngữ đặc biệt, ngôn ngữ bóng bẩy… để từ đó ông nhấn mạnh “diễn xướng mang tính Folklore như một hiện tượng thông tin, vượt ra cái ứng dụng phổ biến”(5). Về cơ bản các quan niệm về diễn xướng như đã nêu ở trên phù hợp với lưu truyền các sáng tác dân gian.

         Qua tìm hiểu các ý kiến đề cập đến thuật ngữ diễn xướng, chúng tôi thấy ngoài những ý kiến chưa thống nhất thì hầu hết các nhà nghiên cứu đều có chung nhận xét: Diễn xướng là hình thức biểu hiện, trình bày các sáng tác dân gian bằng lời lẽ, âm thanh, điệu bộ, cử chỉ… theo đó chúng tôi thống nhất với cách hiểu trên và tìm hiểu diễn xướng trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển theo quan điểm đó.

 1. Chủ thể diễn xướng trong đám cưới của người Dao Tuyển

          Đám cưới của người Dao Tuyển được tiến hành qua nhiều bước với những nghi lễ bắt buộc như: Lễ so tuổi, lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới. Trong lễ cưới của người Dao Tuyển, có các nghi thức như: Nghi thức nghỉ trạm, nghi thức vượt các cửa ải, nghi thức trình hồng thư, nghi thức trầu cau, nghi thức hợp cẩn, nghi thức thu vía cô dâu chú rể... Mỗi một nghi lễ, nghi thức đều có những bài dân ca tương ứng, được diễn xướng bởi ông mối, phù dâu, thầy cúng, trai gái trong bản. Để thực hiện các nghi lễ này nhà trai phải nhờ một ông mối hiểu biết tập quán cưới hỏi, biết nhiều bài hát nghi lễ đám cưới, có khả năng ứng tác, khéo léo trong giao tiếp. Còn nhà gái phải nhờ được hai thầy cúng phụ là người trong dòng họ, biết cúng, thạo các nghi thức cưới hỏi, biết nhiều bài hát, có khả năng hát đối đáp. Ông mối thay mặt nhà trai thảo luận và hát đối đáp với hai thầy cúng phụ của nhà gái trong từng nghi lễ. Bởi vậy, để được mời làm ông mối thì họ phải đạt được những tiêu chuẩn chính: nhất thiết có gia đình, gia đình hạnh phúc, hòa thuận, có cả con trai và con gái, có lối sống lành mạnh, có uy tín trong cộng đồng làng bản, nếu là người có địa vị trong xã hội thì càng tốt, đặc biệt phải am hiểu các phong tục, tập quán, có tài ứng đối linh hoạt, giỏi thơ phú, trong mọi tình huống có thể “ứng khẩu thành thơ”.

        Khi thực hiện các nghi lễ trong đám cưới, ông mối diễn xướng nội dung các bài hát sao cho phù hợp với từng nghi lễ để trả lời thầy cúng bên nhà gái các vấn đề liên quan đến: Lễ vật, tên tuổi, hôn sự của đôi trai gái. Các bài hát trong các nghi lễ đó thường theo các môtíp có sẵn, song trong cuộc trao đổi ông mối có thể ứng tác và sáng tác thêm cho phù hợp. Vì thế, số lượng của các bài dân ca đám cưới của người Dao Tuyển ngày càng thêm phong phú. Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xem xét chủ thể diễn xướng dân ca trong lễ cưới của người Dao Tuyển còn diễn xướng dân ca trong lễ so tuổi, lễ dạm ngõ, lễ ăn hỏi chúng tôi sẽ trở lại trong một bài viết khác.

2. Thời gian diễn xướng trong đám cưới của người Dao Tuyển

            Đám cưới của người Dao Tuyển được tổ chức nhiều nhất vào khoảng thời gian từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch đồng bào gọi đó là mùa cưới (cũng có một số gia đình tổ chức lễ cưới vào tháng 1 và 2 theo lịch mặt trăng). Đây là khoảng thời gian đồng bào đã thu hoạch vụ mùa, lương thực, thực phẩm đã đầy đủ, tinh thần thoải mái, họ khao khát cuộc sống lứa đôi, hạnh phúc gia đình.   

            Diễn xướng dân ca trong đám cưới của người Dao Tuyển được thực hiện trong suốt thời gian diễn ra lễ cưới. Nghĩa là từ khi đoàn đón dâu của nhà trai đến nơi nghỉ trạm, kết thúc khi đoàn nhà trai hát cảm ơn và tiễn đoàn đưa dâu nhà gái ra về. Theo qui trình nghi lễ cưới của người Dao Tuyển, dân ca đám cưới được phân thành 12 chặng khác nhau tương ứng với 12 nghi thức trong lễ cưới: Chặng thứ nhất hát vượt “Ải thôn”, chặng thứ hai hát trình Hồng thư, chặng thứ ba hát trong lễ Hồng lạy, chặng thứ tư hát trong lễ bản mệnh, chặng thứ năm hát qua “Ải bố mẹ”, chặng thứ sáu hát trong lễ hợp duyên, chặng thứ bẩy hát trong lễ Chang kiên (nhà gái nhận chú rể và đồng ý cho nhà trai rước dâu), chặng thứ tám hát trong lễ Hỏi Diền (kết thúc nghi lễ hôn nhân ở nhà gái), chặng thứ chín hát mở bình Lạy Éng ca, chặng mười hát trong lễ bái đường Báo tổ trao Bản Mệnh ở nhà trai, chặng mười một hát cảm ơn và chia tay ông Thông Cóng, chặng mười hai Hát cảm ơn và chia tay nhà gái. Như vậy thời gian diễn xướng trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển được diễn ra cả ngày và đêm, diễn xướng vào ban ngày chủ yếu là diễn xướng hỏi đáp các nghi thức cưới, còn diễn xướng vào ban đêm là hát giao duyên của trai gái trong bản, để từ đám cưới đó trai gái người Dao Tuyển kết đôi nên duyên chồng vợ.

 3. Không gian diễn xướng trong đám cưới của người Dao Tuyển

        Khác với sân khấu trong dân ca đám cưới của người Tày chỉ được tổ chức trong gian chính giữa của ngôi nhà trước bàn thờ tổ tiên thì sân khấu trong dân ca đám cưới người Dao Tuyển được mở rộng ra từ cổng bản nhà gái “Ải thôn” đến trước bàn thờ gia tiên nhà trai. Đây thực sự là một sân khấu dân gian mang tính đặc sắc của tộc người bởi cuộc sống của người Dao gắn liền với không gian núi rừng và các tín ngưỡng dân gian nên các lời bài hát thường đan xen giữa tín ngưỡng và yếu tố nghệ thuật. Người trình diễn và người xem được coi như là nghệ sĩ và khán giả. Sự tham gia nhiệt tình của các nghệ sĩ và khán giả chính là động lực lớn tác động tới tâm lý của những người diễn xướng, tạo nên môi trường diễn xướng đặc thù của người Dao Tuyển.

      Nếu trong dân ca lễ cưới của người Cơtu, người diễn xướng và người hát đương cuộc (bố vợ và con rể) thống nhất với nhau làm một; Dân ca trong lễ cưới của người Tày (thơ lẩu) thì người diễn xướng là quan làng, giả lặp và các phù rể (bên nhà trai) còn về phía bên nhà gái thì gồm có các pả mẻ, các phù dâu và bạn gái của cô dâu. Còn dân ca trong lễ cưới của người Dao Tuyển thì người diễn xướng đã bắt đầu tách khỏi các vai trò chính trong sinh hoạt hôn lễ mà chỉ còn đóng vai trò trung gian qua nhân vật ông mối (bên nhà trai), thầy cúng phụ, phù dâu lớn, phù dâu bé (bên nhà gái).

      Trên cơ sở khảo sát công trình “Đám cưới người Dao Tuyển” của tác giả Trần Hữu Sơn, các bài hát được diễn xướng trong đám cưới của người Dao Tuyển gồm 43 bài hát được sắp xếp theo trình tự từ lúc nhà trai đến “Ải thôn” đón dâu và kết thúc các nghi thức khi nhà trai tiễn đoàn đưa dâu nhà gái ra về, trong đó hình thức hát đối đáp mang tính chủ đạo. Dân ca trong lễ cưới của người Dao Tuyển thực chất là cuộc hát đối đáp “đây là một bước phát triển của thể loại hát đối đáp trai gái ở một tầng bậc cao hơn bởi giá trị thực hành xã hội của nó… Nếu mục đích của hát đối đáp trai gái là nhằm thúc đẩy sự kết giao giữa nam và nữ thì mục đích của hát đối đáp trong lễ cưới là để khẳng định sự kết giao đó”(6). Có thể nói, hát đối đáp là một trong những đặc trưng sinh hoạt dân ca đám cưới của người Dao Tuyển. Hệ thống các bài hát như: Hát ở các cửa ải, hát trong lễ hợp duyên, hát đưa dâu về nhà trai… đều được xây dựng theo kết cấu này. Không gian diễn xướng trong đám cưới của người Dao Tuyển là không gian rộng có sự kết hợp chặt chẽ với không gian tự nhiên. Không gian tự nhiên trong lễ cưới người Dao Tuyển là bất định (không ổn định, có sự thay đổi), vô thủy, vô chung nhưng khi lấy con người làm chủ thể, làm tâm điểm, không gian được phản chiếu qua cách nhìn nhận của con người, lúc này không gian có kích thước, được xác định rõ ràng và có tính đặc thù riêng. Đó được coi là không gian văn hóa để diễn xướng dân ca đám cưới của người Dao Tuyển tồn tại đến ngày nay.

 4. Quá trình diễn xướng dân ca trong đám cưới của người Dao Tuyển

       Theo phong tục thầy cúng nhà gái là người hát trước và ông mối nhà trai phải ứng đối sao cho khéo để đáp được những lời ướm hỏi của nhà gái đưa ra. Chẳng hạn trong lễ rước dâu, nhà trai muốn đón được cô dâu, ngoài việc hát đối đáp qua “Ải thôn” thì nhà trai còn phải hát đối đáp vượt qua hàng rào các cô gái trong thôn, dâng lễ vật cưới, dâng trầu cau, qua “Ải bố mẹ”… mới được vào trong nhà làm lễ xin dâu. Khi nhà trai đến Ải bố mẹ thầy cúng cùng một số người lớn tuổi của nhà gái đã có mặt tại cửa ải, khi đó thầy cúng hát rằng:“Ải trấn quan trường thành vạn lý/ Đây là đâu, quân tử động binh?/ Người đẹp, biển xanh quân vui hát/ Chẳng dong quan tướng nhiễu loạn hành”  ông mối đáp: “Dưới trướng tam quan thành hoàng điện/ Chư vị linh hùng khẽ dạy rõ/ Đoàn ở Bính Châu đi đường hoa/ Chính theo ngày trước, động thế kinh ”. Thầy cúng hát tiếp: “Một khối đoàn viên thày nào chia?/ Vua nào phá vỡ hiểu linh ra?/ Mấy khí quang sinh đường dân hóa? Ai quy phép tắc dân thái bình”, ông mối lại đáp: “Một bọc đoàn viên chưa mở quá/ Hồng Mong phá vỡ để dân ra/ Năm khí sáng tràn đã thành tựu/ Linh Bảo trị thế giới thái bình”, nếu ông mối nhà trai đáp được như vậy thì cả đoàn đón dâu vượt qua được “Ải bố mẹ”, còn nếu không, nhà trai phải trả cho nhà gái mỗi người một đôi đồng xèng mới vượt được qua ải. Sau khi nhà trai qua được “Ải bố mẹ”, nhà gái cử ba ông tam phẩm ra đón tiếp (còn nếu không thì người ra đón nhà trai không phải là ba ông tam phẩm mà là một trong hai ông bà đại diện của nhà gái sẽ ra đón). Ba ông Tam phẩm cất lời hát: “Điện nào Tam phẩm tôn đài theo?/ Thầy nào cho phép việc hôn hợp/ Phủ nào thu mấy phần báu vật/ Lương lộc ứng cấp đế nào thu”, ông mối đáp: “Nước thành trời vận, đất tải phúc/ Trời mở cửa truyền cho tiên ông/ Hòa hợp se duyên Chu Công tạo/ Đổi mệnh chiếu duyên đời đời truyền”. Hát đối đáp xong, nhà trai trao lễ vật rước dâu vừa trao lễ vật ông mối vừa hát: “Thận trọng cáo trình quan trấn ải (ba ông nhà gái)/ Chúng em xin thành thực tỏ bày/ Nguyên do nhà trai đi cầu phúc/ Làm theo hồng điệp trước đưa rồi”, thầy cúng đáp lời: “Cửa mở rồi, mọi việc cũng xong/ Cho qúy  ông đến nơi cần ngự/ Đấng quân tử thuận đường hành hóa/ Chúc công thuyền lục hợp xong xuôi”. Nhà gái đem đến một cái khay phủ vải đỏ để nhà trai đặt hồng thư và lễ vật xin dâu, ông mối dâng lễ vật xin dâu cho ba ông Tam phẩm và hát: “Phẩm tiến vào mâm đẹp dung nhan/ Nghi tiết theo thư làm việc cưới”. Dứt lời hát, thầy cúng chính làm lễ báo cáo tổ tiên xin cắt khẩu cho cô dâu về nhà chồng, nghi thức cắt khẩu được diễn ra dưới sự chứng kiến của nhà trai và họ hàng nhà gái, điều này có nghĩa từ nay cô dâu sẽ sống làm dâu, chết làm ma nhà chồng. Nghi lễ cắt khẩu cho cô dâu xong, phù dâu lớn vào buồng dẫn cô dâu được trùm khăn kín mặt ra đứng cạnh chú rể làm lễ bái đường. Bái đường xong ông mối xin phép được đón dâu về bên nhà trai.                                 

Nội dung các bài dân ca đám cưới đều chú ý đến việc đối thanh, đối ý sao cho chuẩn. Vì thế, người hát phải cố gắng đối đáp sao cho khéo, đúng với ý của bạn hát đồng thời phải phù hợp với diễn trình của đám cưới. Khi tiếng hát của ba ông Tam phẩm vừa dứt thì tiếng hát của ông mối nhà trai sẽ cất lên, cứ như vậy cho đến khi lễ cưới kết thúc, ba ông Tam phẩm thường hát những lời ca thể hiện sự khiêm tốn, trân trọng còn ông mối nhà trai bao giờ cũng hát những lời thể hiện sự lịch sự, khéo léo và ca ngợi nhà gái. Như vậy, những lời hát trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển là những lời hát đối để tạo ra một cảm xúc hòa hợp, thắt chặt mối quan hệ giữa hai họ.

       Diễn xướng dân ca  trong lễ cưới của người Dao Tuyển còn có những yếu tố phụ trợ khác như: động tác, cử chỉ, điệu bộ, nét mặt (hay còn gọi đó là những yếu tố phi ngôn ngữ) để làm tăng tính biểu cảm cho làn điệu dân ca. Các động tác, cử chỉ, điệu bộ đơn giản, dễ làm, phù hợp với nội dung bài dân ca, cũng là một phần không thể thiếu trong dân ca đám cưới. Theo quan sát của chúng tôi, khi hát ông mối thường làm một số động tác đơn giản để phụ họa cho lời hát như: cung kính hơi cúi đầu về phía trước chắp tay để trước ngực chào, đưa tay mời chào, cách nói thưa gửi, cũng có khi người hát lắc lư thân mình theo âm điệu của bài hát hoặc vừa hát vừa múa kèn pí lè… Những động tác ấy của người diễn xướng gây được chú ý, thiện cảm, thể hiện được thái độ tôn trọng, thân tình với khách. Tất nhiên, hiệu quả hỗ trợ của nó đạt được đến mức độ nào thì còn phải phụ thuộc cả vào khả năng “nhập vai”, tài đối đáp của người diễn xướng. Theo khảo sát thực địa chúng tôi thấy ông mối Đặng Văn Định, 47 tuổi, xã Bản Phiệt, Thầy cúng Đặng A Cao 78 tuổi, Bản Phong - Bảo Thắng – Lào Cai họ được coi là những nghệ nhân dân gian thực sự bởi họ ứng tác rất nhanh đồng thời họ am hiểu nhiều phong tục tập quán của người Dao Tuyển. Khi chúng tôi ngỏ ý muốn được nghe lại một vài lời đối đáp dân ca trong lễ cưới của người Dao Tuyển, mặc dù thầy cúng Đặng A Cao tuổi đã cao nhưng ông vẫn say sưa hát cho chúng tôi nghe. Qua cuộc nói chuyện cùng ông chúng tôi biết ông luôn trăn trở làm sao để các bài dân ca của dân tộc mình ngày càng được thế hệ trẻ biết và phổ biến rộng rãi hơn. Ông nói: “xã đã lập đội văn nghệ dân gian, thanh niên trong xã rất thích tham gia vào đội văn nghệ, vừa biết thêm được văn hóa dân tộc, vừa được giao lưu học hỏi”. Mong muốn giữ gìn, phát huy được bản sắc dân tộc mình, ông không tiếc thời gian công sức để dạy cho thanh niên cách thực hành các bài hát trong các nghi lễ với mong muốn tín ngưỡng văn hóa dân gian của dân tộc mình sẽ được thế hệ trẻ lưu truyền và gìn giữ trong đời sống văn hóa.

5. Nghệ thuật diễn xướng dân ca trong đám cưới của người Dao Tuyển

      Diễn xướng thơ ca dân gian của các dân tộc thiểu số nói chung và dân ca trong lễ cưới của người Dao Tuyển nói riêng, âm nhạc là một yếu tố phụ trợ nhưng không thể thiếu được trong mỗi cuộc hát. Nếu diễn xướng trong hát lượn, hát then của người Tày các nhạc cụ được sử dụng để tạo âm nhạc cho cuộc hát là đàn tính, sáo, trống, bộ xóc… trong đám cưới của người Mèo nhạc cụ được sử dụng chủ yếu là khèn thì trong đám cưới của người Dao Tuyển các khúc hát được diễn ra trên một nền nhạc với những nhạc cụ truyền thống của dân tộc như: Kèn pí lè, trống dẹt, chiêng nhỏ. Tiếng hát của họ vừa là ngôn ngữ giao tiếp, vừa là cách để bày tỏ tình cảm, gửi gắm yêu thương, tiếng hát ấy được kết hợp với kèn pí lè, trống, chiêng tạo nên một nét đặc sắc riêng vui nhộn, náo nhiệt trong lễ cưới của người Dao Tuyển.

       Về làn điệu, nếu như trong dân ca đám cưới của người Tày nội dung các lời ca được đặt theo bốn làn điệu khác nhau thì trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển chỉ cấu trúc theo một làn điệu là: Mở - Tiếp diễn – Đóng. Ví dụ khi nhà trai đến, bao giờ nhà gái cũng hát hỏi nhà trai rằng: “Nhà trai lên đường hợp mấy chữ/ Mấy chữ là âm, ,mấy chữ dương/ Có nghe chuyện gì truyền từ cổ/ Tới đông cầu vợ ai lái thuyền”, với những lời hát như vậy thường thì ông mối nhà trai sẽ Mở bằng Hà…tái…à xong đến những lời hát trích trên để Tiếp diễn cuộc hát, khi hát xong lời bài hát ông mối sẽ đóng bằng i…a…hồ…hà. Qua tìm hiểu chúng tôi thấy rằng thông thường các ông mối khi hát thường Mở bằng âm nào thì Đóng lại bằng âm đó. Theo khảo sát thể thơ trong dân ca lễ cưới của người Dao Tuyển là thể thơ cổ phong 7 chữ ( thể thơ truyền thống của dân tộc Dao). Trong thơ cổ phong người ta chia ra làm hai loại - đó là cổ phong ngũ ngôn (năm lời) và cổ phong thất ngôn (bẩy lời). Vì vậy, mà thơ cổ phong có thể dài, ngắn khác nhau, những bài thơ ngắn người ta gọi là đoản thiên và những bài được viết dài gọi là trường thiên. Số câu trong thể thơ cổ phong cũng không tuân theo qui định cụ thể, đoản thiên có thể là bốn câu, sáu câu, tám câu cũng có khi trên mười câu; còn trường thiên là những bài thơ dài nghiêng về trần thuật, hoặc biểu cảm trước một đề tài dài, diễn biến liên tục; vì thế thường được sắp xếp thành từng phần có cấu trúc mạch lạc, rõ ràng.

        Theo nhà nghiên cứu Trần Hữu Sơn thì về cơ bản kết cấu âm nhạc của dân ca đám cưới người Dao Tuyển , giai điệu chủ yếu tiến hành “quãng Là – Rê = Quãng 4 đúng tự nhiên…thang âm cơ bản (Là – Đô-   Rê)… hai âm Là và Đô có cao độ ổn định, còn âm Rê có độ dung sai nhất định”(7). Tuy nhiên kết cấu âm nhạc này không phải lúc nào cũng được sử dụng mà đôi khi nó bị thay đổi cho phù hợp với môi trường, nội dung diễn xướng theo lối tự phát của những người diễn xướng trong cuộc đối đáp.

Trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển mỗi một điệu ca trong từng nghi lễ có những tác động riêng về mặt tình cảm, nhận thức. Ở mỗi điệu ca khi được hát lên lại  mang những cảm xúc, những tâm sự khác nhau. Khi bắt đầu cuộc hát, nhà trai, nhà gái thường hát những bài hát để hỏi han, mời chào thì giọng điệu trong các điệu ca thường khoan thai, chậm đều; còn khi hát để vượt qua các cửa ải thì chuyển sang giọng vui tươi, thậm chí có pha chút bông đùa bắt buộc bên hát đối phải ứng tác tốt để vượt qua cửa ải; trọng tâm của đám cưới chính là khi thực hiện các nghi lễ, lúc này các lời ca thường được hát với giọng điệu thủ thỉ, chậm rãi, trầm lắng, trang trọng; nhưng khi hát dặn dò, tiễn đoàn đưa dâu nhà gái trở lại nhà thì các lời ca trở nên êm đềm, da diết. Cho dù hát với giọng điệu nhanh hay chậm, vui tươi hay da diết thì tất cả các lời ca trong đám cưới người Dao Tuyển chỉ thuộc một làn điệu âm nhạc duy nhất. Nhà nghiên cứu Tô Ngọc Thanh nhận xét “làn điệu âm nhạc này không chỉ dùng trong lễ cưới người Dao Tuyển mà còn dùng cho tất cả mọi thể loại âm nhạc của người Dao nói chung”(8). Phải chăng sự giống nhau về làn điệu trong mọi thể loại âm nhạc của người Dao Tuyển xuất phát từ môi trường sống, lao động sản xuất, phong tục tập quán, sinh hoạt văn hóa của họ. Như vậy, việc sử dụng một làn điệu duy nhất trong dân ca đám cưới của người Dao Tuyển không chỉ chú ý đến nội dung lời hát mà còn có sức lay động tới tâm tư tình cảm của những người tham gia cuộc hát, tạo ra được một hiện tượng đặc biệt thú vị và vô cùng độc đáo trong đám cưới người Dao Tuyển. Nó lý giải được vì sao dân ca đám cưới của người Dao Tuyển là một hình thức văn nghệ quần chúng đặc sắc, không thể thiếu trong đám cưới truyền thống.

       Dân ca đám cưới của người Dao Tuyển phản ánh nhiều mặt trong đời sống văn hóa như: phong tục tập quán, tình cảm, tâm hồn, tính cách, những phẩm chất tốt đẹp, những quan niệm về hôn nhân gia đình truyền thống của họ, góp phần tô đậm bản chất văn hóa đặc sắc của đồng bào, làm nên diện mạo riêng, độc đáo của tộc người. Vì thế, dân ca đám cưới giữ một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của người Dao Tuyển, nó vừa là những tác phẩm nghệ thuật, vừa là những tri thức dân gian hướng dẫn thực hành nghi lễ.

        Thông qua việc nghiên cứu diễn xướng dân ca trong lễ cưới của người Dao Tuyển, chúng ta thấy hầu hết các phong tục tập quán truyền thống của đồng bào về cưới xin còn được bảo lưu, gìn giữ, trọn vẹn trong dân ca để từ đó bất cứ người Dao Tuyển nào khi thuộc các bài dân ca nghi lễ, biết chữ Nôm Dao, có pháp danh, có uy tín trong bản cũng có thể thực hành được các nghi thức cưới hỏi. Dân ca đám cưới được người Dao Tuyển trân trọng, gìn giữ và yêu mến bởi sự độc đáo trong nghệ thuật diễn xướng. Nghệ thuật diễn xướng trong dân ca đám cưới được phản ánh thông qua: thời gian, không gian, âm nhạc, làn điệu, lối hát đối đáp… tất cả những yếu tố đó tạo ra sự khác biệt với dân ca đám cưới của các tộc người khác.

 


(1) Hoàng Phê: Từ điển tiếng Việt. Nxb. Khoa học xã hội, H., 1998, tr.85.

(2) Nguyễn Hữu Thu: Diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu. In trong kỷ yếu Hội nghị khoa học chuyên đề: Mối quan hệ diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu, Viện Nghệ thuật, Bộ Văn hóa, H., 1997, Tr. 56-58.

(3) Hoàng Tiến Tựu: Góp phần xác định khái niệm diễn xướng dân gian và tìm hiểu những yếu tố có tính chất kịch. In trong kỷ yếu Hội nghị khoa học chuyên đề: Mối quan hệ diễn xướng dân gian và nghệ thuật sân khấu, Viện Nghệ thuật, Bộ Văn hóa, H., 1997, Tr. 64-67.

(4), (5) Nhiều tác giả: Folklore thế giới một số công trình nghiên cứu cơ bản. Nxb. Khoa học xã hội, H., 2005, tr. 744-745.

(6) Trần Hữu Sơn: Đám cưới người Dao Tuyển. Nxb. Thanh niên, 2011, tr.110.

(7) Trần Hữu Sơn: Đám cưới người Dao Tuyển. Nxb. Thanh niên, 2011, tr.103.

(8) Trần Hữu Sơn: Đám cưới người Dao Tuyển. Nxb. Thanh niên, 2011, tr.103.

 

Nguồn: Bài viết do tác giả cung cấp, đã công bố trên Tạp chí Nguồn sáng dân gian, số 2 (51)/ 2014.

Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1